|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 09/07/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1440
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài Ý 1: Giới thiệu vài nét về tác giả, bài thơ, vị trí khổ thơ (Xem phần này ở các đề trên). Ý 2: Bình giảng, phân tích khổ thơ: - "Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng": phải chăng hình ảnh thơ ngoài ý nghĩa tả thực còn có ý nghĩa ẩn dụ, tượng trưng: Nhà thơ đang sống trong cảnh mất nước, nô lệ, nên đã cảm nhận được cả thế hệ thanh niên lúc đó cũng như mình đang vật vờ, lênh đênh, trôi dạt, bị cuộc đời cuốn đi mà không biết trôi về đâu? Câu 2,3: Cảnh mênh mông, buồn bả trống vắng, quạnh hiu của "Tràng giang" càng được nhân lên bằng mấy lần phủ định: "Không đò . . . không cầu . . .". Chiếc cầu, con đò bắc nối đôi bờ là biểu hiện của sự giao nối của con người và cuộc sống tấp nập, gần gũi và gợi nhớ quê hương. Nhưng ở đây, tấc cả bị phủ định: không một cái gì đó gợi về tình người, lòng người muốn gặp gỡ, qua nơi đôi bờ hoang vắng. Hai bờ sông cứ thế chạy dài vô tận như hai thế giới cô đơn, không chút "niềm thân mật" của những tâm hồn đồng điệu. Câu 4: Cảnh "Tràng giang" chỉ còn "lặng lẽ bờ xang tiếp bãi vàng". Câu thơ đã vẽ nên được một bức tranh thật đẹp, tĩnh lặng, nhưng rất buồn. Tiểu kết: Bốn câu thơ, bốn hình ảnh, tất cả đều gợi buồn. Chúng "cộng hưởng" với nhau tạo thành bức tranh gợi về số phận nổi trôi, bơ vơ, bất hạnh, cô đơn của kiếp người trong xã hội cũ. Nghệ thuật sử dụng thủ pháp quen thuộc của thơ cổ điển: lấy "không" để nói "có".
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1439
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài I. Giới thiệu chung về bài thơ và vị trí đoạn trích 1. "Tràng giang" được in trong tập "Lửa thiêng" (1940), là bài thơ vào loại nổi tiếng của Huy Cận, đồng thời cũng là kiệt tác của thơ hiện đại Việt Nam. 2. Trong bài thơ tác giả đã thể hiện tâm trạng cô đơn của mình trước cuộc đời, trước vũ trụ bằng một bút pháp cổ điển, vừa hiện đại. Khổ thơ bình giảng là khổ thơ thứ hai trong bài thơ. So với các khổ thơ khác, ở đây, nỗi buồn có những sắc điệu riêng và đối tượng miêu tả cụ thể cũng có những nét khác biệt. II. Bình giảng hai câu đầu khổ thơ 1. Hai câu thơ chứa đựng những nét chấm phá về cái bãi cồn trên sông. Không gian hầu như vắng lặng, cảnh vật nhuốm vẻ đìu hiu, tàn tạ, thể hiện sâu sắc nỗi lòng nhân vật trữ tình: buồn sầu, cô đơn, khát khao được nghe những tiếng vọng thân thiết của cuộc đời. 2. Các từ láy "lơ thơ", "đìu hiu" được dùng rất đắt, vừa có giá trị tạo hình, vừa giàu khả năng biểu đạt tâm trạng. Riêng từ "đìu hiu" gợi nhớ đến một câu thơ trong "Chinh phụ ngâm" ("Bến phì gió thooit đìu hiu mấy gò"). Trong câu thứ hai, sự xuất hiện của "Tiếng làng xa vãn chợ chiều" chỉ làm cảnh buồn hơn bởi đây chỉ là "âm thanh" vọng lên từ tâm tưởng, từ niềm khao khát của nahf thơ. (Chú ý việc cắt nghĩa câu thứ hai phụ thuộc phần lớn vào cách hiểu từ "đâu", hiểu "đâu" là "không có" hay "đâu đây" đều có những căn cứ nhất định. Vì vậy, nên để chừa một "khoảng trống" cho sự phát biểu cảm nhận riêng của thí sinh). III. Bình giảng hai câu cuối của khổ thơ 1. Hai câu thơ mở ra một không gian miêu tả ra nhiều chiều với hình ảnh của nắng xuống, trời lên, sông dài, bến vắng. Theo hướng mở rộng đó của không gian, nỗi sầu của nhân vật trữ tình như được lan tỏa ra đến nỗi vô cùng, không có cách gì xoa dịu được. 2. Hình thức đối cổ thi được sử dụng khá linh hoạt trong hai câu thơ tạo nên sự hài hòa về hình ảnh và nhịp điệu. Cùng với việc vẽ ra những chuyển động ngược hướng (nắng xuống, trời lên) ở câu thứ ba, tác giả đã dùng dấu phẩy ngắt câu thơ thứ tư thành ba phần, biểu thị ba hình ảnh độc lập (sông dài, trời rộng, bến cô liêu). Nhờ lối diễn tả này, tính chất phân li của cuộc đời được tô đậm thêm. Cách kết hợp từ trong câu ba cũng hết sức đáng chú ý. Khi viết "sâu chót vót", tác giả không chỉ muốn diễn tả độ cao của bầu trời mà còn muốn biểu hiện cảm giác chơi vơi, rợn ngợp của con người khi đối diện với cái hun hút, thăm thẳm của vũ trụ (rất có thể từ "sâu" chợt đến trong liên tưởng thơ của thi sĩ khi ông nhìn thấy cảnh phản chiếu vời vợi của bầu trời xuống mặt nước). (Đáp án đề thi Văn khối C - toàn quốc năm 2003)
