|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 04/07/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 03/07/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 02/07/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1423
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
Tố Hữu sinh năm 1920, mất năm 2002. Ông có tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, quê ở làng Phù Lai, huyện Quảng Điền - tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông thân sinh của Tố Hữu là một nhà nho nghèo nhưng rất yêu thơ, ham sưu tầm ca dao, tục ngữ. Từ nhỏ, Tố Hữu đã được cha dạy cho làm thơ theo lối cổ. Bà mẹ sinh ra Tố Hữu là con một nahf nho rất yeu ca dao, dân ca xứ Huế và giàu lòng thương con. Tố Hữu mồ côi mẹ từ năm 12 tuổi, một năm sau lại phải xa gia đình vào học trường Quốc Học Huế. Quê hương, gia đình cũng đã ảnh hưởng rất lớn đến hồn thơ Tố Hữu. Lớn lên trong cảnh "Phận nghèo, nước mất, dân nô lệ", nhưng rất may, Tố Hữu đã được Đảng giác ngộ và dìu dắt. Năm 1938, ông được kết nạp vào Đảng. Ông bị thực dân Pháp cầm tù qua các nhà lao Thừa Thiên, Tây Nguyên . . . Năm 1945, ông là Chủ tịch ủy ban khởi nghĩa ở Huế. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ cho đến lăm 1986, Tố Hữu liên tục giữ những cương vị trọng yếu trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, từng là ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch đồng Bộ trưởng. Ở Tố Hữu, con người chính trị và con người nhà thơ thống nhất chặt chẽ, sự nghiệp thơ gắn liền với sự nghiệp cách mạng "là hình thức tuoi đẹp cảu hoạt động cách mạng". Ông được Nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I - 1996.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1422
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài 1. Hoàn cảnh ra đời a. Ngày 19/8/ 1945, chính quyền ở Hà Nội đã về tay nhân dân. Ngày 26/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu Cách mạng Việt Bắc về tới Hà Nội. Người soạn thảo bản "Tuyên ngôn độc lập" tại căn nhà 48 phố Hàng Ngang. Ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, trước hàng chục vạn đồng bào, Người thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt nam Dân chủ cộng hòa đọc bản "Tuyên ngôn độc lập". b. Lúc này cũng là thời điểm bọn đế quốc, thực dân nấp sau quân Đồng minh vào tước khí giới quân đội Nhật, đang âm mưu chiếm lại nước ta. Thực dân Pháp tuyên bố Đông Dương là thuộc địa cảu Pháp bị Nhật xâm chiếm, nay Nhật đầu hàng nên Đông Dương phải thuộc quyền của Pháp. 2. Mục đích sáng tác. a. Chính thức tuyên bố trước quốc dân, trước thế giới sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. b. Ngăn chặn âm mưu chuẩn bị chiếm lại nước ta của bọn đế quốc thực dân. c. Tố cáo tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân ta suốt 80 năm qua và tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân, xóa bỏ mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam. d. Khẳng định ý chí của cả dân tộc Việt Nam kiên quyết bảo về nền độc lập, tự do của tổ quốc. 3. Giá trị của bản Tuyên ngôn: a."Tuyên Ngôn độc lập" là một văn kiện lịch sử đúc kết nguyện vọng sâu xa của dân tộc Việt Nam về quyền độc lập, tự do, cũng là kết quả tất yếu của quá trình đấu tranh gầm một trăm năm của dân tộc ta để có quyền thiêng liên đó. b. Bản tuyên ngôn đã tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến ở Việt Nam và mở ra một kỉ nguyên mới cho dân tộc ta: kỷ nguyên độc lập, tự do, kỷ nguyên của nhân dân làm chủ đất nước. 4. Giá trị của bản tuyên ngôn a. ."Tuyên Ngôn độc lập" là một áng văn yêu nước lớn của thời đại. Tác phẩm khẳng định mạnh mẽ quyền độc lập dân tộc gắn liền với quyền sống của con người, nêu cao truyền thống yêu nước, truyền thống nhân đạo của Việt Nam. b.."Tuyên Ngôn độc lập" là một áng văn chính luận mẫu mực. Dung lượng tác phẩm ngắn gọn, cô đọng gây ấn tượng sâu sắc. Kết cấu tác phẩm mạch lạc, chặt chẽ, chứng cứ cụ thể, xác thực, lập luận sắc bén, giàu sức thuyết phục. Ngôn ngữ tác phẩm chính xác, gợi cảm, tác động mạnh mẽ và tình cảm, nhận thức của người nghe, người đọc.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1421
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
Mở bài: Phong cách Hồ Chí Minh rất hấp dẫn, độc đáo, đa dạng mà rất thống nhất. Thân bài: Ở mỗi thể loại văn học, văn từ chính luận, truyện, ký đến thơ ca, Hồ Chí Minh đều tạo được những nét phong cách riêng, độc đáo và hấp dẫn. 1. Văn chính luận của Người thường ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, lý lẽ đanh thép, bằng chứng đầy sức thuyết phục, đầy tính chiến đấu và đa dạng về bút pháp. Văn chính luận của Người có sự kết hợp giữa tình và lí, lời văn giàu hình ảnh, giọng điệu khi ôn tồn thân mật như đưa lẽ phải thấm vào lòng người, khi mạnh mẽ, hùng hồn. 2. Truyện, ký của Người được viết với bút pháp rất hiện đại, đầy sáng tạo, thể hiện tính chiến đấu mạnh mẽ và nghệ thuật trào phúng sắc bén. Tiếng cười trào phúng của Hồ Chí Minh tuy nhẹ nhàng , hóm hỉnh nhưng thâm thúy, sâu cay. 3. Thơ ca thể hiện sâu sắc và tinh tế vẻ đẹp tâm hồn của Hồ Chí Minh. a. Những bài thơ nhằm mục đích tuyên truyền cách mạng thường được viết bằng hình thức bài ca, lời lẽ giản dị, mộc mạc, dễ thương mang màu sắc dân gian hiện đại. b. Những bài thơ nghệ thuật viết theo cảm hứng thẩm mĩ hầu hết là thơ tứ tuyệt cổ điển, bằng chữ Hán, mang đặc điểm của thơ cổ Phương Đông với sự kết hợp hài hòa giữa màu sắc cổ điển với bút pháp hiện đại, giản dị mà sâu sắc, lấp lánh chất thép mà chứa chan chất tình, từ tư tưởng đến hành động có sự vận động tự nhiên và nhất quán về sự sống, ánh sáng và tương lai. Kết luận: Nhìn chung, văn thơ của Hồ Chí Minh có phong cách hết sức phong phú, đa dạng mà thống nhất. Đó là cách viết ngắn gọn, trong sáng giản dị, sử dụng linh hoạt các thủ pháp và bút pháp nghệ thuật khác nhau, nhằm thể hiện một cách nhuần nhị và sâu sắc nhất tư tưởng của Hồ Chí Minh, "Tinh hoa của dân tộc, khí phách của non sống".
