|
|
|
A. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN BẢN 1. Xuất sứ: Chuyện Người con gái Nam Xương thuộc tác phẩm Truyền kì mạn lục, được viết ở thế kỉ XVI. Đây là tập truyện viết bằng chữ Hán, khai thác các truyện cổ dân gian và các truyền thuyết lịch sử, dã sử của Việt Nam. Tập truyện này được coi là "thiên cổ kì bút" (bút lạ nghìn đời), "là áng văn hay của bậc đại gia". Chuyện Người con gái Nam Xương có nguồn gốc từ truyện kể dân gian : Vợ chàng Trương, là thiên thứ 16 trong 20 truyện của Truyền kì mạn lục. 2. Tóm tắt Vũ Thị Thiết (còn gọi là Vũ Nương) quê ở Nam Xương, là người con gái thùy mị, nết na, tư dung tốt đẹp. Chồng nàng là Trương Sinh, con nhà khá giả nhưng không có ọc và có tính đa nghi, hay ghen. Cuộc sống gia đình đang êm ấm thì chàng Trương Sinh phải đầu quân đi đánh giặc. Ít ngày sau, Vũ Nương sinh con trai, đặt tên là Đản. Bà mẹ Trương Sinh vì nhớ con mà sinh bệnh, nàng hết lòng chăm sóc nhưng được ít lâu là bà mất. Năm sau, Trương Sinh trở về, bé Đản không chịu gọi chàng là cha mà một mực nói cha Đản thường buổi tối mới đến. Trương Sinh nghi ngờ vợ, Vũ Nương không minh oan được, bèn gieo mình xuống sông Hoàng Giang tự vẫn . Một đêm, thấy bóng cha trên tường, bé Đản gọi đó là cha, lúc bấy giờ Trương Sinh mới tỉnh ngộ nhưng đã quá muộn. Cùng làng với Trương Sinh có người họ Phan, có lần cứu được thanh rùa Ling Phi, vợ vua Nam hải, sau bị nạ đắm tuyền được Linh Phi cws được mạng, rồi được khoản đãi. Trong bữa tiệc, Phan Lang nhận ra Vũ Nương nay đã là người thủy cung. Nghe Phan Lang kể chuyện nhà, Vũ Nương thương nhớ chồng con muốn về dương thế. Nàng nhờ Phan Lang nói với Trương Sinh lập đàn giải oan, nàng sẽ trở về. Nhưng cuối cùng, Vũ Nương chỉ hiện lên giữa dòng sông, nói vài câu với chồng rồi biến mất. 3. Bố cục Đạon 1 (từ đầu đến "Lo liêu như với cha mẹ đẻ mình"): CUộc hôn nhân giữa Trương Sinh và Vũ Nương, sự xa cách vì chiến tranh và phẩm hạnh của nàng trong thời gian xa cách. Đoạn 2: (tiếp đến "Nhưng việc đã qua rồi"): Nỗi oan khuất và cái chết bi thảm của Vũ Nương Đoạn 3 (còn lại): Cuộc gặp gỡ giữa Phan Lang và Vũ Nương trong động Linh Phi, Vũ Nương được giải oan. 4. Đặc điểm nội dung và nghệ thuật - Thông qua câu truyện về cuộc đời oan khuất của một thiếu phụ đức hạnh "đẹp người, đẹp nết", Nguyễn Dữ đã làm nổi rõ một nghịch lý: người đàn bà hoàn hảo như thế đáng lẽ phải được hạnh phúc, nhưng trái lại, con người đó đã bị oan khuất phũ phàng đến nỗi tìm đến cái chết để giãi tỏ. Câu chuyện vừa có ý nghĩa ca tụng vừa có ý nghĩa ca ngợi vẻ đjep của lòng vị tha, của đức hạnh, vừa thể hiện số phận bi kịch của người phụ nữ trong xã hội phong kiến cũ, từ đó mà thể hiện ước mơ muôn thủa của con người: người tốt bao giờ cũng được đền trả xứng đáng, dù chỉ là ở một thế giới huyền bí. - Tác phẩm là một áng văn hay, tiêu biểu cho thể loại truyện truyền kì, thành công về nghệ thuật dựng truyện, khắc hạo nhân vật, kết hợp với tự sự trữ tình. B. ĐỊNH HƯỚNG TIẾP CẬN VĂN BẢN 1. Cuộc đời Vũ Nương nơi trần thế a) Phẩm chất, đức hạnh - Vũ nương là người phụ nữ bình