Óng tre ngà và mềm mại như tơ
(Tiếng Việt – Lưu Quang Vũ)
Tìm và gọi tên thành phần biệt lập trong đoạn thơ trên. Cho biết thành phần ấy được dùng để làm gì trong đoạn thơ?
Câu 3: (3 điểm)
Trong loạt bài trên báo Tuổi trẻ chủ nhật bàn về thế hệ gấu bông có đề cập hai hiện tượng:
1. Một
cô bé mười lăm tuổi, được mẹ chở đi đánh cầu lông. Xe hai mẹ con bị va
quẹt, đồ đạc trên xe văng tung tóe. Người mẹ vội vàng gom nhặt, vài
người đi đường cũng dừng lại phụ giúp còn cô bé thờ ơ đứng nhìn. Đợi mẹ
nhặt xong mọi thứ, cô bé leo lên xe và thản nhiên dặn: “Lát về mẹ nhớ
mua cho con li chè!”.
2. Một cậu
học sinh khi được hỏi về ca sĩ nổi tiếng mà cậu hâm mộ, cậu đã trả lời
rất rành mạch về cách ăn mặc, sở thích của ca sĩ đó. Nhưng khi được hỏi
về nghề nghiệp, sở thích của cha mẹ cậu, cậu ta ấp úng, không trả lời
được.
Là người con trong gia đình, em hãy trình bày suy nghĩ về hai hiện tượng trên qua một bài văn ngắn (khoảng 01 trang giấy thi).
Câu 4: (5 điểm)
Hãy
chọn và phân tích một hoặc hai khổ thơ trong các bài thơ của chương
trình văn học Việt Nam hiện đại lớp 9 để nêu bật vẻ đẹp con người Việt
Nam.
Câu 1:
Truyện Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê được trần thuật từ nhân
vật Phương Định, cô thanh niên xung phong làm công tác trinh sát mặt
đường trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ. Ngôi kể nói trên có tác dụng
làm cho giọng kể có tính chất tự nhiên, thoải mái, trẻ trung, phù hợp
với đặc điểm của nhân vật. Ngoài ra, chọn ngôi kể như thế sẽ làm tăng
tính chất thuyết phục của tác phẩm (câu chuyện được kể từ người trong
cuộc) và thể hiện sống động tâm hồn nhạy cảm, lãng mạn của những cô gái
thanh niên xung phong trên đường Trường Sơn trong thời chống Mỹ, nhất là
của nhân vật chính : Phương Định.
Câu 2: Thành
phần biệt lập trong đoạn thơ trên thể hiện ở từ “Ôi”. Đây là thành phần
cảm thán. Trong đoạn thơ nó được sử dụng để biểu hiện cảm xúc (lòng yêu
mến) của nhà thơ đối với tiếng Việt.
Câu 3:
Học sinh có thể làm nhiều cách khác nhau miễn là có đủ một số ý theo quy định. Sau đây là một cách làm cụ thể:
• Mở
bài: Đặt vấn đề: Sự vô tâm của thế hệ gấu bông đã làm giật mình các bậc
cha mẹ. Hai hiện tượng mà báo Tuổi trẻ Chủ nhật đã nêu là khá phổ biến.
Đó cũng là thể hiện của sự suy tàn về chữ hiếu và vi phạm nghiêm trọng
đạo đức con người Á Đông. Hai hiện tượng trên như một lời cảnh tỉnh đối
với bổn phận làm con của chúng ta.
• Thân bài:
+ Biểu
hiện: Giải thích nội dung của hai hiện tượng trên nói lên sự vô tâm của
thế hệ trẻ đối với những người thân yêu nhất, có công nuôi dưỡng và bảo
bọc chúng ta từ khi mới sinh ra – đó là cha mẹ, ông bà, thầy cô giáo,
...Hình ảnh một em bé thờ ơ khi mẹ đi nhặt đồ và hồn nhiên nói: “Lát về
mẹ nhớ mua cho con li chè!” cũng như hình ảnh một cậu học sinh rất rành
về sở thích của ca sĩ cậu yêu thích mà chẳng biết gì về sở thích, nghề
nghiệp, tâm trạng và niềm đau của bố mẹ mình. Điều đó đã tạo nên sự phản
cảm mạnh mẽ trong tâm hồn người đọc.