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1420
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài I. Giới thiệu vài nét về tác phẩm "Tuyên ngôn độc lập" được Bác Hồ trịnh trọng đọc trước toàn thể đồng bào và toàn thế giới tại Quảng trường Ba Đình lịch sử sáng ngày mùng 2 tháng 9 năm 1945 đã khia sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là một văn kiện kịch sử vô giá, một văn kiện chính trị qua trọng, là kết quả cuộc đấu tranh cách mạng gần một thế kỉ của dân tộc ta chống thưc dân Pháp. Về nội dung, khi phân tích "Tuyên ngôn độc lập", ta cần chú ý phân tích các phần sau: II. Nội dung bản Tuyên ngôn 1. Phần mở đầu: "Tuyên ngôn độc lập" khẳng định chân lí lớn lao và vĩnh cửu muôn đời là con người phải được tự do, dân tộc phải được độc lập. Tác giả đã liên hệ đến "Tuyên ngôn độc lập" năm 1776 của nước Mĩ và "Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền" của Cách mạng Pháp năm 1791, những áng văn bất hủ chứng minh chân lí đó. Thực dân Pháp, phát xít Nhật ngày nay đã chống lại nhũng quyền chân chính đó là của con người. 2."Tuyên ngôn độc lập" lên án tội ác của thực dân Pháp về kinh tế, chính trị, xã hội đàn áp thẳng tay, chém giết những người yêu nước thương nòi đến việc đầu độc dân tộc ta bằng thuốc phiện, rượu cồn, bóc lột, chiếm đoạt ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu, bày đặt hàng trăm thứ thuế vô lí. 3. Lên án hành động hèn nhát, bán rẻ Đông Dương cho phát xít Nhật của thực dân Pháp. Sự kiện mùa thu năm 1940, Nhật vào Đông Dương cho Nhật để Nhật mở căn cứ đánh Đồng minh. Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp "Trong năm năm, chúng ta đã bán nước hai lần cho Nhật". Từ mùa thu năm 1940, nước ta đã là thuộc địa của Nhật và "Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp". 4. Bản tuyên ngôn đã điểm lại và ngợi ca cuộc đấu tranh bền bỉ, không ngừng để giành quyền độc lập của nhân dân ta qua nhiều cuộc khởi nghĩa của các nhà yêu nước, anh hùng. Cho đến Cách mạng tháng Tám, nhân dân ta lại đứn g về phe Đồng minh chống phát xít Nhật. Từ đó tuyên bố, chấm dứt chế độ thực dân, xóa bỏ những đặc quyền cảu Pháp trên đất nước Việt Nam, Và Tuyên ngôn đã khẳng định quyền tự do độc lập cảu dân tộc Việt Nam, không phải chỉ là khả năng, mà là hiện thực "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do, độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do, độc lập. Cả dân tộc quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cái để bảo về nền độc lập, tự do của Tổ quốc". III."Tuyên ngôn độc lập" là một văn kiện lịch sử có giá trị về nhiều mặt 1. Về mặt lịch sử, chính trị, tư tưởng: "Tuyên ngôn độc lập" là một văn kiện lịch sử, đúc kết nguyện vọng sâu xa của dân tộc Việt Nam về quyền độc lập, tự do. Bản "Tuyên ngôn độc lập" là kết quả của bao nhiêu máu đã đổ, bao nhiêu tính mệnh đã hi sinh của những con người anh dũng của Việt nam" (Trần Dân Tiên). bản "Tuyên ngôn độc lập" đã tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân phong kiến ở Việt nam và mở ra một kỉ nguyên mới cho dân tộc ta: "Kỉ nguyên độc lập, tự do", kỉ nguyên "nhân dân là chủ đất nước" (trước đây trong lịch sử đã có một vài áng văn thơ mang tinh thần tuyên ngôn như mơ "Thần" của Lý Thường Kiệt, "Bình Ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi). 2. Về mặt pháp lí: Tuyên ngôn có giá trị pháp luật, là bản cáo trạng đanh thép, là áng văn có giá trị pháp lí, lập luận vững chắc, thuyết phục. 3. Về mặt nhân văn: Là văn kiện bênh vực quyền dân tộc gắn liền với quyền con người nên có giá trị nhân bản cao cả. 4. Về mặt nghệ thuật: "Tuyên ngôn độc lập" không chỉ có giá trị nội dung to lớn, sâu sắc, đã nêu cao truyền thống yêu ngước, truyền thống nhân đạo của con người Việt Nam mà còn có giá trị văn học đặc sắc. Đây là một áng văn chính luận mẫu mực. Dung lượng tác phẩm ngắn gọn, cô đọng, gây ấn tượng sâu sắc. Kết cấu tác phẩm mạch lạc, chặt chẽ, chứng cứ cụ thể, xác thực, gợi cảm, giọng văn khi lâm li thống thiết, khi hùng hồn, mạnh mẽ vừa thức tỉnh lí trí, vừa lay động trái tim người nghe, người đọc.