dân, người phụ nữ của gai đình. Mở đầu câu truyện, nàng được giới thiệu: đó là người "tính đã thùy mị nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp". Sau đó, tác giả tập trung bút lực khắc họa vẻ đẹp đức hạnh của Vũ Nương trong các mối quan hệ với chồng, mẹ chồng và với bé Đản - đứa con yêu quí của nàng. Để làm nổi bật vẻ đẹp anfy, nhà văn đã đặt nhân vật của mình vào các hoàn cảnh, tình huống cụ thể: + Khi mới lấy chồng, trong cuộc sống vợ chồng bình thường, Vũ Nương cư sử đúng mực, ngường nhịn, "giữ gìn khuôn phép", nên dù chồng nàng có tính đa nghi, đối với vợ thường phòng ngừa quá mức, nhưng gia đình vẫn chưa từng phải đến thất hòa. + Buổi tiễn đưa chồng đi lính, Vũ Nương rót chén rượu đầy dặn dò chồng những lời tình nghĩa, đằm thắm thiết tha: nàng không trong mong vinh hiển, chỉ cầu mong chon chồng được bình an trở về; cảm thông với những nỗi vất vả gian lao mà chồng sẽ phải chịu đựng nơi trận mạc; nói lên nỗi khắc khoải nhớ nhung của mình. Những lời nói ân tình của nàng đã làm cho mọi người đều thấy xúc động. + Khi Trương Sinh đi chiến trận, xa chồng, Vũ Nương càng tỏ ra là một người vợ chung thủy, yêu thương chồng nhất mực. Mỗi khi thâý "bướm lượn đầy vườn - cảnh vui mùa xân hay "mây che kín núi" - cảnh buồn mùa đông, nàng lại chạnh lòng nỗi buồn thương, nhớ nhung da diết, lại "thổn thức tâm tình". Tiết hạnh ấy của Vũ Nương còn được khẳng định trong câu nói sau này của nàng với chồng: " . . . cách biệt ba năm giữ gìn một chữ tiết. Tô son điểm phấn đã từng nguôi lòng, ngõ liễu tường hao chưa từng bén gót . . .". Vũ Nương là người mẹ hiền dâu thảo. Trong lúc chồng đi vắng, nàng đã sinh con, một mình nuôi con nhỏ, vừa chăm lo săn sóc mẹ chồng khi già yếu ốm đau: hết sức thuốc thang, lễ bái thần phật, lấy lời ngọt ngào khuyên lơn. Lời trăn trối của bà mẹ chồng đã ghi nhận nhân cách và đánh giá công lao của Vũ Nương đối với gia đình nhà chồng, đó là sự đánh giá xác đáng và khách quan. Khi mẹ chồng mất, "nàng đã hết lời thương xót, phàm việc ma chay tễ lễ, lo liệu như cha mẹ đẻ mình". + Khi Trương Sinh trở về, bị chồng nghi oan, Vũ Nương cố phân trần để chồng hiểu rõ tấm lòng của mình. Nàng nói lên thân phận mình, nói lên tình nghĩa vợ chồng, và khẳng định tấm lòng thủy chung, trong trắng cầu xin chồng đừng nghi oan, nghĩa là nàng đã tìm hết cách cứu vãn, hàn gắn hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ tan vỡ. Trước sự vô tình, nhẫn tâm của chồng, nàng chỉ biết nói lên nỗi đau đớn, thất vọng khi không hiểu vì sao bị đối sử bất công, không có quyền tự bảo vệ ngay cả khi có "họ hàng, làng xóm bênh vực và biện bạch cho". Hạnh phúc gia đình ("thú vui nghi gia nghi thất") đã tan vỡ, tình yêu không còn ("bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa xẽ tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió . ."), cả nỗi đau khổ chờ chồng đến thanh hóa đá trước đây cũng không còn có thêt có được nữa ("đâu còn có thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa"). Cuối cùng, thất vọng đến tột cùng, cuộc hôn nhân đã không còn cashc nào hàn gắn