Lưu
ý: Đây thực chất là đề
phân tích tác phẩm bởi vì việc phân tích chung một tác phẩm mục đích cuối cùng
là làm rõ giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm đó.
1.
THUẬT THOÀI – TỎ LÒNG (Phạm Ngũ Lão)
Triều đại nhà Trần (1226-1400) là một
mốc son chói lọi trong 4000 năm dựng nước và giữ nước của lịch sử dân tộc ta.
Ba lần kháng chiến và đánh thắng quân xâm lược Nguyên – Mông, nhà Trần đã ghi
vào pho sử vàng Đại Việt những chiến công Chương Dương, Hàm Tử, Bạch Đằng… bất
tử. Khí thế hào hùng, oanh liệt của nhân dân ta và tướng sĩ đời Trần được các sử
gia ngợi ca là “Hào khí Đông A”. Thơ văn đời Trần là tiếng nói của những anh
hùng – thi sĩ dào dạt cảm hứng yêu nước mãnh liệt. “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc
Tuấn, “Bạch Đằng giang phú” của Trương Hán Siêu.v.v… là những kiệt tác chứa
chan tình yêu nước và niềm tự hào dân tộc. Đặt biệt và nổii bật hơn hết cả là
tác phẩm “Thuật hoài” (Tỏ lòng) của Phạm Ngũ Lão - một danh tướng đời Trần,
trăm trận trăm thắng, văn võ toàn tài. Tác phẩm của ông chỉ còn lại hai bài thơ
chữ Hán: “Thuật hoài” và “Vãn Thượng tướng Quốc công Hưng Đạo Đại vương”.
Bài thơ “Tỏ lòng” thể hiện niềm tự hào
về chí nam nhi và khát vọng chiến công của người anh hùng khi Tổ quốc bị xâm
lăng. Nó là bức chân dung tự hoạ của danh tướng Phạm Ngũ Lão.
“ Hoành sóc giang san
kháp kỉ thu
Tam quân tì hổ khí thôn
ngưu
Nam nhi vị liễu công
danh trái
Tu thính nhân gian thuyết
Vũ Hầu.”
Cầm ngang ngọn giáo (hoành sóc) là một
tư thế chiến đấu vô cùng hiên ngang dũng mãnh. Câu thơ “Hoàng sóc giang sơn
kháp kỷ thu” là một câu thơ có hình tượng kỳ vĩ, tráng lệ, vừa mang tầm vóc
không gian (giang sơn) vừa mang kích thước thời gian chiều dài lịch sử (kháp kỷ
thu). Nó thể hiện tư thế người chiến sĩ thuở “bình Nguyên” ra trận hiên ngang,
hào hùng như các dũng sĩ trong huyền thoại. Chủ nghĩa yêu nước được biểu hiện
qua một vần thơ cổ kính trang nghiêm: cầm ngang ngọn giáo, xông pha trận mạc suốt
mấy mùa thu để bảo vệ giang sơn yêu quý.
Đội quân “Sát Thát” ra trận vô cùng
đông đảo, trùng điệp (ba quân) với sức mạnh phi thường, mạnh như hổ báo (tỳ hổ)
quyết đánh tan mọi kẻ thù xâm lược. Khí thế của đội quân ấy ào ào ra trận.