|
|
|
|
giải đáp
|
Đề 5: Phân tích tác phẩm "Vi hành" của Nguyễn Ái Quốc.
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài I. Trình bày một cách ngắn gọn hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm (xem đề 4) Phân tích giá trị nội dung tác phẩm A. Đả kích Khải Định, hiện thân của chế độ phong kiến Nam Triều. 1. Từ hình dáng đến phục sức của Khải Định đều rất kệch cỡm, nhố nhăng, lố bịch và kì quái. 2. Ăn chơi xa đọa, xấu xa, làm nhục quốc thể. 3. Dưới con mắt của người Pháp, Khải Định chỉ là một thằng hề, con rối, một công cụ rẻ tiền trong bàn tay điều khiển của bọn thực dân Pháp. B. Tố cáo chính sách thuộc địa dã man, nham hiểm của bọn thực dân Pháp. 1. Đầu độc người bản xứ bằng thuốc phiện, rượu cồn. 2. Lên án chính sách tuyên truyền dối trá, bịp bợm: ra sức đi cướp nước mà lại rêu rao là "khai hóa", "bảo hộ". 3. Truy nã, vây bắt, truy lùng những người yêu nước Việt Nam trên đất Pháp, nghĩa là Nguyễn Ái Quốc đã lên án hành động vi phạm nhân quyền một cách trắng trợn của thực dân Pháp. C. Giá trị nghệ thuật của tác phẩm "Vi hành" là tác phẩm tiêu biển cho phong cách nghệ thuật viết truyện của Nguyễn Ái Quốc: giàu trí tuệ, rất hiện đại, đầy tính sáng tạo. Tất cả tạo nên nghệ thuật châm biếm đả kích mạnh mẽ, sắc sảo độc đáo của ngòi bút Hồ Chí Minh. 1. Sự sáng tạo và châm biếm đả kích trước hết được thể hiện ở cách đặt nhan đề cho tác phẩm. "Vi hành" vốn là một từ có nghĩa gốc tốt đẹp, nay Bác đã biến đổi sang nghĩa mới có tính chất châm biếm, đả kích sâu cay. Như vậy, nghĩa là Nguyễn Ái Quốc đã dùng chữ của hoàn đế để đánh vào đầu hoàng đế, dùng gậy ông đập lưng ông. Ngòi bút của Bác quả là hóm hỉnh, hàm xúc và rất giàu trí tuệ. 2. Tạo được một tình huống truyện độc đáo: tình huống "nhầm lẫn". Tạo tình huống này là biểu hiện của trí tuệ và sáng tạo, nhờ đó, tác giả đã đạt được hai hiệu quả: châm biếm sâu sắc và làm tăng sức thuyết phục đối với người đọc. a. Giữ được thái độ khách quan: đây là dân chúng Pháp nhìn và đánh giá Khải Định. b. Đặt Khải Định trước con mắt của những thanh niên Pari đang háo hức được xem những trò giải trí mới lạ, khiến cho bộ dạng tên vua bù nhìn vốn đã lố bịch lại càng trở nên lố bịch, hài hước hơn. 3. Dùng hình thức viết thư. a. Thư từ cho người thân là một thứ văn hết sức tự do, phóng túng, giúp cho tác giả đổi giọng thoải mái, chuyển cảnh linh hoạt, có thể liên hệ chuyện nọ sang chuyện kia, đối tượng này sang đối tượng khác. Cứ mỗi lần liên hệ, cái giá của Khải Định lại thấp xuống một bậc. b. Lời viết thư được sử dụng một cách sáng tạo đã giúp cho tác giả đả kích được một lúc nhiều đối tượng và đả kích từ nhiều phía, bằng nhiều giọng điệu khác nhau, đồng thời tạo nên tính hài hước có sức hấp dẫn đặc biệt đối với người đọc. Đúng như là ngòi bút của Bác vừa trí tuệ vừa sâu sắc, vừa sáng tạo độc đáo và hiện đại mới mẻ (thư là thể loại văn học rất mới mẻ của Châu Âu . . .). Tất cả đã làm nên một thiên chuyện vừa đa nghĩa, vừa đa thanh. 4. Một biểu hiện nữa của tính trí tuệ, đầy sáng tạo và ý nghĩa châm biếm sâu sắc là Nguyễn Ái Quốc đã sử dụng một hệ thống ngôn ngữ rất giàu tính trào phúng. Ví dụ: "Các vị chẳng nề hà chút công sức nào để bảo về bọn tôi, và giá cô được trông thấy các vị ân cần theo dõi tôi chẳng khác bà mẹ hiền rình con thơ chập chững bước đi thứ nhất, thì hẳn cô phải phát ghen lên được vì nỗi âu yếm của các vị đối với tôi . . . Cô thử nghĩ, làm sao mà không xúc động sâu xa được, khi được đối đãi như thế?"