nổi, mọi công sức, tâm sức xây đắp gia đình đều vô nghĩa, Vũ Nương đành mượn dòng nước Hoàng Giang để giãi tỏ tấm lòng trong trắng của kình. Nàng "tắm gội chay sạch" rồi ra bến Hoàng Giang, nói lời nguyện cầu trước trời cao soogn thẳm. Lời than của nàng như một lời nguyện, xin thầm sống chứng giám nỗi oan khuất và tiết giá trong sạch của nàng. Tìm đến cái chết là tìm đến cái tiêu cực nhất nhưng dường như đó là cách giải quyết duy nhất của Vũ Nương. Nàng đã mất tất cả, bị dồn đến đường cùng, nên đành tìm đến cái chết sau mọi cố gắng không thành. Hành động trẫm mình tự vẫn của nàng là hành đọng quyết liệt cuối cùng để bảo toàn danh dự, có nỗi tuyệt vọng đắng cay nhưng cũng có sự chỉ đạo của lí trí, không phải là hành động bột phát trong cơn nóng giận như truyện cổ tích miêu tả (Vũ Nương chạy một mạch ra bến Hoàng Giang đâm đầu xuống nước). Đối với người phụ nữ đức hạnh ấy, phẩm giá còn cao hơn cả sự sống. - Tóm lại" Vũ Nương là người phụ nữ xinh đẹp, nết na, hiền thục, đảm đang, hiếu thuận, thủy chung, hét lòng vun đắp hạnh phúc gia đình. Đó là người phụ nữ lí tưởng của gia đình. Một con người như thế đáng nhẽ ra phải được hưởng hạnh phúc trọn vẹn, vậy mà phải chết một cái chết oan uổng, đau đớn. b) Nỗi oan của Vũ Nương - Vũ Nương đã phải chịu nỗi kì oan. Rất mực chung thủy, đức hạnh vậy àm đã bị chồng nghi oan, bị đối sử bất công tàn nhẫn, đến mức nàng phải tìm đến cái chết để giải tỏ lòng mình. Nỗi oan và cái chết của Vũ Nương có nguyên nhân trực tiếp là từ cái bóng trên vách và lời nói của bé Đản nhwncg có nguồn gốc sâu sa từ người chồng đa nghi thô bạo. Trương Sinh được giới thiệu từ đầu là một người" có tính đa nghi, đối với vợ thường phòng ngừa quá sức" và là "con nhà hòa phú nhưng không có học". Nhưng cái đó sẽ là mầm mống của bi kịch khi có biến cố sảy ra. Biến cố đó chính là sự việc Trương Sinh đi lính xa nhà. Ngày trở về "mẹ mất, bế con đi thăm mộ mẹ, lòng chàng đã buồn, đứa con lại cứ quấy khóc, không chịu nhận cha, nó còn lấy làm lạ khi chàng nhận làm cha nó": "Ô hay!Thế ra ông cũng là cha tôi ư" và nó cho biết: "Ông lại biết nói" chứ khoogn như cha nó "chỉ nín thin thít". Tích cách của Trương Sinh, lại thêm tâm trạng nặng nề, không vui, tình huống bất ngờ với câu nói của bé Đản khiến cho anh ta không thể không nghi ngờ.. Trương Sinh gạn hỏi, đứa bé càng đưa thêm những thông tin ngày càng gay cấn: Trước đây, thường có một người đàn ông , đêm nào cũng đến (hàng động vụng chộm, lén lút), mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi (họ đã quá quấn quýt nhau, nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả (hẳn kẻ gian phu không muốn có sự có mặt của đứa bé). Trẻ hay nói thậy, mà những lời bé Đản nói lại chứa những sự kiện đáng ngờ, vì thế làm bùng lên ngọn lửa ghen tuông trong Trương Sinh, chàng "đinh ninh là vợ hư", mối nghi ngờ ngày càng lớn, không gì gỡ lại được. Tiếp đó là cách cư sử hồ đồ, độc đoán phũ phàng của Trương Sinh. Không có học, , thiếu trí tuệ, ghen tuông mù quáng, Trương Sinh không đủ bình tĩnh, sáng xuốt để phán đoán, phân tích, không thấy