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1438
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
1. Hoàn cảnh sáng tác: - Huy Cận là một trong những nhà thơ tiểu biểu của dòng thơ ca lãng mạn 1930 - 1945. "Tràng Giang" là một bài thơ nổi tiếng của ông được sáng tác vào năm 1939 đăng lần đầu tiên trên báo "Ngày nay", sau đó in vào tập "Lửa thiêng". Bài thơ mang phong vị Đường thi khá rõ. - Theo Huy Cận đây là bài thơ được sông Hồng gợi tứ. Ông đã có lần tâm sự: "Tôi có thú vui thường ngày vào chủ nhật hằng tuần đi lên vùng Chèm. Vẽ để ngoạn cảnh sống Hồng và hồ Tây. Phong cảnh sông nước đẹp gợi cho tôi nhiều cảm xúc chung về những dòng sông khác của quê hương". - Vì vậy, phân tích bài thơ này là phân tích một bức tranh thiên nhiên sông nước hầu như đã trở thành cổ điển mà linh hồn của nó là một nỗi buồn đìu hiu mênh mang. Qua mỗi khổ thơ, tác giả điểm thêm một nét buồn nào đó. Tát cả những nét buồn ấy cứ trở đi, trở lại vẫn là bát ngát, mênh mông mà hoang dạt. Đây là nỗi buồn cô đơn rợn ngợp của cá thể trước cái không gian ba chiều bao la, luôn luôn có niềm khao khát được hòa hợp cảm thông giữa người và người trong tình đất nước nhân loại. 2. Phân tích, bình giảng khổ thứ nhất: "Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song, Thuyền về nước lại sầu trăm ngả; Củi một cành khô lạc mấy dòng". Ý 1: Giới thiệu vài nét về tác giả và bài thơ: - "Tràng giang" là một trong những bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ Huy Cận, sáng tác năm 1939, rút từ tập "Lửa thiêng", tập thơ đầu tay của Huy Cận, sáng tác khoảng 1937 - 1940. Tập thơ đã đưa Huy Cận trở thành một gương mặt tiêu biểu trong phong trào thơ mới thời kì đầu phát triển. - Huy Cận là thi sĩ thơ lãng mạn có nỗi buồn :"ảo não", "ngẩn ngơ" trước cái không gian bao la và thời gian thăm thẳm. Đó là nỗi buồn "sông núi", "nỗi buồn trước cảnh nước mất, nhà tan và nỗi buồn của một thế hệ nhà "thơ mới" nằm trong một "chữ tôi" bế tắc, luôn luôn có niềm khao khát được hòa hợp cảm thông trong tình đất nước và tình nhân loại. - Khổ thơ ta bình giảng là khổ thứ nhất của bài thơ. Nó mở ra bằng một hình ảnh sông nước mênh mông trước một bức tranh thiên nhiên "Tràng giang" tàn tạ, quạnh hiu, nổi trôi, chia lìa, phiêu dạt. Ý 2: Hai câu đầu: - Hình ảnh "Tràng giang" vừa mở ra chiều rộng, vừa vươn tới chiều dài: "Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song" - "Sóng gợn . . .điệp điệp": Bằng một hình ảnh ẩn dụ và một từ láy "điệp điệp" cừa gợi hình vừa gợi cảm, câu thơ diễn tả một nỗi buồn như mở ra bất tận cũng như sóng gợn tầng tầng lớp lớp, không dứt trên dòng "Tràng giang". - "Con thuyền xuôi mái nước song song": Câu thơ có thể hiểu con thuyền xuôi theo dòng nước mà đi và còn có thể hiểu là con thuyền bất lực ngay với mái chèo của mình, lênh đênh mặc cho dòng nước cuốn trôi xuôi cho đến tận cuối chân trời không bến đậu (có thể bình mở rộng bằng cách liên hệ với hai câu thơ nổi tiếng của Đổ Phủ trong bài "Đăng cao": "Vô biên lạc điệp tiêu tiêu hạ Bất tận trường giang cổn cổn lai") Ý 3 :hai câu sau: - Hình ảnh thơ gợi nên sự khô héo, nổi trôi, cô đơn, chia lìa. "Thuyền về nước lại sầu trăm ngả; Củi một cành khô lạc mấy dòng". Hình ảnh con thuyền gợi về sự trôi nổi, lênh đênh. Thuyền và nước vốn là hai hình ảnh luôn luôn gắn bó. Vậy mà ở đây lại có sự xa cách, chia lìa đang đón đợi "thuyền về" >< "nước lại" - "sầu trăm ngả" chứ không phải ít ngả vì là sông lớn. Nó tượng trưng làm nổi bật nỗi buồn, sầu, trôi nổi, chia lìa, bơ vơ. Nghệ thuật: Chú ý khai thác, bình giá về thủ pháp "điệp" và "đối" nhấn mạnh nỗi sầu dằng dặc và xự chia biệt, cô đơn.