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1419
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài Mở bài: 1: Thơ của Bác Hồ là thơ của một thi sĩ có hồn thơ rất vui, rất khỏe, luôn luôn có sự vận động từ bóng tối đến ánh sáng, từ đêm đen đến bình minh. 2. Những bài thơ tả cảnh thiên nhiên của Người lại càng thể hiện rõ nét phong cách đặc sắc ấy. 3. Bài thơ "Giải đi sớm" là một trong những bài thơ đó. Thân bài (Ý 1: Hoàn cảnh tác giả: Xem đề 10) Chính hoàn cảnh ấy giúp cho ta hiểu sâu hơn các ý thơ, hình ảnh thơ. Hình ảnh thơ rất sinh động, lấp lánh ánh sáng, ý thơ có sự vận động khỏe khoắn, đột ngột từ đêm đen đến bình minh. Bài thơ viết về sự chuyển lao mà nổi bật lên trong bài thơ là hình ảnh một thi nhân đang đi tìm thi hứng. Phân tích khổ 1: Câu 1: Câu thứ nhất là một câu thơ tả thực nói về tiếng gà gáy vang vọng giữa canh khuya, xuất hiện trong một không gian tĩnh mịch. Người đọc dễ hình dung một cảnh tượng vắng vẻ, quanh hiu, cô đơn, lạnh giá xẽ vây bủa lấy người tù nơi đất lạ. Hình ảnh thơ gợi lên một tình thế đối lập giữa con người và thiên nhiên. Tình cảm nhân vật trữ tình dễ trở thành lời than thở về nỗi khổ cực của kẻ bị lưu đày. Câu 2: Nhưng sang câu thơ thứ hai, ý thơ bỗng nhiên đột ngột tỏa sáng. Thiên nhiên qua tâm hồn bác trở nên sống động, ấm áp bởi chúng như quấn quýt với nhau và lấp lánh ánh sáng phía trước (chú ý phân tích thêm chữ "quần" và "ủng" và hình ảnh "thu san" trong nguyên tác. Không có cơ sở nào để hiểu câu thơ theo nghĩa tượng trưng). Câu thơ chủ yếu được viết theo bút pháp tả thực. Đây có thể xem là một tứ thơ cải tạo hoàn cảnh, biến đổi tinh tế. Bác đã tìm thấy trong thế đối lập có sự hài hòa. Câu 3,4: Hình ảnh người tù trên đường chuyển lao tuy đầy gian khổ nhưng luôn luôn ở tư thế chủ động, tự tin đón nhận khó khăn: "Người đi cất bước trên đường thẳm Rát mặt đêm thu trận gió hàn" Hoàn cảnh chuyển lao khốc liệt như muốn nhấn chìm tù nhân. Nhưng ở đây, tù nhân - chiến sixvaaxn thể hiện trong tư thế "nghênh diện" - tư thế hiên ngang chủ động tự tin vững vàng đày khí phách của một người tù vĩ đại (Chú ý phân tích điệp từ "chinh" và "trận" trong nguyên tác. Chúng nhịp với nhau diễn tả cái khốc liệt của hoàn cảnh chuyển lao, vừa tạo nên một âm hưởng khỏe khoắn trầm hùng. Còn bản dịch dùng từ "cất bước" và đường thẳm", giá hàn" làm đánh mất cái âm hưởng ấy và gợi lên trong ta mộ tư thế bị động của người tù, đồng thời có cái gì đó giống như một lời than thở). - Hình ảnh người tù - Chiến sĩ cách mạng luôn ở tư thế chủ động và vươn lên trên hoàn cảnh khắc nghiệt, không cho nó lấn át mình. Đó cũng chính là chất thép đắc sắc biểu hiện ở khổ thơ này. Phân tích khổ II: Tiếp tục phát triển ý thơ ở khổ thơ 1, tác giả đã dựng lên một bức tranh mô tả cảnh bình minh tươi sáng với cả bầu trời ửng hồng thay thế cho bóng đêm âm u lạnh giá. Câu 1: Thiên nhiên qua ngòi bút của Bác dường như đã có sự chuyển biến vô cùng đột ngột, mạnh mẽ và mau lẹ. Cả vũ trụ, cả phương Đông vừa mới đây còn đầy bóng tối bỗng chốc bừng sáng, toàn cảnh thơ rực rỡ cả một màu hồng (Chú ý bình chữ "hồng" có vai trò như một "nhãn tự", vừa có ý nghĩa cụ thể, vừa mang tính chất đặc trưng). Câu 2: Màu "hồng" ấy trong khoảnh khắc đã quét "sạch không" những bóng tối của đêm còn sót lại và tỏa hơi ấm bao trùm vũ trụ, xua tan khí lạnh u ám đêm đen. Đây là một hình ảnh thơ rất khỏe, nhộm màu sắc thần thoại. Câu 3: Phải có hơi ấm từ trái tim dầy nhiệt huyết và niềm tin của nhà thơ - chiến sĩ tở vào đất trời thì vũ trụ mới bao la và nồng ấm nhanh đến thế! Câu 4: Chú ý câu thơ nguyên tác cả Bác có từ "gia", nghĩa là thêm vào thì ra thi hứng của một tù nhân - thi nhân khoogn phải giờ đây trước thiên nhiên rộng mở mới xuất hiện, mà trái lại đã "nồng" lên từ lúc mới cất bước lên đường "gà gáy một lần đên chửa tan". - Thế là người tù bỗng chốc đã trở thành nhà thơ từ lúc nào và trong tâm hồn đang dào dạt thi hứng. - Từ khổ thơ thứ nhất đến khổ thơ này, "hình tượng thơ đã có sự vận động từ lạnh giá đến ấm áp, từ đêm đen đến bình minh - mộ bình minh bao la hùng vĩ tạo nên một niềm lạc quan hứng khởi trước một ngày mới, khiến cho cảnh bình minh trong một ngày bỗng có cái khí thế của cảnh bình minh cho một thời đại" (Hoài Thanh). Kết luận" Bài thơ viết về chuyện chuyển lao nhưng không nói chuyện đọa đày mà chủ yếu mở ra bức tranh của buổi ban mai tràn đầy ánh sáng và nổi lên trên bức tranh là hình ảnh một thi nhân với phong thái ung dung, tâm hồn dào dạt thi hứng như một người đi ngoại cảnh. Đây chính là cái nét đặc sắc, cái chất cộng sản Hồ Chí Minh đã tạo nên "cái hay vô song cho bài thơ" (ý Xuân Diệu).