có sự vô lí trong lời đứa trẻ (người gì àm chỉ nín thin thít, cha lại không bao giờ bế con). Chàng bỏ ngoài tai những lời phân trần của vợ, khi vợ hỏi chuyện ấy là do ai nói thì lại hẹp hòi giấu kín, nếu Trương Sinh nói ra thì Vũ Nương đã có cơ hội giải thích. Trương Sinh cũng không tin những lời bênh vực của họ hàng, làng xóm cho Vũ Nương. Chàng bỏ lỡ tất cả cơ hội tránh được thảm kịch, và lại chỉ biết la um lên cho hả giận, rồi "mắng nhiếc nàng và đánh đuổi đi". Trương Sinh khoogn nghĩ đến nghĩa phu thê, cũng chả đếm xỉa gì đến công lao của Vũ Nương với gia đình, anh ta thiếu lòng tin và thiếu cả tình thương. Trương Sinh thô bạo, phũ phàng vì bản tính anh ta như vậy và vì cogn anh ta là con đẻ của chế độ nam quyền, trọng nam khinh nữ. Lễ giáo phong kiến hà khắc, không chấp nhận sự lầm lỡ của người phụ nữ, coi người phụ nữ khoogn giữ được tiết hạnh là mắc vào điều ô nhục nhất, điều đó chẳng khác nào đổ thêm dầu vào lửa ghen tuông của Trương Sinh. Thái độ tàn tệ, rẻ rúng của Trương Sinh với Vũ Nương có lẽ cũng còn vì cuộc hôn nhân không bình đẳng (Vũ Nương tự nhận mình là con kẻ khó; Trương Sinh là con nhà hào phú, có thể xin mẹ trăm lạng vàng để cưới vợ), biểu hiện quyền thế của kẻ giàu với người nghèo. Tất cả những thái độ đó đã làm cho Trương Sinh trở thành bạo chúa trong gia đình, chính Trương Sinh là kẻ bức tử Vũ Nương mà kẻ bức tử lại hoàn toàn vô can. Chiến tranh phong kiến cũng là một phần nguyên nhân dẫn đến bi kịch của Vũ Nương. Nó gây ra cảnh sinh li rồi góp phần dẫn đến cảnh từ biệt. Nếu không có chuyện Trương Sinh phải đi lính xa nhà thì Vũ Nương đã không phải chịu nỗi oan kia dẫu Trương Sinh có đa nghi, vô học. Như vậy, không phải cái bóng trên vách giết chết Vũ Nương mà chính là cái bóng đen trong tâm hồn Trương Sinh, cái bóng đen của các thế lực hắc ám trong xã hội phong kiến dung túng cho cái độc ác của các thế lực hắc ám trong xã hội ấy đã giết chết Vũ Nương. Bi kịch của Vũ Nương là lời tố cái xã hội phong kiến dung túng cho cái xấu xa, độc ác và thói ghen tuông vô lối, sự vũ phu của đàn ông, đồng thời bày tỏ niềm cảm thông của tác giả đối với số phận oan nghiệt của người phụ nữ trong chế độ gia tộc phụ quyền. 2. Cuộc sống Vũ Nương dưới thủy cung - kết thúc có hậu hay sự trở về dương thế trong thoáng chốc - Phần này hoàn toàn là những tình tiết kì ảo, sự "bịa đặt" đầy sáng tạo của Nguyễn Dữ so với truyện cổ tích, thể hiện tính chất truyền kì của truyện và tạo nên những giá trị thẩm mĩ mới mà truyện cổ tích chưa có. Những yếu tố kì ảo đó là: Phan Lang nằm mộng rồi thả rùa; Phan Lang chết đuối nhưng được cứu sống, được Linh Phi đãi yến tiệc và găp Vũ Nương, người cùng làng đã chết, rồi được sứ giả của Linh Phi rẽ nước về dương thế; Vũ Nương hiện về khi Trương Sinh lập đàn giải oan, nói lời từ biệt rồi đi vĩnh viễn. Cùng với yếu tố kì ảo là những yếu tố thực về địa danh (bến đò Hoàng Giang, ải Chi Lăng), về thời điểm lịch sử (cuối đời khai địa nhà Hồ), nhân vật lịch sử (Trần Thiên Bình), sự kiện lịch sử (quân Minh xâm lược nước ta), về trang phục của các mĩ nhân, về cảnh nhà Vũ Nương xau khi nàng mất, . .. Tác giả xen những yếu tố thực vào những yếu tố kì ảo khiến nó trở nên gần gũi và tăng độ tin cậy ở người đọc. Những tình tiết kì ảo, đặc biệt chi tiết kết thúc tác phẩm: "Vũ Nương ngồi trên một chiếc kiệu hoa đứng ở giữa dòng, theo sau có đến năm mươi chiếc xe cờ tán, võng lọng, rực rỡ đầy sông, lúc ẩn, lúc hiện", nàng nói vọng vào tạ từ chồng: "Thiếp cảm ơn đức của Linh Phi, đã thề sống chết cũng không bỏ. Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa", "rồi trong chốc lát, bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất" là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc, góp phần làm tăng giá trị của tác phẩm. Nó đã tạo nên kết thúc phần nào có hậu. Điều đó thể hiện ước mơ của con người về sự bất tử, về sự chiến thắng của cái thiện, cái đjep, thể hiện nỗi khát khao trong cuộc sống công bằng, hạnh phúc cho những con người lương thiện, đặc biệt là người phụ nữ. Mặt khác chi tiết ấy cũng còn có tác dụng hoàn chỉnh thêm nét đjep trong tĩnh cách của Vũ Nương. Sự hiện diện đẹp đẽ của Vũ Nương chứng tỏ nàng vô tội và cả thế giới ấy nàng đã được đối sử xứng đáng với phẩm giá của mình. Con người ấy, dù ở thế giới khác nhưng bản chất tốt đẹp vẫn không thể chết , vẫn nặng tình với quê hương, chồng con, vẫn khát khao được sum họp, được trả lại danh dự. Tuy nhiên, nó không làm giảm đi tính bi kịch của tác phẩm. Vũ Nương hiện về rực rỡ, uy nghi nhưng đó chỉ là hiển linh trong phút chốc, là ảo ảnh giây lát và vẫn xa cách giữa dòng. Nàng và chồng con vẫn chia cách âm dương đôi ngả, hạnh phúc đã vĩnh biệt trôi xuôi. Vũ Nương không trở về, cái lí của nàng đưa ra là vì ân đức của Linh Phi, nhưng chủ yếu là vì xã hội ấy đâu còn đất sống cho nàng, và lại người đã chết làm sao sống lại được. Vũ Nương vẫn phải gửi hình ẩn bóng ở chốn làng mây cung nước dù cho hạnh phúc trần thế mới là nỗi niềm mơ ước của nàng. Nguyễn Dữ đưa người đọc vào giấc mơ rồi lại khiến người ta sực tỉnh, trở về thực tại. Sương khói giải oan tan đi, chỉ còn lại sự thực cay đắng. Nỗi oan của người phụ nữ không đàn tràng nào có hóa giải được. Đàn cầu siêu của tôn giáo, sự ân hận muộn màng của người chồng không cứu được lại hạnh phúc. Kết thúc này có là giảm độ căng về tâm lí cho người đọc nhưng không làm mất đi sắc thái bi kịch của truyện. Giấc mơ cũng là lời cảnh tỉnh. Nó để lại dư vị ngậm ngùi và đem đến bài học thấm thía về việc giữ gìn hạnh phúc. Lời từ biệt của Vũ Nương như một lời tố cáo cái nhân gian phong kiến ngày xưa đầy oan nghiệt, khổ đau, không chốn dung thân cho người phụ nữ, điều đó thể hiện sự tỉnh táo trong cảm quan hiện thực của Nguyễn Dữ và tấm lòng thương cảm sâu sắc của nhà văn với thân phận người phụ nữ trong chế độ gia tộc phụ quyền xưa. Qua câu truyện từ thế kỉ trước, qua màn sương kì ảo, tự nhận vật Vũ Nương, Nguyễn Dữ đã phản ánh số phận bi thương của người phụ nữ, ngợi ca phẩm chất đẹp của họ, đồng thời gửi gắm thái độ phê phán của mình đối với xã hội đương thời cũng như những gì phi nhân gây đau khổ cho con người. Tác phẩm là thông điệp nhiều