|
|
giải đáp
|
Bài 1087
|
|
|
|
ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG - KHỐI C - NĂM 2004
Câu 1: Các ý chính: - Thơ Tố Hữu là thơ trữ tình chính trị, quan tâm thể hiện nhuwngc vấn đề lớn, lẽ sống lớn, tình cảm lớn của cách mạng và con người cách mạng. Khuynh hướng sử dụng nổi bật trong những sáng tác thơ cuối cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trở về sau. - Thơ Tố Hữu tràn đầy cảm hứng lãng mạn, luôn hướng người đọc tới một chân trời tươi sáng. - Thơ Tố Hữu có giọng tâm tình, ngọt ngào, tha thiết - giọng của tình thương mến. Nhiều vấn đề chính trị, cách mạng đã được thể hiện được những vấn đề của tình cảm muôn đời... - Thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc không chỉ trong nội dung mà còn trong nghệ thuật biểu diễn: cá thể thơ và thi liệu truyền thống được sử dụng nhuần nhuyễn, ngôn từ giản dị, vần điệu phong phú, nhạc tính dồi dào... Câu 2: Các ý chính: 1. Giới thiệu chung về tách giả Hồ Chí Minh, tác phẩm Nhật kí trong tù và hai bài thơ a. Hồ Chí Minh là nhà cách mạng vĩ đại đồng thời là tác giả văn học lớn.Sự nghiệp sáng tác văn học của Người rất phong phú, đa dạng gồm có ba bộ phận chính, trong đó thơ ca chiếm một vị trí nổi bật. Nhật kí trong tù (Ngục trung nhật kí) là tập thơ tiêu biểu được viết trong khoảng thời gian từ mùa thu 1942 đến mùa thu 1943, tức là thời gian Hồ Chí Minh bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam tại Quảng Tây (Trung Quốc). b. Chiều tối (Mộ) và Giải đi sớm (Tảo giải) là hai bài thơ rất có giá trị trong tập thơ Nhật kí trong tù (Ngục trung nhật kí), vừa gợi cảnh sống gian truân của Hồ Chí Minh trong nhuwngc ngày bị giam cầm vừa amng tính chất biểu hiện sâu sắc. Qua hai bài thơ, ta có thể nhận ra những nét đẹp trong tâm hồn tác giả Hồ Chí Minh. 2. Những điểm cần phân tích ở bài "Chiều tối" (Mộ) a. Dù lâm vào cảnh bị đọa đày, Hồ Chí Minh vẫn thể hiện tình cảm yêu mến thiết tha và thái độ đồng cảm chia sẻ với tạo vật, thiên nhiên vùng sơn cước lúc chiều buông. Cánh chim mỏi mệt (quyện điểu) và chòm mây lẻ loi (cô vãn) vừa là đối tượng của niềm thương cảm vừa chính là biểu hiện bên ngoài của nỗi buồn trong lòng người tù trên con đường đày ải, xa đất nước quê hương. b. Sự chuyển cảnh ở sau bài thơ cho thấy lòng yêu con người, yêu cuộc sống đặc biết sâu sắc của Hồ Chí Minh. Người đã nói về hình ảnh cô gái xóm núi xay ngô với biết bao cảm xúc trìu mến. Hồ Chí Minh hiểu được nỗi khổ nhọc của người lao động ( cụm từ ma bao túc được lặp lại theo trình tự đảo ngược ở câu 3 và 4 góp phần biểu đạt ý này) nhưng đồng thời cũng nhìn thấy nét đẹp riêng, chất thơ riêng ở những mảnh đời bình dị (điều ít gặp trong thơ cổ điển). c. Ánh hồng của lò than nhắc đến ở cuối bài (qua chữ hồng - nhãn từ trong tác phẩm) cho thấy tâm trạng Hồ Chí Minh đang chuyển biến từ buồn xang vui. Quan trọng hơn, nó