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1416
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài 1. Hoàn cảnh sáng tác Bài thơ này được sáng tác khia Bác bị giải từ nhà lao này sang nhà lao khác vào một buổi sớm, có thể là từ nhà lao Long An đến nhà lao Đồng Chính, sau khi đã đi bộ gần 200 cây số và bị giam hơn 60 ngày. Hồi kí của Trần Dân Tiên đã cho biết rõ cái cảnh Bác bị giải như thế nào: "Tay bị trói giật cánh khuỷu, cổ manh xiềng xích, có sáu người linh mang súng giải đi. Cụ Hồ Chí Minh đi mãi, đi mãi nhưng vẫn không biết là đi đâu. Dầm mưa, giãi nắng, trèo núi, qua truông. . Mỗi buổi sáng, gà gáy đầu, người ta lại giải cụ Hồ đi. Mỗi buổi chiều khi chim về tổ, người ta lại dừng lại trong một địa phương nào đó, giam Cụ vào trong xà lim trên một đống rạ bẩn, không cởi trói cho Cụ ngủ. Đau khổ như vậy như vậy nhưng Cụ vẫn vui vẻ, sung sướng được thấy phong cảnh thay đổi. Cụ Hồ vừa đi, vừa ngâm nga. Thỉnh thoảng, Cụ Hồ lại làm thơ . . .". 2. Ý nghĩa của hoàn cảnh: Hoàn cảnh ấy giúp chúng ta hiểu sâu thêm ý nghĩa độc đáo của bài thơ. Dù bài thơ viết về hoàn cảnh chuyển lao đầy gian khổ của Bác, ấy thế mà trong bài thơ không hề thấy có một hình ảnh của một người tù. Ngược lại, trước mắt ta vẫn lồng lộng trái tim Người vẫn như ngọn lửa, vẫn nồng nàn thi hứng và niềm tin. Đúng như lời bình cảu Xuân Diệu: Cái hay vô xong của bài thơ "Giải đi sớm" là bài thơ có chất cộng sản Hồ Chí Minh.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1415
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài. 1. Hồ Chí Minh là nhà cách mạng vĩ đại đồng thời là tác giả văn học lớn. "Nhật kí trong tù" là tác phẩm tiêu biểu được viết vào khoảng thời gian từ đầu mùa thu 1942 đến cuối 1943, tức là thời gian Bác bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam ở Quảng Tây - Trung Quốc. 2. "Mộ" (Chiều tối) là một bài thơ rất có giá trị của tập thơ, vừa gợi được cảnh sống gian truân của Bác trong những ngày bị giam cầm, vừa thể hiện được vẻ đẹp trong tâm hồn của người cộng sản vĩ đại Hồ Chí Minh. II. Phân tích - bình giảng bài thơ 1. Phân tích cảnh chiều tối nơi núi rừng. a. Hai câu đầu. - Cảnh chiều tối được gợi tả bằng vài hình ảnh có tính ước lệ của thơ cổ: Chim mỏi về rừng, chòm mây lững thững trôi. - Tuy là những hình ảnh mang màu sắc ước lệ nhưng được Bác sử dụng một cách tự nhiên, phud hợp với cảnh thực và tâm trạng thực của thi nhân ở chốn núi rừng, ánh sáng cuối cùng của một ngày thì chỉ có thể thấy được trên đỉnh trời dang soi chiếu một cánh chim bay về tổ và chòm mây bay ngang bầu trời. Cảnh ấy phù hợp với tâm trạng người tù cách mạng buồn nhớ quên hương, lại trải qua một ngày bị áp giải trên đường vô cùng vất vả, mệt mỏi. - Dù lâm vào cảnh vất vả, bị đọa đầy, nhưng thi sĩ Hồ Chí Minh vẫn thể hiện tình cảm yêu mến thiết tha và thái độ đồng cảm, chia sẻ với tạo vật, thiên nhiên vùng sơn cướu lúc chiều buông. 2. Tinh thần nhân hậu và lạc quan của nhà thơ: b. Hai câu sau: Nét đặc sắc của hai câu thơ này là diễn tả được sự vận động của thời gian từ chiều muộn đến tối hẳn, bằng cách dùng hình ảnh ánh sáng (lò than đã rực hồng). Trời tối hẳn nên lò than rực lên, thu hút con mặt của nhà thơ. - Sự chuyển cảnh ở nửa sau bài thơ cho thấy lòng yêu con người, yêu cuộc sống đặc biệt sâu sắc của Bác. Bác đã nói về hình ảnh, cô gái xóm núi xay ngô với biết bao cảm xúc trìu mến. Bác hiểu nỗi nhọc nhằn, vất vả của người lao động (cụm từ "ma bao túc" được lặp lại theo trật tự đảo lộn ở câu 3 và câu 4 góp phần biểu đạt ý này) nhưng đồng thời cũng nhìn thấy nét đẹp riêng, chất thơ riêng ở những cảnh đời bình dị. - Chữ "hồng" cuối bài thơ đã trở thành "nhãn tự" trong tác phẩm. Với chữ" hồng" đó, dường như Hồ Chí Minh đã quên đi cảnh bị đày ải buồn thương của mình mà hướng