Đúng là nên phân tích từng bài, sau đó khái quát lại.
* Tràng giang:
- Cổ điển
+ Bút pháp: Bút pháp gợi
+ Ngôn ngữ: Vận dụng sáng tạo những từ ngữ lấy từ thơ cổ: ví dụ “đìu hiu” lấy từ Chinh phụ ngâm, hoạc “đùn” lấy từ thơ Đỗ phủ – Mặt đất mây đùn cửa ải xa, từ “vời” lấy từ Truyện Kiều (Bốn phương mây trắng một màu/ Trông vời cố quốc biết đâu là nhà). Những từ ngữ này gợi nên phong vị cổ điển.
+ Hình tượng/hình ảnh: Có những hình ảnh thường sử dụng trong thơ cổ: thuyền xuôi mái, bờ xanh tiếp bãi vàng, cánh chim trong bóng chiều.
+ Ý thơ: Mượn, sáng tạo ý thơ của người xưa. Ví dụ như: “Sóng gợn...”phảng phất ý thơ Đỗ Phủ trong bài Đăng Cao, hai câu cuối phảng phất ý thơ Thôi Hiệu trong bài đăng cao.
- Hiện đại:
Vẻ đẹp hiện đại lan toả qua các câu chữ sáng tạo, độc đáo của nhà thơ như củi một cành khô", "sâu chót vót", dấu hai chấm thần tình. Nhưng vẻ đẹp ấy đọng lại cuối cùng là tâm trạng nhớ quê hương ngay khi đứng giữa quê hương, nét tâm trạng hiện đại của các nhà tri thức muốn đóng góp sức mình cho đất nước mà đành bất lực, không làm gì được.
*Chiều tối:
Hồ Chí Minh là nhà Cách mạng vĩ đại của dân tộc ta, đồng thời là một
tác gia lớn. Bác để lại một sự nghiệp sáng tác đồ sộ, nổi bật nhất là
tập “Nhật kí trong tù”.Trong số 133 bài thơ của tập nhật kí, “Mộ” là một
bài thơ nhỏ nhắn, xinh xắn, đáng yêu. Đó là bài thơ thứ 31, được sáng
tác vào cuối thu năm 1942, trên con đường từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo, ghi
lại cảnh xóm núi lúc ngày tàn. Đằng sau đó là vẻ đẹp tâm hồn Hồ Chí
Minh. Bài thơ tiêu biểu cho sự kết hợp hài hòa giữa cổ điển và hiện đại.
Điều đó được thể hiện ở một số phương diện: Thi đề, thi liệu, bút pháp, ngôn ngữ, …
Trước
tiên là thi đề. Nội dung trữ tình của bài thơ thuộc về một trong những
đề tài khá quen thuộc trong thơ cổ điển phương Đông đó là hoàng hôn và
nỗi niềm cô đơn. Tuy nhiên, điểm đáng chú ý ở đây là ngay trong thi đề,
Bác đã đưa vào bài thơ những yếu tố hiện đại. Đó là sự chuyển dịch từ
không gian vũ trụ mang tính chất vĩnh viễn, vĩnh hằng đậm màu sắc ước lệ
ở hai câu thơ đầu sang không gian đời thường, mang tính chất sinh hoạt
vừa cụ thể vừa sống động ở hai câu sau, điều mà trong thao tác tư duy
thơ, các nhà thơ trung đại ít khi thể hiện.
Chính sự phá
cách trong việc mở rộng biên độ của đề tài đã chi phối việc sử dụng thi
liệu. Đã có một sự sáng tạo mới về thi liệu mà cụ thể là việc sử dụng
hình ảnh thơ. Ngoài những hình ảnh quen thuộc: vân (cô vân), điểu (quyện
diểu), lâm (quy lâm), sơn (sơn thôn)…là những chất liệu mới: thiếu nữ,
ma bao túc (xay ngô), lô (lò than)… Điều này không chỉ cho thấy tính
hiện đại của bài thơ qua sự vận động của thi tứ mà quan trong hơn, còn
cho thấy tính hiên đại của bài thơ qua quan niệm thẫm mĩ. Đối với Hồ Chí
Minh, khung cảnh sinh hoạt sống động kia mới thực sự là nội dung chính
của bức tranh. Hãy chú ý cách tô đậm các đường nét chính và gam màu chủ
đạo của khung cảnh chiều tối nếu ta nhìn bài thơ từ góc nhìn của hội
họa. Hình ảnh thiếu nữ xay ngô và lò than rực hồng kia không ngẫu nhiên
và cũng không chỉ đóng vai trò của một thứ chất liệu thông thường. Nó
toát lên sức quyến rũ của sự sống, nét duyên dáng, trẻ trung của con
người. Đó là vẻ đẹp của cuộc sống mà tác giả Ngục trung nhất kí luôn lưu
tâm và là một thứ lửa sưởi ấm cõi lòng nhân vật trữ tình của bài thơ.
Vì lí tưởng mà Người theo đuổi, đă từng chấp nhận xa Tổ quốc, quê hương
và sẵn lòng chịu đựng vô vàn những thử thách, gian truân khác trên
chặng đường đấu tranh suốt ba mươi năm…
Tiếp theo, nét
cổ điển và hiện đại của bài thơ Chiều tối cũng được thể hiện khá nổi bật
trong bút pháp.Ta có thể nhận thấy bút pháp gợi tả, chấm phá theo phong
cách vẽ tranh thủy mặc được tác giả sử dụng một cách hiệu quả. Ngay cả
trong khi sử dụng bút pháp chấm phá theo lối cổ điển, tác giả đã để dấu
ấn người nghệ sĩ hiện đại của mình qua thái độ và cảm xúc riêng (khá
trực tiếp) lên tạo vật. Tiếp cận hệ thống hình ảnh cụ thể của bài thơ,
người đọc có thể nhận ra một cách rõ ràng là tác giả không chỉ muốn dừng
lại trong hình ảnh còn chung chung của điểu (một cánh chim) mà muốn cá
biệt hóa bằng nét vẽ quyện điểu (một cánh chim mỏi mệt); cũng không muốn
đơn giản hóa trong một khái niệm là vân mà cố tình tạo thêm những điểm
nhấn cô vân mạn mạn (đám mây đơn lẻ uể oải, chậm chạp trôi)… Sự chia sẻ
về tình cảm và thái độ ngay trong khi sử dụng bút pháp cổ điển ở hai câu
đầu của bài thơ cho thấy sự hiện diện của cái “Tôi” trữ tình và là một
bằng chứng cho thấy Hồ Chí Minh thuộc kiểu mẫu nhà thơ hiện đại. Điều
này càng là một hiển nhiên khi tác giả chuyển từ bút pháp gợi tả, chấm
phá sang bút pháp miêu tả, thực tả.
Cuối cùng, trong sử
dụng ngôn ngữ, màu sắc cổ điển mà hiện đại của bài thơ lại càng rõ với
sự gia tăng và ưu tiên cho động từ và ngôn ngữ thông dụng của bạch thoại
(Bạch thoại tức là ngôn ngữ nói của người Hán; ngôn ngữ viết dựa trên
ngôn ngữ nói ấy; phân biệt với văn ngôn, văn bạch thoại)
Khái quát:
- Giống nhau: (đề tài, thi liệu...)
- Khác nhau: ( "Chiều tối" là sáng tác của một nhà thơ cách mạng..."Tràng giang" là tâm sự của một nhà thơ mới... *