Không một thế lực nào, kẻ thù nào có thể ngăn cản nổi. “Khí thôn Ngưu” nghĩa là
khí thế, tráng chí nuốt sao Ngưu, làm át, làm lu mờ sao Ngưu trên bầu trời. Hoặc
có thể hiểu : ba quân thế mạnh nuốt trôi trâu. Biện pháp tu từ thậm xưng sáng tạo
nên một hình tượng thơ mang tầm vóc hoành tráng, vũ trụ: “Tam quân tì hổ khí
thôn Ngưu”. Hình ảnh ẩn dụ so sánh: “Tam quân tì hổ…” trong thơ Phạm Ngũ Lão rất
độc đáo, không chỉ có sức biểu hiện sâu sắc sức mạnh vô địch của đội quân “Sát
Thát” đánh đâu thắng đấy mà nó còn khơi nguồn cảm hứng thơ ca; tồn tại như một
điển tích, một thi liệu sáng giá trong nền văn học dân tộc:
“Thuyền bè muôn đội;
Tinh kỳ phấp phới
Tỳ hổ ba quân, giáo gươm sáng
chói…”
(Bạch Đằng giang phú)
Người chiến sĩ “bình Nguyên” mang theo
một ước mơ cháy bỏng: khao khát lập chiến công để đền ơn vua, báo nợ nước. Thời
đại anh hùng mới có khát vọng anh hùng! “Phá cường địch, báo hoàng ân” (Trần Quốc
Toản) – “Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo” (Trần Thủ Độ). “…Dẫu
cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng
cam lòng” (Trần Quốc Tuấn)… Khát vọng ấy là biểu hiện rực rỡ những tấm lòng
trung quân ái quốc của tướng sĩ, khi tầng lớp quý tộc đời Trần trong xu thế đi lên
đang gánh vác sứ mệnh lịch sử trọng đại. Họ mơ ước và tự hào về những chiến
tích hiển hách, về những võ công oanh liệt của mình có thể sánh ngang tầm sự
nghiệp anh hùng của Vũ Hầu Gia Cát Lượng thời Tam Quốc. Hai câu cuối sử dụng một
điển tích (Vũ Hầu) để nói về nợ công danh của nam nhi thời loạn lạc, giặc giã:
“Công danh nam tử còn
vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện
Vũ Hầu”
Từ “công danh” mà Phạm Ngũ Lão nói đến
trong bài thơ là thứ công danh được làm nên bằng máu và tài thao lược, bằng
tinh thần quả cảm và chiến công. Đó không phải là thứ “công danh” tầm thường, đậm
màu sắc anh hùng cá nhân. Nợ công danh như một gánh nặng mà kẻ làm trai nguyện
trả, nguyện đền bằng xương máu và lòng dũng cảm. Không chỉ “Luống thẹn tai nghe
chuyện Vũ Hầu”, mà tướng sĩ còn học tập binh thư, rèn luyện cung tên chiến mã,
sẵn sàng chiến đấu “Khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu
Nghệ có thể bêu được đầu Hốt Tất Liệt ở cửa Khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở
Cảo Nhai,…” để Tổ quốc Đại Việt được trường tồn bền vững: “Non sông nghìn thuở
vững âu vàng” (Trần Nhân Tông).
“Thuật hoài” được viết theo thể thơ thất
ngôn tứ tuyệt. Giọng thơ hùng tráng, mạnh mẽ. Ngôn ngữ thơ hàm súc, hình tượng
kỳ vĩ, tráng lệ, giọng thơ hào hùng, trang nghiêm, mang phong vị anh hùng ca.
Nó mãi mãi là khúc tráng ca của các anh hùng tướng sĩ đời Trần, sáng ngời “hào
khí Đông-A”.
2. CẢNH NGÀY HÈ (Nguyễn
Trãi)
Nguyễn Trãi (1380 -1442) là đại thi
hào dân tộc, người anh hùng cứu quốc thuở “Bình Ngô”, danh nhân văn hoá Đại Việt.
Thơ chữ Hán cũng như thơ chữ Nôm của Nguyễn Trãi đẹp đẽ, sâu sắc, biểu tượng
cao quý của nền văn hiến Việt Nam.
“Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi hiện
còn 254 bài thơ, được chia nhiều loại, nhiều thể tài khác nhau: Ngôn chí (21
bài), Thuật hứng (25 bài), Tự thán (41 bài), Báo kính cảnh giới (61 bài) .v.v…
Phần lớn các bài thơ trong “Quốc âm thi tập” không có nhan đề. Đây là bài thơ số
43 trong “Bảo kính cảnh giới”. Các bài thơ trong “Bảo kinh cảnh giới” hàm chứa
nội dung giáo huấn trực tiếp, nhưng bài thơ này rất đậm đà chất trữ tình, cho
ta nhiều thú vị.
Mở đầu bài thơ là câu lục ngôn nói lên
một cảnh sống của thi nhân. Câu thơ bình dị như một lời nói vui vẻ, thoải mái,
hồn nhiên:
“Rồi
hóng mát thuở ngày trường”
Đằng sau vần thơ là hình ảnh một cụ
già, tay cầm quạt giấy “Hài cỏ dẹp chân đi đủng đỉnh – Áo bô quen cật vận xềnh
xoàng” đang đi dạo mát. Lúc bấy giờ, Ức Trai không bị ràng buộc bởi vòng “danh
lợi” nữa, mà đã được vui thú nơi vườn ruộng, làm bạn với cây cỏ, hoa lá nơi quê
nhà. “Ngày trường” là ngày dài. “Rồi” là tiếng cổ, nghĩa là rỗi rãi, thong thả,
nhàn hạ, cả trong công việc lẫn tâm hồn. Câu thơ phản ánh một nếp sinh hoạt
nhàn nhã: trong buổi ngày dài rỗi rãi, lấy việc hóng mát làm niềm vui di dưỡng
tinh thần. Ta có thể phán đoán Ức Trai viết bài thơ này khi ông đã lui về Côn
Sơn ở ẩn.
Năm câu thơ tiếp theo tả cảnh hè làng
quê Việt Nam xa xưa. Các câu 2, 3, 4 nói về cảnh sắc, hai câu 5, 6 tả âm thanh
chiều hè. Cảnh sắc hè trước hết là bóng hòe, màn hòe. Lá hòe xanh thẫm, xanh lục.
Cảnh hòe sum sê, um tùm, lá “đùn đùn” lên thành chùm, thành đám xanh tươi, tràn
đầy sức sống:
“Hòe
lục đùn đùn tán rợp giương”
Tán hòe tỏa bóng mát, che rợp sân,
ngõ, vườn nhà, “giương” lên như chiếc ô, chiếc lọng căng tròn. Mỗi từ ngữ là một
nét vẽ màu sắc tạo hình gởi tả sức sống của cảnh vật đồng quê trong những ngày
hè: lục, đùn đùn, tán, rợp giương. Ngôn ngữ thơ bình dị, hàm súc và hình tượng.
Cây hòe vốn được trồng nhiều ở làng
quê: vừa làm cảnh, vừa cho bóng mát. Hòe nở hoa vào mùa hè, màu vàng, làm dược
liệu, làm chè giải nhiệt. Trong văn học, cây hòe thường gắn liền với điển tích
“giấc hòe” (giấc mộng đẹp), “sân hòe” (chỉ nơi cha mẹ ở ). Truyện Kiều có câu:
“Sân
hòe đôi chút thơ ngây
Trân
cam ai kẻ đỡ thay việc mình”.
Trong thơ Ức Trai, hình ảnh cây hòe xuất
hiện nhiều lần được miêu tả bằng một thứ ngôn ngữ trau chuót, đậm đà:
“Có
thuở ngày hè trương tán lục,
Đùn
đùn bóng rợp cửa tam công”.
Câu tiếp theo nói về khóm thạch lựu ở
hiên nhà trổ hoa rực rỡ:
“Thạch
lựu hiên còn phun thức đỏ”.
Thức tiếng cổ chỉ màu vẻ, dáng vẻ.
Trong cành lá xanh biếc, những đóa hoa lựu như chiếc đèn lồng bé tí phóng ra,
chiếu ra, “phun” ra những tia lửa đỏ chói, đỏ rực. Chữ “phun” được dùng rất
hình tượng và thần tình.