|
|
|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 08/07/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 07/07/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 06/07/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1436
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
I. Vài nét về tác gải, bài thơ và vị trí đoạn trích 1. Vài nét về nhà thơ Xuân Diệu và bài "Thơ duyên" (xem đề trên) 2. Đoạn trích - nội dung và vị trí của bài thơ (khổ thơ) Khổ thơ này là khổ thơ thứ tư của bài thơ. Nội dung chính của nó:cảnh chiều thu chuyển dần theo thời gian, đi vào thời khắc hoàng hôn, giữa thiên nhiên và thiên nhiên qua cái tôi yêu đời, khát khao giao cảm của Xuân Diệu càng có sự giao cảm, cảm thông kì diệu. II. Bình giảng đoạn thơ. 1. Hai câu đầu "Mây biếc về đâu bay gấp gấp, Con cò trên ruộng cánh phân vân" Hình ảnh thơ trên rất quen thuộc đặc trưng cho thơ cổ điển phương Đông. Nhưng chiều sâu cảm xúc và cách biểu hiện đã có sự khác biệt rất xa. Đúng như nhà phê bình Hoài Thanh đã từng nhận xét: "Từng cách cò của Vương Bột lặng lẽ bay với ráng chiều đến con cò của Xuân Diệu không bay mà cánh phân vân, có sự cách biệt hơn một ngàn năm và hai thế giới" (Thi nhân Việt Nam - trang 104). Sự cách biệt của hai thế giới là gì vậy? Thế giới của thơ Đường là nhận cái tôi cá nhân. Cái tôi cá nhân ít để lại dấu ấn trong thơ vì cái tôi ấy bị tan biến trong cái ta, trong vũ trụ vĩnh hằng và thiên nhiên trong thơ thường chung chung, thời nào cũng vậy. Câu thơ nổi tiếng của Vương Bột là một ví dụ điển hình: thế giới cảu cái ta, cái chung cộng đồng. Ý thức thế hệ phong kiến không chấp "Lạc hà dữ cô lộ tề phi Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc" (Chiếc cò cùng với ráng xa Sông thu cùng với trời xa một màu Hai câu thơ này thể hiện một cái nhìn hòa nhập, mang tính chất nhất thể hóa thiên nhiên vũ trụ. Còn hình ảnh thơ câu Xuân Diệu: trạng thái "phân vân" không biết bay cao hay bay thấp; bay lên hay bay xuống . . . của cánh cò cũng như cái "gấp gấp" vội vã của làn "mây biếc", cùng hai chữ "về đâu" rất gợi cảm đã thể hiện rất rõ cái tôi chữ tình của thi sĩ. Đó là một tâm trạng rất riêng biệt, điển hình của thơ mới mà ta ít gặp trong thơ cổ điển. Nó biểu hiện cái tôi đã ý thức được rõ rệt về thời gian và sự hữu hạn của kiếp người. Vì thế, câu thơ của Vương Bột tả cái động mà vẫn tĩnh. Còn Xuân Diệu tả cái tĩnh mà thấy cái động. 2. Hai câu sau: "Chim nghe trời rộng dang thêm cánh, Hoa lạnh chiều thưa sương xuống dần." càng tô đậm thêm sự giao hòa, cảm thông, sự đưa duyên giữa thiên nhiên và thiên nhiên qua cái tôi cô đơn và rất mực yêu đời của Xuân Diệu. Nhà thơ dường như nhận thức thấy được cảm giác trống trải, rợn ngợp của con chim trước bầu trời cao rộng đã giang đôi cánh để hòa điệu với cảm giác se lạnh cảu bông hoa khi sương chiều buông xuống dần. "Sự bồng bột của Xuân Diệu có lẽ đã phát biểu ra một cách đầy đủ hơn cả trong những rung động tinh vi này" (Hoài Thanh).
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1435
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
I. Vài nét về nahf thơ Xuân Diệu và bài "Thơ duyên". 1. Xuân Diệu (1916 - 1985) là nhà thơ ham sống, yêu đời, khát khao giao cảm với đời mãnh liệt. Với tâm hồn ấy, ông đã phát hiện ra trong cái quen thuộc, bình thường kia mùa thu muôn đời còn tiềm ẩn những vẻ đẹp thi vị của thiên nhiên và hồn người, chúng luôn giao hòa để sáng tạo nên một bài thơ tuyệt bút: "Thơ duyên". 2. Dựa vào hình tượng thơ, ta có thể hiểu "duyên" ở đây không chỉ giới hạn trong quan hệ nam - nữ, mà "duyên" còn là sự hòa hợp tuyệt vời giữa thiên nhiên và thiên nhiên, giữa thiên nhiên và con người, giữa anh và em. Hình như "cảnh trí hữu tình đã trở thành bà mối xe duyên cho những lứa đôi đa tình, đa cảm". 3. Đoạn thơ là hai khổ thơ mở đầu bài "Thơ duyên", tả khung cảnh mộ buổi chiều thu thật thoáng đãng, êm ái và thơ mộng đến ngất ngây và con đường mùa thu nhỏ nhắn, xinh xắn, tình tứ như biết làm "duyên" với con người, với đất trời. Tất cả được cảm nhận qua một trái tim "xôn xao vô cùng" và một tâm hồn "lần đầu rung động nỗi thương yêu". II. Bình giảng khổ thơ thứ nhất: Buổi chiều rất thơ và mộng như trong cõi mộng: 1. Hai câu đầu "Chiều mộng hoà thơ trên nhánh duyên. Cây me ríu rít cặp chim chuyền " Đã mở ra một khung cảnh chiều thu thật tươi tắn, thoáng đãng, êm ái rất thơ và mộng. Qua tâm hồn của chàng thi sĩ có cặp mắt "xanh non" và "lần đầu rung động nỗi thương yêu", cuộc đời, cảnh vật, đất trời đâu đâu cũng như có "duyên" với nhau, cặp đôi với nhau trong tình yêu thương. Chú ý, phân tích từng chi tiết, những danh từ, tính từ, động từ được sử dụng. Không phải một buổi chiều như bất kì buổi chiều nào mà là "chiều mộng". Chiều mộng làm gì? "hòa htow". Ở đâu? "trên nhánh duyên". Từ "nhánh" và "duyên" đều