ý nghĩa vẫn còn giá trị đến ngày nay và cả mai sau. 3. Nghệ thuật đặc sắc - Chuyện Người con gái Nam Xương vượt lên tư cách một bản kể của văn học dân gian bởi sự tái tạo đầy tính nghệ thuật của Nguyễn Dữ. Tác giả xây dựng được nhiều tình huống để Vũ Nương bộc lộ trọn vẹn tính cách, phẩm hạnh của nàng, đặc biệt tình huống bất ngờ với những lời nói ngây thơ cảu bé Đản dẫn tới sự hiểu lầm của Trương Sinh. - Tác giả dẫn dắt câu truyện khéo léo, trên cơ sở cốt truyện có sẵn, thêm bớt làm câu truyện thêm sinh động, mang kịch tính và tăng cường tính bi kịch, đặc biệt chi tiết chiếc bóng và lời kể của bé Đản. - Tâm lí, tính cách nhân vật được khắc họa khá rõ nét. - Ngôn ngữ nhân vật có nhiều cách tân, những đối thoại, lời tự bạch của nhân vật (đặc biệt lời nói của bé Đản và lời nói của Vũ Nương). - Yếu tố kì ảo, hoang đường góp phần làm tăng giá trị hiện thực và ý nghĩa nhân văn của tác phẩm, làm nên đặc trưng của thể truyền kì. C - TÁC PHẦM - TỪ NHIỀU GÓC NHÌN 1. "Có thể nói, với "Chuyện Người con gái Nam Xương", Nguyễn Dữ đã vượt khỏi những công thức thông thường về hình tượng người phụ nữ trong thê truyền kì. Vũ Nương không phải là hình tượng một trang liệt nữ, nàng chỉ là một phụ nữ bình thường như bao người vợ, người mẹ khác trong đời thực. Phản ánh số phận bi thương của nàng, Nguyễn Dữ đã đề cập tới cái bi kịch muôn thuở của con người. Có lẽ, chính vì vậy mà Chuyện Người con gái Nam Xương vẫn còn sức hấp dẫn đối với người đọc ngày nay". (Nguyễn Đăng Na, Bình giảng văn học 9, NXB Giáo dục, 1995) 2, "Giữa thế sục bất định, dùng thể loại truyền kì siêu điển tích, Nguyễn Dữ còn dễ dàng thầm kín, gửi gắm vào tác phẩm "giấc chiêm bao" của bản thân (cũng là của dân gian): tích thiện phùng thiện . . (không "phùng nơi trần thế, thì ở cõi siêu phàm): Vũ Nương khổ nhục, bất hạnh cùng cực, nhưng nàng xẽ trở thành thần nữ cưỡi hiệu hoa dưới cờ quạt tán long rực rỡ bay về miền bất tử - "Giấc chiêm bao" nay xuất hiện liên tục trong Truyền kì mạn lục. Tại Lý Nhân (huyện Nam Xương xưa), ngoài xã Vũ Điện còn ba xã nữa lập đền thờ nữ thần Vũ Thị Thiết, giờ đây tất cả vẫn còn "tỏa khói hương" . . "Vũ Nương từ" được dân gian gọi nôm na là "Đền Mẫu". Một số cây bút nghiên cứu văn học dân gian đã muốn xem Đạo thờ Mẫu như tôn giáo riêng của người Việt. Mấy trăm năm trôi qua, dân gian gọi "Vũ Nương từ" là "Đền Mẫu" có nghĩa họ đã tôn vinh hạo khí anh linh Vũ Thị Thiết vào cõi thiêng "Mẹ sinh thành" vĩnh hằng của công đồng dân tộc. Chuyện Người con gái Nam Xương , "làn nước" và "khói sương". "Thác là thể phách, còn là tinh anh" - Làn nước có thể nhấn chìm "thể phách" Vũ Nương xuống tận đáy ghềnh nước âm u: nhưng rồi "khói hương" lại nâng cao "tinh ạm" Nưởng tử lên tót vời ánh dương ngưỡng vọng. Dân gian vạn đại lạc quan và coogn bằng (giờ đây chúng ta cũng đang có định hướng: xã hội công bằng) như đã cất lên bè hợp xướng phối âm cùng giấc mơ của Nguyễn Dữ: Ai ơi! Đừng lấy làm lo Dương xuân rồi cũng soi cho âm hàn! (Đặng Anh Đào - Người con gái Nam Xương và dòng sông kì ảo. Tiếng nói tri âm, NXB Trẻ, 1994)
|