“Truyện
Kiều” cũng có câu:
“Đầu
tường lửa lựu lập lòe đơm bông”
Từ hoa lựu “phun thức đỏ”, đến hình ảnh
“đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông” là cả một quá trình sáng tạo ngôn ngữ thi
ca của các thế hệ thi sĩ dân tộc qua 5 thế kỷ từ “Quốc âm thi tập” đến “Truyện
Kiều”. Vẻ đẹp ngôn ngữ thi ca được trau chuốt như ngọc quý sẽ ánh lên màu sắc
huyền diệu là như thế đó!
“Hồng
liên trì đã tiễn mùi hương.
“Tiễn” là ngát (tiếng cổ). Sen hồng nở
thắm ao làng, hương thơm tỏa ngát. Sen là biểu tượng cho cảnh sắc mùa hè làng
quê ta. Sen trong ao làng đã “tiễn mùi hương” gợi không cảnh làng quê thanh
bình, không khí thanh cao thoát tục. Nguyễn Trãi đã chọn hòe, thạch lựu, sen hồng
(hồng liên) để tả và đưa vào thơ. Cảnh sắc ấy vô cùng xinh đẹp và bình dị. Nhà
thơ đã gắn tâm hồn mình với cảnh vật mùa hè bằng một tình quê đẹp và cảm nhận vẻ
đẹp của nó bằng nhiều giác quan.
Hè rất đẹp, rộn ràng trong khúc nhạc
làng quê. Ngoài tiếng cuốc tiếng chim tu hú, tiếng sáo diều còn có tiếng ve, tiếng
cười nói “lao xao” của đời thường:
Hai câu luận gợi tả thêm cho ta biết về
cảnh sắc ngày hè qua ngòi bút tinh tế của Nguyễn Trãi
“Lao
xao chợ cá làng ngư phủ,
Dắng
dỏi cầm ve lầu tịch dương”
Sau khi tả hòe màu “lục”, lựu “phun thức
đỏ”, sen hồng đã “tiễn mùi hương”, nhà thơ nói đến âm thanh mùa hè, khúc nhạc đồng
quê. Tiếng “lao xao” từ một chợ cá làng chài xa vọng đến, đó là tín hiệu cuộc đời
dân đã đầy muối mặn và mồ hôi. Nhà thơ lắng nghe nhịp sống đời thường ấy với
bao niềm vui. “Lao xao” là từ láy tượng thanh gợi tả sự ồn ào, nhộn nhịp. Hòa
điệu với tiếng lao xao chợ cá là tiếng ve vang lên rộn rã, nhịp nhàng. “Cầm
ve”, hình ảnh ẩn dụ, tả âm thanh tiếng ve kêu như tiếng đàn cầm. “Dắng dỏi”
nghĩa là inh ỏi, âm sắc tiếng ve trầm bổng, ngân dài vang xa. Ngôi lầu buổi xế
chiều trở nên náo động rộn ràng. Nhà thơ lấy tiếng ve để đặc tả khung cảnh một
chiều hè làng quê lúc hoàng hôn buông dần xuống mái lầu (lầu tịch dương) là một
nét vẽ tinh tế đầy chất thơ làm nổi bật cái không khí êm ả một chiều hè nơi
thôn dã:
“Dắng
dỏi cầm ve lầu tịch dương”
Trở về “Côn sơn quê cũ” Ức Trai đã từng
bồi hồi “trong tiếng cuốc kêu xuân đã muộn”, giờ đây ông lại thả hồn mình trong
khúc ca dân dã “cầm ve” buổi chiều tà cuối hè. Tiếng ve lúc hoàng hôn thường gợi
nhiều bâng khuâng, vì ngày tàn, màn đêm đang dần dần buông xuống. Nhưng với Ức
Trai, nó đã trở thành “cầm ve” nhặt khoan trầm bổng, dắng dỏi vang xa, làm cho
khung cảnh làng quê một buổi chiều tà bỗng rộn lên bao niềm vui cuộc đời.