+ Nguyên nhân:
_ Giới trẻ thường chỉ quan tâm tới cuộc sống và sở thích của mình, đó là một trong những biểu hiện của thói ích kỉ.
_ Bậc cha mẹ thiếu sâu sát, thiếu quan tâm đúng mực đến hành vi, sở thích và nhân cách của con.
_
Nhà trường và xã hội thiếu phương pháp giáo dục đúng mực, thiếu những
hoạt động để rèn luyện nhân cách của học sinh và gắn kết con cái với cha
mẹ.
_ Nhà trường và gia đình còn thờ ơ với việc giáo dục cẩn
trọng về đạo đức làm người và những đức tính như: hiếu thảo, lòng biết
ơn, lòng nhân ái, tính vị tha, khả năng chia sẻ với những người thân
yêu, ...
+ Hậu quả:
- Nếu không khắc phục
được những hiện tượng này, xã hội càng ngày càng trở nên băng hoại về
đạo đức và sự vô cảm càng ngày càng trở nên phổ biến.
- Những
hiện tượng trên là nhát dao cứa vào lương tâm của những người Việt Nam
có đạo đức, là nỗi đau dai dẳng cho thế hệ cha anh.
- Những hiện
tượng trên là sự xói mòn về đạo đức, là sự chạy theo những nét đẹp phù
phiếm và hư ảo, bỏ quên những nét đẹp chân thật và những tình cảm thiêng
liêng.
+ Cách khắc phục:
- Chủ quan: bản thân mỗi con
người phải ý thức về trách nhiệm của mình đối với gia đình và xã hội,
rèn luyện lòng nhân ái, lòng vị tha từ những việc nhỏ nhặt nhất.
-
Khách quan: gia đình, nhà trường và xã hội nên chú trọng hơn về việc
giáo dục nhân cách cho học sinh, dạy học sinh biết quan tâm tới những
người thân yêu, gần gũi với mình, dạy học sinh biết cảm nhận vẻ đẹp cùa
lòng vị tha, sự chia sẻ, đồng cảm và lối sống có trách nhiệm.
- Lên án mạnh mẽ lối sống thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm, ích kỉ.
• Kết
bài: Hai hiện tượng trên đã đánh thức lương tâm của những người đã từng
mắc vào những lỗi lầm tương tự. Đó là hồi chuông cảnh tỉnh đối với thế
hệ trẻ nói riêng và đối với tất cả những người Việt Nam.
Câu 4:
Đây là một đề làm văn có tính chất tự do. Nó cho phép người làm bài
được tự do lựa chọn đối tượng để phân tích. Tuy nhiên, người làm bài
phải tôn trọng những giới hạn được quy định trong đề. Thứ nhất, người
làm bài chỉ được phép chọn một hoặc hai khổ thơ (không được hơn hai khổ
thơ hoặc cả bài). Một, hai khổ thơ đó phải ở trong các bài thơ thuộc
chương trình văn học Việt Nam hiện đại lớp 9 (Đồng chí, Bài thơ về tiểu
đội xe không kính, Bếp lửa, Ánh trăng, Đoàn thuyền đánh cá, Mùa xuân nho
nhỏ, Viếng lăng Bác, Sang thu, Nói với con). Thứ hai, các khổ thơ được
chọn phải có nội dung liên quan tới vẻ đẹp của con người Việt Nam. Thứ
ba, khi phân tích, người làm bài phải có ý thức nêu bật được vẻ đẹp của
con người Việt Nam trong một hoặc hai khổ thơ nói trên. Những vi phạm
các yêu cầu nói trên sẽ làm cho bài viết rơi vào tình trạng xa đề, lan
man hoặc lạc đề.