đến chia sẻ niềm vui cuộc sống lao động bình thường. Quan trọng hơn, chữ "hồng" đã giúp ta hiểu được niềm lạc quan đáng quý của nhà cách mạng. - Qua sự chuyển đổi của cảnh sắc (từ tối đến sáng), tình cảm (buồn đến vui), chúng ta thấy rõ ràng trong bất cứ hoàn cảnh nào, người cộng sản Hồ Chí Minh cũng hướng tâm hồn mình về phía tươi sáng của cuộc đời và yêu thương con người đến mức "Nâng niu tất cả chỉ quên mình". Chú ý: Khi phân tích cần đối chiếu với nghuyên bản chữ Hán để thấy nét tinh tế của ngòi bút Hồ Chí Minh. Trong nguyên bản có chữ "cô vân" - chòm may cô đơn và cụm từ "mạn mạn" - lững lờ, mệt mỏi diễn tả rất đạt tâm trạng thi nhân. Ở câu ba, nguyên bản không có chữ "tối" mà vẫn nói được trời tối. Bản dịch thêm chữ "tối" làm giảm đi tính hàn xúc và vẻ đẹp cổ điển trong câu thơ của Bác.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1414
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
Mở bài: - Phong cách nghệ thuật của thơ Hồ Chí Minh thật phong phú, đa dạng mà thống nhất: Có thơ trữ tình, thơ tự sự, tự trào, có cả thơ trâm biếm, đả kích, nụ cười châm biếm của Người thật nhẹ nhàng, giản dị, dí dỏm mà vô cùng thâm thúy, sâu sắc. Bài "Lai Tân" là một trong những bài thơ đặc sắc nhất cho nét phong cách ấy của thơ Bác. Thân bài: I. Giới thiệu đôi nét về bài thơ. 1. "Lai Tân" là một bài thơ được sáng tác trong khoảng thời gian bốn tháng đầu Hồ Chí Minh bị giam giữ tại các nhà tù của bọn Quốc dân Đảng Trung Quốc ở Quảng Tây. 2. "Lai Tân" rút từ tập "Nhật kí trong tù" của Hồ Chí Minh. Bài thơ mang nội dung phê phán thái độ nahf tù và xã hội Trung Quốc với nghệ thuật châm biếm sắc sảo. II. Phân tích bài thơ Ý 1: Ba câu đầu. Đó là ba câu thơ tự sự nói về hành vi thườn thấy ở ba viên quan lại cai quản nhà ngục Lai Tân a. Ở đây Bác không bình luận mà chỉ kể lại sự việc. Nhưng ngẫm cho kỹ, chúng ta thấy ý nghĩa của lời thơ thật sâu xa. Ba đối tượng mà Bác tập trung vào phê phán là "ba đối tượng từ thấp đến cao những kẻ cầm quyền và quản lí trực tiếp trật tự an ninh địa phương". Đó là những kẻ cầm cân nảy mực thực thi pháp luật, nhưng lại "gương mẫu nhất" trong việc vi phạm pháp luật. b. Ban trưởng, ngày ngày đánh bạc, cảm trưởng ăn hối lộ tiền của phạm nhân một cách trắng trợn; huyện trưởng thì "chong đèn làm công việc" nhưng thực chất là "ngài đốt đèn hút thuốc phiện đấy. Đó là một sự thật trong các huyện đường Quảng Tây dưới thời Tưởng". Ý 2. Câu cuối cùng: Một kết luận, một đánh giá về tình trạng của bộ máy cai trị nhà tù. a. Người đọc chờ đợi một sựu lên án quyết liệt, hùng hồn. Nhưng Hồ Chí Minh đã không làm nhưu vậy, mà hạ một câu có vẻ dửng dưng, alnhj lùng "Trời đất Lai tân vẫn thái bình". Song đòn đả kích độc đáo, bất ngờ, thâm thúy, sâu cay chính là ở chỗ ấy. Thì ra tình trạng thối nát, vô trách nhiệm của bọn quan lại ở Lai Tân là chuyện bình thường, trở thành bản chất của bộ máy cai trị ở đây. b. Câu kết, nhất là chữ "thái bình" như ẩn giấu " một tiếng cười khẩy" đầy mỉa mai có ý nghĩa lật tẩy bản chất thối nát của cả bộ máy nhà nước ở Lai Tân. "Ở đâu đánh giặc thì cứ đánh, còn cái trời đấy Lai Tân này vẫn thái bình như muôn thủa (Hoàng Trung Thông). Kết luận: Hoàng Trung Thông còn viết tiếp "Một chứ" Thái bình" mà xâu táo lại bao nhiêu việc alfm trên vốn là muôn tủa của xã hội Trung Quốc của giai cấp bóc lột tống trị. Chỉ một chữ ấy mà xé toang tất cả sự "Thái bình" dối trá nhưng thực sự là "đại loạn bên trong". (Bác Hồ làm thơ và thơ của Bác)
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1413