rất gợi cảm và giàu ý nghĩa thẩm mĩ. "Cây me ríu rít". Từ "ríu rít" cũng rất hay và hàm xúc. Rồi "cặp chim chuyền", "cặp" chim chứ không phải hai, hay đôi chim., "hai" hay 'đôi" mới chỉ số lượng, "cặp" còn có ý nghĩa gắn bó thân mật. 2. Hai câu sau: "Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá, Thu đến nơi nơi động tiếng huyền." được nhà thơ mở ra với không gian xao rộng. Bầu trời soi vào vòm lá bởi sắc xanh mượt mà, tươi sáng. Tất cả cảnh sắc và khoogn gian mùa thu như cất tiếng nhạc du dương, huyền diệu, trầm bổng: "nơi nơi động tiếng thuyền". Chú ý phân tích bình từ "đổ" và "xanh ngọc". Như vậy, cái đẹp thơ mộng của bức tranh mùa thu được Xuân Diệu tả qua các góc độ phong phú, đa dạng, nhiều chiều, chiều tầng: qua những nét duyên dáng của nhánh cây, qua âm thanh ríu rít của tiếng chim, qua sắc xanh bầu trời đổ xuống muôn lá, và qua âm thanh huyền diệu của "tiếng thu"; cuối cùng là sự hòa điệu, hô ứng, tương giao rất nhịp nhàng của cảnh vật, đất trời, chim muông, cây lá. Đúng như một cảnh chiều thu tươi tắn, thơ mộng, trong sáng rất khác với cảnh chiều hôm mà ta thường thấy trong Thơ mới nói chung và trong thơ Xuân Diệu nói riêng được miêu tả quạnh quẽ, hiu hắt, xa vắng: "Êm êm chiều ngẩn ngơ chiều, Lòng không sao cả, hiu hiu khẽ buồn..." (Chiều - Xuân Diệu) III. Bình giảng khổ thứ hai 1. Con đường mùa thu với cảnh vật xinh xắn, tình tứ như có hồn, rất "duyên" được cảm nhận qua trái tim thi sĩ "lần đầu rung động nỗi thương yêu". "Con đường nho nhỏ, gió xiêu xiêu, Lả lả cành hoang nắng trở chiều. Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn. Lần đầu rung động nỗi thương yêu " Cảnh thơ của Xuân Diệu trong bốn câu thơ trên có vẻ yên tĩnh mà vẫn có cái gì đó xôn xao từ trong lòng sự vật, chỉ cảm thấy được nhưng khó phân tích, diễn giải ra một cách rõ ràng. Bình về mấy câu thơ trên, Hoài Thanh đã viết: "Cảnh như muốn theo lời mà tan ra. Nó chỉ mất đi một tí rõ ràng để được thêm nhiều thơ mộng". Cái hay đặc sắc của những câu thơ Xuân Diệu là tác giả đã sử dụng một cách tài tình các từ láy: "nho nhỏ", "xiêu xiêu", "lả lả". Những từ láy và đồng thời cũng là tính từ ấy vừa mô tả được những đường nét, dáng điệu mềm mại, xinh xắn, nhỏ nhắn, duyên dáng của cảnh vật, vừa tạo được một nhạc điệu thật quyến luyến, vấn vương. Đây có thể được xem là câu thơ hay nhất của Xuân Diệu và của thơ ca lãng mạn Việt Nam. 2. Trước cảnh chiều thu tươi sáng, êm dịu, giao hòa, tình tứ ấy, trong tâm hồn thi sĩ cũng dâng lên nỗi khao khát giao cảm và rung động không kìm được lòng mình với những rung động của tình yêu buổi đầu: "Trời đã thắm, lẽ đâu vườn cứ nhạt? Đắn đo gì cho lỡ mộng sóng đôi!" "Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn Lần đầu rung động nỗi thương yêu." IV. Kết luận Đoạn thơ ta bình giảng, cũng như cả bài "Thơ duyên" viết về chiều thu nhưng rất trong sáng, tươi tắn, không kiêu sa lộng lẫy mà quen thuộc, êm dịu, gợi cảm. Nó cũng khác với những chiều thu buồn vắng, xa xăm, mông lung trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng. Trước cảnh trí hữu tình, trái tim thi nhân đã khơi dậy tình yêu buổi ban đầu, một tình yêu còn e ấp, dịu nhẹ thể hiện sự khát khao hòa hợp, sóng đôi trong tâm tưởng nhịp nhàng với khung cảnh chiều thu rất "duyên", rất mộng.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1434
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
I. Nêu ngắn gọn về tác giả, bài thơ, đoạn trích 1. Xuân Diệu, tên thật là Ngô Xuân Diệu (1916 - 1985) là "nhà thơ mới nhất" . .. "nhà thơ say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt . . ." (Hoài Thanh). Thơ ông có nhiều cách tân táo bạo và đã thành công rất vẻ vang. Trước Cách mạng, ông có hai tập thơ "Thơ thơ" và "Gửi hương cho gió" rất nổi tiếng, được độc giả yêu thích. 2. Bài thơ "Vội vàng" rút từ tập "Thơ thơ" (1938). Đây là bài thơ rất tiêu biểu cho hồn thơ Xuân Diệu trước Cách mạng. Cả bài thơ là tiếng nói của một tâm hồn yêu thơ, yêu cuộc sống đến hăm hở, vồ vập, đắm say và cuồng nhiệt. Nhà thơ nhạn thấy cuộc đời nơi trần thế này tuyệt đẹp mà đời người lại quá ngắn ngủi só với thời gian vĩnh hằng. Vì vậy, phải chạy đua với thời gian để mỡi giây phút của cuộc sống đều trở nên có ý nghĩa. Đoạn trích trên đây nằm ở giữa bài thơ và cũng là một trong những đoạn tiêu biểu cho chủ đề bài thơ. II. Phân tích đoạn thơ 1. Hai câu thơ đầu diễn tả thời gian trôi chảy rất nhanh, theo quy luật nghiệt ngã của vũ trụ không thể nào có thể líu kéo được, nhất là ngày xuân, tuổi xuân thấm thoắt như bóng cây qua cửa sổ. 2. Sáu câu thơ tiếp :Xuân Diệu nhận thức được một sự thật phũ phàng: thiên nhiên vũ trụ vô hạn, tồn tại vĩnh cửu, trong khi dó cuộc sống của con người thì ngắn ngủi, hữu hạn. Vì vậy, thi sĩ cảm thấy lo lắng, băn khoăn đến mức trở thành một nỗi hốt hoảng chạy đua với thời gian. Nội dung cơ bản của tám câu thơ trên tuy được phân thành hai ý nhỏ nhưng đều tập trung làm nổi rõ một nghịch lí trớ trêu, éo le giữa cái quy luật nghiệt ngã cảu thời gian chảy trôi, nhanh chóng, không có gì có thể cưỡng được với khát vọng hưởng thụ cuộc sống hạnh phúc giữa mùa xuân và tuổi trẻ của thi nhân. Cái nghịch lí ấy được tô đậm bằng những cặp từ ngữ, hình ảnh tương phản: "đương tới >< "đương qua"; "còn non" >< "sẽ già"; "lòng tôi rộng >< "lưới trời cứ chật" . .. và cái cấu trúc sonh hành "xuân hết // "cũng mất". 