Để có được kết quả tốt, bài viết còn phải có bố
cục rõ ràng. Bài viết không mắc các lỗi về hành văn. Đặc biệt, phải
thực hiện tốt thao tác phân tích một đoạn thơ, phải phân tích những yếu
tố nghệ thuật của thơ để làm rõ giá trị của nó.
Đây là một câu
hỏi làm văn. Cho nên bài viết phải có đủ ba phần : mở bài, thân bài, kết
bài. Trong phần mở bài, nên giới thiệu tác giả, bài thơ và đặc biệt là
một hoặc hai khổ thơ được chọn để phân tích. Trong phần thân bài, cần
giới thiệu vị trí của phần thơ được chọn trong bài thơ, giới thiệu đại ý
của phần thơ được chọn. Sau đó, phân tích và làm rõ vẻ đẹp của con
người Việt Nam trong phần thơ đó. Có thể, nhận xét và đánh giá ý nghĩa
của phần thơ đối với cả bài, đối với đề tài. Cuối cùng, trong phần kết
bài cần tổng kết khẳng định phần thơ thể hiện vẻ đẹp của con người Việt
Nam.
Có thể hình dung vẻ đẹp của con người Việt Nam qua các bài thơ như sau :
- Đồng
chí : vẻ đẹp của tình đồng chí ở những con người xuất thân từ đồng
ruộng, gắn bó với nhau, lạc quan trong cuộc sống chiến đấu gian khổ.
- Bài
thơ về tiểu đội xe không kính : vẻ đẹp của người bộ đội lái xe trên
đường mòn Trường Sơn thời đánh Mỹ : ung dung, lạc quan, khí phách, hiên
ngang coi thường khó khăn gian khổ, yêu thương đất nước và miền Nam ruột
thịt.
- Đoàn thuyền đánh cá : vẻ đẹp của người lao động, của
người ngư dân trong công cuộc lao động xây dựng đất nước (lạc quan, chủ
động, tích cực, hào hùng, đầy ân tình).
- Bếp lửa : vẻ đẹp của
tình bà cháu; vẻ đẹp của người bà, người phụ nữ Việt Nam giàu lòng yêu
thương (gia đình, đất nước), tần tảo hy sinh, chịu thương chịu khó; tấm
lòng biết ơn trân trọng của cháu đối với bà.
- Ánh trăng : vẻ đẹp
của con người Việt Nam thể hiện trong sự gắn bó ân tình của con người
với thiên nhiên, trong lời nhắc nhở phải biết thủy chung, uống nước nhớ
nguồn.
- Mùa xuân nho nhỏ : vẻ đẹp của con người Việt Nam: yêu
thiên nhiên; hăng hái tích cực trong lao động xây dựng đất nước và chiến
đấu bảo vệ tổ quốc; vẻ đẹp của con người nguyện cống hiến cả đời cho
đất nước, nguyện làm một “mùa xuân nho nhỏ” cho đời.
- Viếng lăng Bác : vẻ đẹp của Bác Hồ, “mặt trời trong lăng rất đỏ”; vẻ đẹp của tấm lòng trân trọng, kính yêu đối với Bác Hồ.
- Sang thu : vẻ đẹp của một tâm hồn nhạy cảm trước sự biến chuyển của thiên nhiên trong lúc giao mùa.
- Nói
với con : vẻ đẹp của con người Việt Nam được thể hiện trong lời tâm
tình, nhắn nhủ của người cha đối với con : phải biết yêu quý gắn bó với
gia đình, với quê hương, với đất nước; phải biết tự hào về vẻ đẹp của
truyền thống, của đất nước; phải sống xứng đáng với gia đình, với đất
nước.
Đây là một số gợi ý chung của cả bài. Mỗi phần thơ được
chọn sẽ có nội dung cụ thể. Người làm bài sẽ căn cứ vào phần thơ đó phân
tích để làm rõ vẻ đẹp cụ thể được biểu hiện trong phần thơ.