Hai câu kết diễn tả ước mong nhà thơ:
“Dẽ
có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân
giàu đủ khẵp đòi phương”.
Ngu cầm là cây đàn thần của Thuấn
(Nghiêu, Thuấn là hai ông vua thời cổ đại Trung Quốc - triều đại lý tưởng: nhân
dân được sống trong hạnh phúc, thanh bình). Câu kết cảm xúc trữ tình được diễn
tả bằng một điển tích phản ánh khát vọng cao đẹp của Nhà thơ. Ức Trai chân
thành bày tỏ: Hãy để cho ta cây đàn thần của vua Thuấn, ta sẽ gảy lên khúc “Nam
phong”, cầu mong cho mọi nhà, mọi chốn, khắp các phương trời (đòi phương) được ấm
no, giàu có.
Hai câu kết toát lên một tình yêu lớn.
Con người Ức Trai lúc nào cũng hướng về nhân dân, mong ước cho nhân dân được ấm
no và nguyện hy sinh phấn đấu cho hoà bình, hạnh phúc của dân tộc:
Trong thơ Ức Trai, hai câu kết luôn
luôn là sự hội tụ bừng sáng những tư tưởng tình cảm cao cả, đẹp đẽ. Vì thế mà
câu kết đã để lại trong tâm hồn người đọc những ấn tượng mạnh mẽ:
“Bui
một tấc lòng ưu ái cũ
Đêm
ngày cuồn cuồn nước triều đông”
(Thuật hứng - số 5)
Bài thơ nôm ra đời gần 600 năm về trước
miêu tả cảnh tình mùa hè nơi đồng quê, đã đem đến cho chúng ta nhiều thú vị văn
chương. Một giọng thơ thâm trầm, hồn hậu đáng yêu. Nhiều tiếng cổ cấu trúc câu
thơ thất ngôn xen lục ngôn. Phép đối ở
phần thực và phần luận khá chặt chẽ về ngôn từ, thanh điệu, hình ảnh và ý tưởng.
Cảnh sắc và âm thanh mùa hè quê ta xa xưa như sống dậy qua những vần thơ nhuần
nhị đầy cá tính sáng tạo. Ức Trai đã gửi gắm một tình yêu thiên nhiên nồng hậu,
một tấm lòng thiết tha với cuộc sống, một niềm ước mong tốt đẹp cho hạnh phúc của
nhân dân. Vĩ đại thay Ức Trai. Bài học thương yêu nhân dân mà ông nói đến lúc
nào cũng mới mẻ và đậm đà.
3. NHÀN (Nguyễn Bỉnh
Khiêm)
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) sống gần
trọn một thế kỉ đầy biến động của chế độ phong kiến Việt Nam: Lê – Mạc xưng
hùng, Trịnh – Nguyễn phân tranh. Trong những chấn động làm rạn nứt những quan hệ
nền tảng của chế độ phong kiến, ông vừa vạch trần những thế lực đen tối làm đảo
lộn cuộc sống nhân dân , vừa bảo vệ trung thành cho những giá trị đạo lí tốt đẹp
qua những bài thơ giàu chất triết lí về nhân tình thế thái, bằng thái độ thâm
trầm của bậc đại nho. Nhàn là bài thơ Nôm nổi tiếng của nhà thơ nêu lên quan niệm
sống của một bậc ẩn sĩ thanh cao, vượt ra cái tầm thường xấu xa của cuộc sống
bon chen vì danh lợi.