3. Ba câu cuối: Sự nuối tiếc đối với cuộc đời, đất trời của Xuân Diệu đã giúp cho nhà thơ đặc biệt nhạy cảm với thời gian: "Mùi tháng, năm đều rớm vị chia phôi, Khắp sông, núi vẫn than thầm tiễn biệt" Là "nhà thơ mới nhất", Xuân Diệu đã tiếp thu và vận dụng tài tình "phép tương giao" các giác quan của lối tượng trưng Pháp. Vì thế, Xuân Diệu đã "ngửi" được mùi vị thời gian, "nhìn" được giọt lệ chia phôi và "nếm" cái vị chia lìa, "nghe" được lời than thầm tiễn biệt âm vang khắp sông núi . . . 4. Tất cả những điều đã phân tích cho ta thấy rõ: Xuân Diệu hơn ai hết đã có ý thức khẳng định cái tôi cá nhân của mình. Qua đoạn thơ, người đọc cũng cảm nhận được một nét đặc sắc cảu hồn thơ Xuân Diệu "say đắm với tình yêu và hăng hái với mùa xuân, thả mình bơi trong nắng, rung động với bướm chim, chất trong tim mây trời thanh sắc . . ." (Thế Lữ).
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1433
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
I. Giới thiệu vài nét về tác giả, bài thơ và vị trí đoạn trích 1. Vài nét về tác giả Xuân Diệu và bài thơ "Vội vàng" (xem đề 2). 2. Đây là đoạn cuối bài thơ thể hiện đỉnh cao mạch cảm xúc tuôn trào, khát khao hưởng thụ "sự sống" ở độ non tơ, căng đầy "mơn mởn" đến độ vồ vập, hăm hở, cuồng nhiệt. II. Bình giảng đoạn thơ 1. Ở những phần trên của khổ thơ, với đối mắt "xanh non" của một thi sĩ có niềm khát khao giao cảm mãnh liệt và có trái tim "say đắm cảnh trời. . .", Xuân Diệu đã khám phá ra một cách tinh tế những nét đẹp hấp dẫn của thiên nhiên và sự sống, của mùa xuân và tình yêu như đang mời gọi thi nhân: "Này đây . . .Này đây . . . Tháng giêng ngon như một cặp môi gần". Nhưng mặt khác, nhà thơ nhận ra tạo hóa có sinh ra con người để mãi mãi hưởng thụ thú vui của trần gian đâu! Màu xuân, tuổi trẻ xẽ trôi qua nhanh chóng, còn cuộc đời quá ngắn ngủi: "Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại Còn trời còn đất nhưng chẳng còn tôi mãi Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời". Cho nên nhà thơ "giục giã" chúng ta phải "nhanh lên", "vội vàng" lên để tận hưởng bữa tiệc trần gian khi mà "mùa chưa ngả chiều hôm": "Ta muốn ôm Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn" Giauwx những câu thơ dài, đột ngột xen vào câu thơ ngắn chỉ có ba chữ như thể vòng tay đang "ôm bó", quấn quýt cả sự sống mới bắt đầu non tơ của thi sĩ. 2. Sáu câu thơ tiếp theo đã diễn tả cảm xúc sôi trào mãnh liệt của niềm khoa khát hưởng thụ sự sống của mùa xuân, tuổi trẻ và tình yêu đến độ "say đắm", "nồng nàn", "tha thiết" đến độ hăm hở, cuồng nhiệt, gấp gáp. Điều này được thể hiện rõ nhất ở thủ pháp điệp: "ta muốn". Nhưng mỗi lần điệp lại đi liền với một động từ chỉ trạng thái yêu đương mỗi lúc một mãnh liệt, nồng nàn hơn: "ôm", "riết", "say", "thâu". Chú ý thêm những nét nghệ thuật đắc sắc của đoạn thơ còn ở chỗ tác giả sử dụng các liên từ "và" rất đúng chỗ cùng điệp từ "cho" với nhịp độ tăng tiến; gắn với một loạt từ láy là tính từ chỉ cảm giác hưởng thụ vật chất cụ thể: "chuếnh choáng", "đã đầy", 'no nê" đã tô đậm một tứ thơ rất Xuân Diệu: niềm khát khao tận hưởng các vị ngon của cuộc đời đến độ tham lam, ham hố, đếm độ thỏa thuê, sung mãn. Đúng như có lần nhà thơ đã viết "sống toàn tâm, toàn trí, toàn hồn - sống toàn thân và thức nhọn giác quan" (Thanh niên). 3. Câu thơ cuối của đoạn thơ là câu cảm thán và là câu kết thúc bài thơ "Hỡi xuân hồng Ta uốn cắn vào ngươi". Câu thơ cất lên niềm yêu đời và khát khao sống chưa từng có trong thơ ca Việt Nam. Các từ "hồng", "cắn" thật là giàu ý nghĩa liên tưởng, rất hàm xúc và gợi cảm: mùa xuân ngon quyến rũ như trái chín ngon ngọt của vường trần, như mời mọc, đầy hấp dẫn . .. 4. Kết luận Đây là đoạn thơ hay nhất của bài "Vội vàng": vừa sâu sắc về nội dung, vừa độc đáo về nghệ thuật. Đó là sự kết tinh hồn thơ Xuân Diệu: yêu đời, yêu cuộc sống đến say mê, cuồng nhiệt. Xuân Diệu vốn không chấp nhận cuộc sống cơ lỡ, lưng chừng nhạt nhẽo giữa "cái ao đời phẳng lặng đìu hiu". Ông muốn luôn luôn đốt cháy những phút giây của đời để làm tỏa sáng ngọn lửa "huy hoàng" thật có ý nghĩa của sự sống, để đánh dấu sự có mặt của cá nhân mình trên cõi thế gian này. Đó cũng chính là tính nhân bản, nét tích cực trong nhân sinh quan Xuân Diệu trước Cách mạng.