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫ làm bài 1. Hoàn cảnh sáng tác Bài thơ lấy cảm hứng từ khung cảnh thiên nhiên miền sơn cước vào một buổi chiều trên đường chuyển lao của Bác. Trong tác phẩm "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chủ tịch", tác giả Trần Nhật Tiên có cho biết hoàn cảnh sáng tác bài thơ như sau: "Tay bị trói giật cánh khuỷu, cổ mang xiềng xích, có sáu người lích mang súng giải đi. Cụ HỒ Chí Minh đi mãi, đi mãi nhưng cũng không biết là đi đến đâu. Dầm mưa, dãi nắng, trèo núi, qua truông. Mỗi buổi sáng, gà gáy đầu, người ta lại giải cụ Hồ đi. Mỗi buổi chiều khi chim về tổ, người ta lại dừng lại trong một địa phương nào đó, giam Cụ vào trong xà lim trên một đống rạ bẩn, không cởi trói cho Cụ ngủ . . .". 2. Ý nghĩa của hoàn cảnh đó đối với việc hiểu nội dung bài thơ Phải gắn bài thơ với hoàn cảnh tù đày gian khổ như thế, chúng ta mới hiểu hơn ý nghĩa phogn phú của hinfharnh thơ: tuy là những hình ảnh mang màu sắc ước lệ tượng trưng của thơ cổ điển nhưng vẫn phù hợp với hoàn cảnh thực, tâm trạng thực của nhà thơ. Đây là cảnh chiều hôm nơi núi rừng tỉnh Quảng Tây. Tất cả đều gợi cho ta thấy một cái gì đó mệt mỏi cô đơn, buồn bã. Ấy thế mà bài thơ lại có sự chuyển đổi tình, cảnh, tư tưởng rất thú vị: từ tàn lụi đến sự sống, từ buồn đến vui (được thể hiện rõ nhất ở hình ảnh kết thúc bài thơ: ngọn lửa hồng bùng sáng trên bếp lửa của cô gái lao động. Thế mới biết mọi vui buồn, sướng khổ của Chủ Tịch Hồ Chí Minh đều bắt nguồn từ cảnh ngộ và số phận nhân dân. Đây là niềm vui thể hiện một tấm lòng nhân đạo lớn đã tới mức "Nâng niu tất cả chỉ quên mình".
|
|
|
|
giải đáp
|
Về lẽ ghét thương, Nguyễn Đình Chiểu tâm niệm:
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
1. Trinh bày ngắn gọn hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm (xem đề 4). Phân tích giá trị nội dung của tác phẩm. A. Đả kích Khải Định, hiện thân của chế độ phong kiến Nam Triều 1. Từ hình dáng đến phục sức của Khải Định đều rất kệch cỡm, nhố nhăng, lố bịch và kì quái. 2. Ăn chơi xa đọa, xấu xa, làm nhục quốc thể. 3. Dưới con mắt của người pháp, khải Định chỉ là một thằn ghề, con rối, một công cụ rẻ tiền trong bàn tay điều khiển của bọn thực dân Pháp. B. Tố cáo chính sách thuộc địa dã man, nham hiểm của bọn thực dân Pháp. 1. Đầu độc người bản sứ bằng thuốc phiện, rượu cồn. 2. Lên ánh chính sách tuyên truyền dối trá, bịp bợm: ra sức đi cướp nước mà lại rêu rao là khai hóa, bảo hộ. 3. Truy nã, vây bắt, truy lùng những người yêu nước Việt Nam trên đất Pháp, nghĩa là Nguyễn Ái Quốc đã lên án hành động vi phạm nhân quyền một cách trắng trợn của thực dân Pháp. C. Giá trị nghệ thuật tác phẩm "Vi hành" là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật viết truyện ngắn của Nguyễn Ái Quốc: giàu trí tuệ, rất hiện đại, đầy tính sáng tạo. Tất cả tạo nên nghệ thuật châm biếm đả kích mạnh mẽ, sắc sảo và độc đáo của ngòi bút Hồ Chí Minh. 1. Sự sáng tại và châm biếm đả kích trước hết được thể hiện ở cách đặt nhan đề cho tác phẩm. "Vi hành" vốn là một từ có nghĩa gốc tốt đẹp, nay Bác đã biến đổi sang nghĩa mới có tính chất châm biếm, đả kích sâu cay. Như vậy, nghĩa là Nguyễn Ái Quốc đã dùng chữ của hoàng đế để đánh và đầu của hoàng đế dùng gậy ông đập lưng ông. Ngòi bút của Bác quả là hóm hỉnh, hàm xúc và rất giàu trí tuệ. 2. Tạo được tình huống truyện độc đáo: tình huống "nhầm lẫn", Tạo tình huống này là biểu hiện của trí tuệ và sáng tạo, nhờ đó, tác giả đã đạt được hai hiệu quả: châm biếm sâu sắc và làm tăng thêm sức thuyết phục đối với người đọc. a. Giữ được thái độ khách quan: đây là dân chúng Pháp nhìn và đánh giá Khải Định. b. Đặt Khải Định trước con mắt của những thanh niên Pari đang háo hức được xem những trò lố bịch, mới lạ, khốn cho bô 3. Dùng hình thức viết thư a. Thư từ cho người thân là một thứ văn hét sức tự do, phóng túng, giúp cho tác giả đổi giọng thoải mái, chuyển cảnh linh hoạt, có thể liên hệ chuyện nọ xang chuyện kia, đối tượng này sang đối tượng khác. Cứ mỗi lần liên hệ, cái giá của Khải Định lại hạ thấp xuống một bậc. b. Lời viết thư được sử dụng một cách sáng tạo đã giúp chp tác giả đả kích một lúc nhiều đối tượng và đả kích từ nhiều phía, bằng nhiều giọng điệu khác nhau, đồng thời tạo nên tính hài hước có sức hấp dẫn đặc biệt đối với người đọc. Đúng là ngòi bút của Bác vừa trí tuệ vừa sâu sắc, vừa sáng tạo độc đáo và hiện đại mới mẻ (thư là thể loại văn học rất mới mẻ của Châu Âu . . ._, Tất cả đã làm nên một thiên chuyện vừa đa nghĩa, vừa đa thanh. 