Nhà thơ đã nhiều lần đứng trên lập trường
đạo đức nho giáo để bộc lộ quan niệm sống của mình. Những suy ngẫm ấy gắn kết với
quan niệm đạo lí của nhân dân, thể hiện một nhân sinh quan lành mạnh giữa thế
cuộc đảo điên. Nhàn là cách xử thế quen thuộc của nhà nho trước thực tại, lánh
đời thoát tục, tìm vui trong thiên nhiên cây cỏ, giữ mình trong sạch. Hành
trình hưởng nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm nằm trong qui luật ấy, tìm về với nhân
dân, đối lập với bọn người tầm thường bằng cách nói ngụ ý vừa ngông ngạo, vừa
thâm thúy.
Cuộc sống nhàn tản hiện lên với bao điều
thú vị :
“Một
mai, một cuốc, một cần câu
Thơ
thẩn dù ai vui thú nào”
Ngay trước mắt người đọc sẽ hiện lên một
Nguyễn Bỉnh Khiêm thật dân dã trong cái bận rộn giống như một lão nông thực thụ.
Nhưng đó là cả một cách chọn lựa thú hưởng nhàn cao quí của nhà nho tìm về cuộc
sống “ngư, tiều, canh, mục” như một cách đối lập dứt khoát với các loại vui thú
khác, nhằm khẳng định ý nghĩa thanh cao tuyệt đối từ cuộc sống đậm chất dân quê
này! Dáng vẻ thơ thẩn được phác hoạ trong câu thơ thật độc đáo, mang lại vẻ ung
dung bình thản của nhà thơ trong cuộc sống nhàn tản thật sự. Thực ra, sự hiện
diện của mai, cuốc,cần câu chỉ là một cách tô điểm cho cái thơ thẩn khác đời của
nhà thơ mà thôi. Những vật dụng lao động quen thuộc của người bình dân trở
thành hiện thân của cuộc sống không vướng bận lo toan tục lụy. Đàng sau những
liệt kê của nhà thơ, ta nhận ra những suy nghĩ của ông không tách rời quan điểm
thân dân của một con người chọn cuộc đời ẩn sĩ làm lẽ sống của riêng mình. Trạng
Trình đã nhìn thấy từ cuộc sống của nhân dân chứa đựng những vẻ đẹp cao cả, một
triết lí nhân sinh vững bền.
Đó cũng là cơ sở giúp nhà thơ khẳng định
một thái độ sống khác người đầy bản lĩnh:
“Ta
dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người kiếm chốn lao xao”
Hai câu thực là một cách phân biệt rõ
ràng giữa nhà thơ với những ai, những vui thú nào về ranh giới nhận thức cũng
như chỗ đứng giữa cuộc đời. Phép đối cực chuẩn đã tạo thành hai đối cực: một
bên là nhà thơ xưng Ta một cách ngạo nghễ, một bên là Người; một bên là dại của
Ta, một bên là khôn của người; một nơi vắng vẻ với một chốn lao xao. Đằng sau
những đối cực ấy là những ngụ ý tạo thành phản đề khẳng định cho thái độ sống của
Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bản thân nhà thơ nhiều lần đã định nghĩa dại – khôn bằng
cách nói ngược này. Bởi vì người đời lấy lẽ dại – khôn để tính toán, tranh
giành thiệt hơn, cho nên thực chất dại – khôn là thói thực dụng ích kỷ làm tầm
thường con người, cuốn con người vào dục vọng thấp hèn. Mượn cách nói ấy, nhà
thơ chứng tỏ được một chỗ đứng cao hơn và đối lập với bọn người mờ mắt vì bụi
phù hoa giữa chốn lao xao . Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng chủ động trong việc tìm nơi
vắng vẻ – không vướng bụi trần. Nhưng không giống lối nói ngược của Khuất
Nguyên thuở xưa « Người đời tỉnh cả, một mình ta say » đầy u uất, Trạng Trình
đã cười cợt vào thói đời bằng cái nhếch môi lặng lẽ mà sâu cay, phê phán vào cả