|
|
|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 05/07/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1432
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
A. Yêu cầu - Có thể bình giảng theo trật tự từng câu thơ, cũng có thể bổ dọc để bình giảng theo những ý lớn của khổ thơ. Dù bình giảng theo cách nào thì thí sinh vẫn phải làm nổi bật cảm xúc trữ tình, cách cảm nhận thiên nhiên tinh tế, mới mẻ của Xuân Diệu và những nét đặc sắc về phương diện nghệ thuật của đoạn thơ. - Nắm vững kĩ năng một đoạn thơ, diễn đạt mạch lạc, văn viết trong sáng. B. Ý chính cần có Ý 1: Giới thiệu bài thơ và vị trí của đoạn thơ: - "Đây mùa thu tới" được rút từ tập "Thơ thơ", xuất bản năm 1938, tập thơ đầu tay của Xuân Diệu. - Bài thơ bộc lộ cảm xúc trữ tình của Xuân Diệu qua bức tranh miêu tả bước đi của đất trời ở thời điểm chuyển từ mùa nóng xang mùa lạnh, từ hạ xang thu. Đây là một trong những tác phẩm thể hiện đầy đủ nhất cách cảm nhận thiên nhiên tinh tế, mới mẻ và nghệ thuật thơ đầy tính cách tân của một tác giả được gọi là "nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới". (Hoài Thanh) - Bài thơ gồm bốn khổ. Bài thơ mà ta bình giảng nằm ở khổ thứ hai, có vị trí đặc biệt trong mạch vận động của thi tứ. Ý 2: Tâm trạng trữ tình và cách cảm nhận thiên nhiên tinh tế của Xuân Diệu. a. So với khổ thơ đầu, ở khổ thơ thứ hai này, cảnh thu được mở rộng. Nhưng bước đi của thiên nhiên vẫn được cảm nhận chủ yếu ở phía cận cảnh. Trong vườn: hoa cỏ, cây cối đổi sắc, những luồng gió lạnh tràn về, lá "run rẩy rung rinh", tất cả như đang chia lìa, rời bỏ nhau để cuối cùng chỉ còn trơ lại "đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh'. Cảnh mở ra trong không gian mà nói được bước đi của thời gian. Chi tiết nào cũng gợi buồn. Tất cả hợp lại thành bức tranh thiên nhiên thấm đẫm tâm trạng của cái tôi nhạy cảm với sự sống và khát khao giao cảm với đời. b. Hai câu trước của khổ thơ nói về những thay đổi của thiên nhiên được cảm nhận chủ yếu qua thị giác. Bằng mắt thường có thể nhìn thấy hoa rụng. Cũng có thể quan sát bằng mắt thường cảnh "trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh". Chữ "rũa" có bản viết "rủa". Viết "rủa" là câu thơ làm nổi bật sự tương phản, xung đột giữa "sắc đỏ" và "màu xanh". Có người nói Xuân Diệu đã mượn cách diễn đạt của văn chương Pháp. Chữ "rũa" lại có ý nghĩa là bào mòn, mài mòn dần. "Sắc đỏ" đang bào mòn "màu xanh". Viết như thế, câu thơ gợi tả được thay đổi, sự ngả màu, có cả cái gì như là sự tan rã đang diễn ra âm thầm mà dữ dội trong thiên nhiên. Dù viết thế nào thì ý thơ vẫn nói về sự thay đổi. Cảnh tàn mà vẫn tươi, vẫn trong sáng, vì "sắc đỏ" là màu rực rỡ, thuộc gam màu nóng. c. Ở hai câu thơ sau, sự thay đổi của thiên nhiên được diễn tả bằng một chi tiết tạo hình độc đáo giống như bức vẽ bằng mực nước theo kiểu hội họa phương Đông. Trên cái nền tương phản, xung đột giữa "sắc đỏ" và "màu xanh", nổi lên vài nhánh cây khô gầy guộc, mỏng manh, với mấy chiếc lá còn sót lại đang run rẩy trước gió, chuẩn bị lìa cành. Đang có hai cách hiểu về câu thơ thứ ba. Cách hiểu thứ nhất:những luồng gió làm lá "run rẩy rung rinh". Vẫn là hình ảnh có thể nhìn thấy bằng mắt thường nhưng cái nhìn thị giác đang chuyển dần vào cái nhìn nội tâm. Bởi vì, lá "run rẩy rung rinh" là hình ảnh nhân hóa, làm nổi bật cái lạnh được cảm nhận bằng xúc giác. Cách hiểu thứ hai: có "những luồng run rẩy", luồng sống đang "rung rinh" trong gân lá, cuống lá. Sự vận động này không nhìn thấy bằng mắt thường, mà chỉ có thể cảm nhận bằng da thịt. Hiểu theo cách nào thì trước mắt ta vẫn là một hình ảnh thiên nhiên nói lên hồn thơ rất riêng của Xuân Diệu. Nhìn vào đâu, Xuân Diệu cũng thấy sự sống đang phập phồng, run rẩy. Sự sống ấy được nhà thơ cảm nhận tinh tế bằng tất cả các giác quan, trong đó có xúc giác. Hai câu thơ, 14 tiếng mà đã có 10 tiếng diễn tả ấn tượng của xúc giác. Ở câu thơ trên, thì đó là 4 tiếng láy phụ âm "run rẩy rung rinh". Sáu tiếng câu dưới nếu tách riêng, tiếng nào cũng có khả năng gợi tả cái gầy để