4. một biểu hiện nữa của tính trí tuệ, đầy sáng tạo có ý nghĩa châm biếm sâu sắc là Nguyễn Ái Quốc đã sử dụng một hệ thống ngôn ngữ rất giàu chất trào phúng: Ví dụ: "Các vị chẳng nề hà chút công sức nào để bảo vệ bọn tôi, và già các cô được trông thấy các vị ân cần theo dõi tôi chẳng khác bà mẹ hiền rình con thơ chập chững bước đi thứ nhất, thì hẳn cô phải phát ghen lên được vì nỗi âu yếm của các vị đối với tôi . . . Cô thử nghĩ, làm sao mà không xúc động sâu xa được, khi được đối đãi như thế?"
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1410
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
1. Hoàn cảnh ra đời của chuyện "Vi hành" a. Năm 1922, thực dân Pháp đứa Khải Định xang "mẫu quốc" nhân cuộc " Đấu xảo thuộc địa" tổ chức mác - xây. Mục đích của bọn thực dân làm vừa vuốt ve Khải Định, vừa lừa gạt nhân dân Pháp khiến chi họ tin rằng sự "bào hộ" của Pháp được nhân dân Việt Nam hoa nghênh.. Khải Định vồ lấy cơ hội đó để có dịp ăn chơi xa xỉ và vận động để cho ngôi báu về tay con hắn sau này. Là hoàng đế, là đại diện cho đất nước mà trong chuyến đi này, Khải Định đã phô bày tất cả những ngu dốt, lố lăng của một tên vua bù nhìn vô dụng khiến cho những người Việt Nam yêu nước hết sức bất bình, phẫn nộ. Phan Chu Trinh đã lên án Khải Định bằng một bức thư nổi tiếng: "Thư thất điều". b. Nguyễn Ái Quốc lúc ấy cũng đang hoạt động cách mạng ở Pháp. Người đã viết nhiều tác phẩm công kích chuyến đi nhục nhã của Khải Định như "Con rồng trẻ", "Sở thích đặc biệt", "Lời than vãn của bà Trưng Trắc" . . ., "Vi hành" là tác phẩm cuối cùng nằm trong loạt tác phẩm đó, được đăng trên báo "Nhân đạo" của Đảng Cộng sản Pháp vào đầu năm 1923. Truyện được viết dưới hình thức một bức thư gửi cho cô em họ. 2. Mục đích sáng tác truyện "Vi hành". Truyện "Vi hành" là một tác phẩm nghệ thuật có mục đích chính trị rất rõ ràng. Là một chiến sĩ cộng sản, một nhà ái quốc vĩ đại, Bác viết truyện này nhằm mục đích phế phán, lên án phong kiến và đả kích, vạch trần tội ác của bọn thực dân đế quốc. a. "Vi hành" chủ yếu vạch trần bộ mặt xấu xa của Khải Định - một tên vua bán nước, có bộ dang kệch cỡm, lố bịch, ăn chơi sa đọa, làm nhục quốc thể. Bằng cách sáng tạo ra tình huống "nhầm lẫn" rất độc đáo, Nguyễn Ái Quốc đã phơi bày Khải Định trước con mắt độc giả: Đó chỉ là một thứ vua hrrg, con rối, rất rẻ tiền trong bàn tay điều khiển của bọn đế quốc thực dân. b. "Vi hành" cũng đả kích mạnh mẽ bọn thực dân Pháp với các chính sách "khai hóa" thâm độc như đầu độc người bản sứ bằng thuốc phiện à rượu cồn, đi cướp nước mà lại rêu rao là "bảo hộ", "khai hóa'; đặc biệt Nguyễn Ái Quốc đã lên án hành động vi phạm nhân quyền một cách thô bạo, trắng trợn của chúng (cho lũ mật thám của thường xuyên theo dõi, truy nã, bủa vây Nguyễn Ái Quốc cùng những người Việt Nam yêu nước khác trên đất nước Pháp, nhất là vào thời điểm diễn ra sự kiện nói trên). Kết luận: Tóm lại "Vi hành" là tác phẩm phản đế, phản phong trào loại sớm nhất trong văn học Việt Nam. Truyện đã có sự kết hợp nhuần nhuyễn, hài hòa giữa chính trị avf nghệ thuật. Tác phẩm đã kết tinh được phong cách nghệ thuật của Nguyễn Ái Quốc: đầy sáng tạo, giàu trí tuệ và hiện đại. "Vi hành" mãi mãi là viên ngọc quý tỏa sáng long lanh trong kho tàng lịch sử văn học nước nhà.
|
|