một xã hội chạy theo danh lợi, bằng tư thế của một bậc chính nhân quân tử không
bận tâm những trò khôn - dại . Cũng vì thế, nhà thơ mới cảm nhận được tất cả vẻ
đẹp của cuộc sống nhàn tản :
“Thu
ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân
tắm hồ sen, hạ tắm ao”
Khác hẳn với lối hưởng thụ vật chất đắm
mình trong bả vinh hoa, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thụ hưởng những ưu đãi của một
thiên nhiên hào phóng bằng một tấm lòng hoà hợp với tự nhiên. Tận hưởng lộc từ
thiên nhiên bốn mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông, nhà thơ cũng được hấp thụ tinh khí
đất trời để gột rửa bao lo toan vướng bận riêng tư . Cuộc sống ấy mang dấu ấn
lánh đời thoát tục, tiêu biểu cho quan niệm « độc thiện kỳ thân » của các nhà
nho . đồng thời có nét gần gũi với triết lí « vô vi » của đạo Lão, « thoát tục
» của đạo Phật. Nhưng gạt sang một bên những triết lí siêu hình, ta nhận ra con
người nghệ sĩ đích thực của Nguyễn Bỉnh Khiêm, hoà hợp với tự nhiên một cách
sang trọng bằng tất cả cái hồn nhiên trong sạch của lòng mình . Không những thế,
những hình ảnh măng trúc, giá, hồ sen còn mang ý nghĩa biểu tượng gắn kết với
phẩm chất thanh cao của người quân tử, sống không hổ thẹn với lòng mình. Hoà hợp
với thiên nhiên là một Tuyết Giang phu tử đang sống đúng với thiên lương của
mình. Quan niệm về chữ Nhàn của nhà thơ được phát triển trọn vẹn bằng sự khẳng
định :
“Rượu
đến cội cây ta sẽ uống
Nhìn
xem phú quý tựa chiêm bao”
Mượn điển tích một cách rất tự nhiên,
Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nói lên thái độ sống dứt khoát đoạn tuyệt với công danh
phú quý. Quan niệm ấy vốn dĩ gắn với đạo Lão – Trang, có phần yếm thế tiêu cực,
nhưng đặt trong thời đại nhà thơ đang sống lại bộc lộ ý nghĩa tích cực. Cuộc sống
của những kẻ chạy theo công danh phú quý vốn dĩ ông căm ghét và lên án trong rất
nhiều bài thơ về nhân tình thế thái của mình :
“Ở
thế mới hay người bạc ác
Giàu
thì tìm đến, khó thì lui”
(Thói đời)
Phú quý đi với chức quyền đối với Nguyễn
Bỉnh Khiêm chỉ là cuộc sống của bọn người bạc ác thủ đoạn, giẫm đạp lên nhau mà
sống. Bọn chúng là bầy chuột lớn gây hại nhân dân mà ông vô cùng căm ghét và
lên án trong bài thơ Tăng thử (Ghét chuột) của mình. Bởi thế, có thể hiểu thái
độ nhìn xem phú quý tựa chiêm bao cũng là cách nhà thơ chọn lựa con đường sống
gần gũi, chia sẻ với nhân dân. Cuộc sống đạm bạc mà thanh cao của người bình
dân đáng quý đáng trọng vì đem lại sự thanh thản cũng như giữ cho nhân cách
không bị hoen ố vẩn đục trong xã hội chạy theo thế lực kim tiền. Cội nguồn triết
lí của Nguyễn Bỉnh Khiêm gắn liền với quan niệm sống lành vững tốt đẹp của nhân
dân.
Bài thơ Nhàn bao quát toàn bộ triết
trí, tình cảm, trí tuệ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, bộc lộ trọn vẹn một nhân cách của
bậc đại ẩn tìm về với thiên nhiên, với cuộc sống của nhân dân để đối lập một
cách triệt để với cả một xã hội phong kiến trên con đường suy vi thối nát. Bài
thơ là kinh nghiệm sống, bản lĩnh cứng cỏi của một con người chân chính.
(Sưu tầm và biên soạn)