tăng cường ấn tượng về cái lạnh được cảm nhận bằng xúc giác: "nhánh" - "khô" - "gầy" - "xương" - "mỏng manh". Ý 3: Tổ chức lời thơ của Xuân Diệu hết sức mới mẻ Xuân Diệu đưa vào thơ lối nói rất "Tây": "Hơn một loài hoa" . . . Tổ chức lời thơ của ông thường có khuynh hướng xóa nhòa ý nghĩa biểu vật cụ thể để diễn tả cái mỏng manh, mơ hồ và làm tăng ý nghĩa biểu cảm: "Những luồng run rẩy rung rinh lá". Xuân Diệu sử dụng thành công kĩ thuật láy phụ âm mà ông học được ở thơ ca Pháp "run rẩy rung rinh". Kết luận: Có thể khẳng định: Khổ thơ bình giảng là khổ thơ đặc sắc nhất của tác phẩm. (Đáp án môn Văn - khối D thi Đại học và Cao đẳng năm 2002)
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1431
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
1. Giới thiệu sơ lược về tác giả, bài thơ, đạon trích - "Đây mùa thu tới" là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất về mùa thu của Xuân Diệu. Nó được rút từ tập "Thơ thơ", xuất bản năm 1938. - bài thơ bộc lộ cảm xúc trữ tình của Xuân Diệu qua một bức tranh miêu tả bước đi của đất trời ở thời điểm chuyển mùa từ nóng qua lạnh, từ hạ sang thu. Cả bài thơ là một nguồn cảm xúc dạt dào cảu thi nhân về mùa thu. Thu buồn mà rất đẹp, nên được cảm nhận một cách rất tinh tế, mới mẻ bằng cặp mắt "xanh non" với một nghệ thuật đầy tính chất cách tân của một "nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới". - bài thơ gồm bốn khổ khơ. Đây là khổ thứ nhất, có một vị trí đặc biệt, đóng vai trò mở đầu cho một tứ thơ về mùa thu. - Mùa thu là một thi đề vô cùng hấp dẫn đôi với các thi nhân, các nhà thơ nổi tiếng của nhân loại và dân tộc đãcó những bài thơ rất đặc sắc về mùa thu. Bài thơ này của Xuân Diệu cũng nằm trong mạch cảm súc chung ấy, nhưng đã được nâng lên bằng cái nhìn nghiêng về thời gian, nghiêng về cái động. II. Hai câu đầu: Hình ảnh rặng liễu buồn, chan chứa tâm trạng, sự sống. - Nhà thơ Xuân Diệu cảm nhận "Đây mùa thu tới" qua sự chuyển đổi rất mực tinh vi của đất trời. - Khác với thơ ca truyền thống thường cảm nhận mùa thu bằng những hình ảnh mang màu sắc ước lệ quen thuộc: sen tàn, cúc nở, lá ngô đồng rụng. Xuân Diệu đón nhận mùa thu bằng tín hiệu hình ảnh rặng liễu có dáng hình cụ thể, có tâm hồn sầu muộn rất con người. - Hình ảnh rất buồn mà vẫn đẹp, vẫn ẩn chứa một sức sống bên trong, vì cách so sánh mới lạ, vì nỗi buồn của tuổi trẻ và tình yêu đã xôn xao trong cảnh vật. - Nét đặc sắc nghệ thuật ở hai câu thơ này là tác giả đã sử dụng thủ pháp láy âm rất tài tình mà ông đã học được ở thơ ca hiện đại Pháp ("đìu hiu", "chịu", tang - hàng", "buông - xuống" . . .). Điều đó đã tạo cho câu thơ một nhạc điệu buồn, du dương, trầm bổng rất gợi cảm. - Xuân Diệu dùng hình ảnh nhân hóa đặc sắc (so sánh liễu với thiếu nữ). Nó bộc lộ quan điểm thẩm mĩ mới mang ý nghĩa nhân bản của Xuân Diệu. II. Hai câu sau: Không gian thu với sắc vàng thơ mộng, huyền ảo, tươi sáng thanh nhẹ - Nhạc điệu có sự thay đổi nhờ điệp ngữ "mùa thu tới" như tiếng reo thầm biểu lộ sự ngạc nhiên, ngỡ ngàng khi mùa thu đột ngột xuất hiện với vẻ đẹp bất ngờ, hay có thể hiểu đó là sự thảng thốt pha chút tiếc nuối trong tâm hồn con người? - Khác với mùa thu trong thơ xưa thường là một mùa thu đã được định hình, mùa thu Xuân Diệu đang được hình thành, đang vận động. - Hình ảnh "áo mơ phai" "dệt lá vàng" là một hình ảnh đẹp, sắc màu tươi sáng thanh nhẹ. Chú ý phân tích động từ "dệt" thể hiện sự chảy trôi của thời gian, cái động thái lấn chiếm từ từ của trời thu thay hạ. Kết luận: - Chỉ qua một đoạn thơ mà Xuân Diệu đã diễn tả rất đúng cái không gian thơ mộng, cái thần của mùa thu: buồn mà không ảm đạm, buồn mà vẫn đẹp, vẫn nên thơ, nên họa. - Cảnh thu rất lãng mạn mà cũng rất Việt Nam, vừa truyền thống, vừa hiện đại.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1430
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
Mở bài Xuân Diệu (1916 - 1985) là nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào thơ mới và là một trong những cây bút lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại. Thơ Xuân Diệu có phong cách độc đáo và rất hấp dẫn. Dưới đây là những nét chủ yếu của phong trào thơ ông. Thân bài 1. Có thể nói Xuân Diệu là một trái tim lớn, một nguồn tình cảm yêu đời, yêu cuộc sống trần thế một cách mãnh liệt đến say mê cuồng nhiệt (Trước khi mất, Xuân Diệu để lại cho đời những vần thơ cảm động: ''Hãy để cho tôi được giã từ Vẫy chào cõi thực để vào hư Trong hơi thở chót dâng trời đất Cũng vẫn si tình đến ngất ngư" (Không đề) Đây là một cá tính tự nhiên của Xuân Diệu. Nhưng cá tính này cũng có liên quan đến hoàn cảnh gia đình và môi trường tự nhiên, xã hội nơi ông sinh ra và lớn lên. Xuân Diệu chịu ảnh hưởng rất nhiều từ người bố của mình. Đó là một "ông đồ Nghệ" cần cù, chịu khó, rất ham học. Mẹ Xuân Diệu người Gò Bồi, Quy Nhơn. Xuân Diệu lớn lên ở đây, nơi có "gió nồm thổi lên tươi mát". Sau này ra Hà Nội rồi vào Huế học. Cảnh lộng lẫy của đất trời Thăng Long, cùng với vẻ đẹp đầy mộng mơ của Huế, gió nồm nam, biển dạt dào Quy Nhơn đã khơi dậy ở tâm hồn Xuân Diệu một tình yêu đời say đắm. 2. Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào thơ mới, nghĩa là có ý thức sâu sắc khẳng định cái tôi cá nhân của mình bằng nghệ thuật thơ ca, nhưng khác với nhiều nhà thơ khác trong phong trào thơ mới, Xuân Diệu không đem cái tôi của mình đối lập với đời và tìm cách thoát ly đời, hiểu theo nghĩa trần thế nhất: là con người, là trời đất, là hoa lá cỏ cây ở quanh ta đây. Ông quan niệm được sống mãi với đời là niềm hạnh phúc tuyệt với nhất. Mà trên đời này có gì đáng yêu hơn là mùa xuân, tuổi trẻ và tình yêu. Đó là nguồn thơ phong phú của ông, là đề tài chủ yếu của thơ ông. Hoài Thanh viết: "Thơ Xuân Diệu còn là một nguồn sống rào rạt chưa từng có ở chốn nước non lặng lẽ này. Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình. Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn, tha thiết". 3. Với niềm khao khát giao cảm hết mình với cuộc đời trần thế này, một cách tự nhiên, Xuân Diệu cũng là nhà thơ của tình yêu, vì tình yêu là niềm giao cảm mãnh liệt nhất và trần thế nhất. Đây là loại tình cảm bao giờ cũng đòi hỏi cao độ "vô biên và tuyệt đích" . . . Người ta đã tặng cho Xuân Diệu danh hiệu: "là ông hoàng của thơ tình yêu". 4. Tha thiết với mùa xuân, tuổi trẻ và tình yêu, Xuân Diệu đã đi đến một cách tân đáng kể về thi pháp. Nếu thơ văn xưa coi thiên nhiên là chuẩn mực của cái đẹp, thì giờ đây Xuân Diệu đảo ngược lại: Đối với ông, không có gì hoàn mĩ bằng con người, nhất là phụ nữ, ở giữa tuổi xuân. Một quan điểm thẩm mĩ như vậy đã tạo nên trong thế giới nghệ thuật của Xuân Diệu những hình tượng giàu sức sống và đầy xuân tình, xuân sắc. Tuy nhiên trong xã hội ngày trước, Xuân Diệu cảm thấy tình yêu say đắm, nồng nhiệt của mình không được đáp ứng xứng đáng, tựa như "nước đổ lá khoai". Với Xuân Diệu, thơ mới đào sâu vào tâm hồn của cái tôi cá nhân, cá thể. Và "càng đi sâu càng lạnh". Cho nên con người yêu đời là vậy mà lắm lúc cảm thấy cô đơn, thậm chí muốn trốn đời, trốn cả bản thân mình nữa (Cặp hài vạn dặm). Vì vậy trong thế giới nghệ thuật của Xuân Diệu, mùa xuân và bình minh gắn liền với những chiều thu tàn và những đêm trăng lạnh. 5. Xuân Diệu chịu ảnh hưởng của hai nền văn chương Đông và Tây, cổ điển và hiện đại (Xuân Diệu đặc biệt chịu ảnh hưởng của trường thơ tượng trưng của Pháp - như Bô - đơ - le; Rin - bô; Véc - len). Thơ tượng trưng hết sức đề cao quan hệ tương giao giữa các giác quan cùng tính tạo nhạc của thơ và mài sắc các giác quan để cảm nhận và diễn tả được những biến thái tinh vui . . . nhất của tạo vật và lòng người. Kết luận: Là nhà thơ của niềm khát khao giao cảm với đời, Xuân Diệu đã dễ dàng gắn bó với cách mạng, với nhân dân. Từ một nhà thơ tiêu biểu cho phong trào Thơ mới lãng mạn, Xuân Diệu đã trở thành nhà thơ lớn của nền văn học cách mạng. Là một nghệ sĩ đa tài, sau cách mạng, Xuân Diệu càng phát huy năng khiếu của mình trên nhiều thể loại: bút kí, tùy bút. dịch thuật, đặc biệt là nghiên cứu, phê bình văn học. Ở lĩnh vực nào ông cũng có những đóng góp rất có giá trị.
|
|