giúp ta biểu hiện được niềm lạc quan đáng quí của nhà cách mạng. Rõ ràng trong hoàn cảnh nào Hồ Chí Minh cũng hướng tới phần tươi sáng của cuộc đời. 3. Những điểm cần phân tích ở bài :Giải đi sớm (Tảo giải) a. Giải đi sớm (I) cho thấy ngững gian truân của những chuyến đi đày, thể hiện cái nhìn thấu suốt, điềm tĩnh của Hồ Chí Minh đối với hoàn cảnh. Tư thế của Hồ Chí Minh là tư thế người chiến sĩ, chủ động sẵn sàng đương đầu cùng thử thách (được hình tượng hóa qua hình ảnh đêm tối) do ý thức được rất rõ những trở ngại tất yếu trên con đường đang dần bước (chú ý phân tích khía cạnh biểu trưng của các hình ảnh chinh nhân, chinh đồ). b. Vừa lên đường, tác giả đã hướng lên nhìn trời cao, tìm thấy hình ảnh của người bạn đồng hành tin cậy (chú ý phân tích các từ ôm (ủng), lên (thướng) vừa thể hiện được quỹ đạo chuyển động cảu sự vật cừa thể hiện niềm hứng khởi trong lòng người đi). Ở đây, lòng yêu thiên nhiên, sự nhạy cảm đối với cái đẹp, chút lãng mạn rất thi sĩ và tinh thần "thép" cùng được biểu lộ và thống nhất với nhau (phải có được sức mạnh tinh thần như thế nào mới vui được với trăng sao trong hoàn cảnh ấy). c. Giải đi sớm (II) miêu tả cuộc đi đường trong ánh bình minh rực rỡ, nối tiếp rất đẹp với bài thứ nhất nói về cuộc đi trong đêm tối và gió rét. Kiểu tư duy thơ luôn hướng về ánh sáng, hướng về tương lai ở đây thể hiện rất rõ. Ta cảm thấy được sự giao hòa tuyệt với giữa Hồ Chí Minh với thiên nhiên tràn đầy sinh khí. Cái nồng của cảm súc bên trong được nhóm lên nhờ hơi ấm (noãn khí) bên ngoài, nhưng đến lượt mình, chính nó đã làm đất trời thêm phần ấm áp. Như vậy, trong bài thơ vừa có được hình ảnh một vị chính nhân cứng cỏi, vừa có được hình ảnh của một thi nhân tràn đầy cảm hứng về nét đẹp. 4. Khái quát về những nét đẹp trong tâm hồn tác giả Hồ Chí Minh được thể hiện qua hai bài thơ. a. Hồ Chí Minh rất yêu thiên nhiên, luôn dạt dào cảm xúc thi ca trước mọi sắc thái đa dạng của nó (từ cảnh hiu hắt, tiêu sơ đến cảnh hoành tráng, lộng lẫy). b. Hồ Chí Minh yêu con người, gắn bó trước hết với cuộc sống con người ( nhất là cuộc sống người lao động); thường biểu lộ tình cảm một cách tự nhiên, bình dị; dễ hòa đồng cuộc sống xung quanh). c. Hồ Chí Minh có tinh thần "thép"; ý thức rõ về đường đi của mình, kiên nghị trước thử thách, tự chủ trong mọi hoàn cảnh. Người luôn lạc quan, tràn đầy lòng tin vào cuộc sống, tương lai, vào xu thế vận động tích cực của sự vật. Câu 3. Các ý chính 1. Giới thiệu chung về tác giả Thạch Lam và truyện ngắn Hai đứa trẻ - Thạch Lam (1910 - 1942) là tác giả tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại, rất nổi tiếng với những truyện ngắn vừa mang đậm phong vị trữ tình vừa thể hiện cảm quan hiện thực sâu sắc. - Hai đứa trẻ (in trong tập Nắng trong vườn - 1938) là truyện ngắn thuộc loại tiêu biểu nhất của Thạch Lam đã miêu tả một cách đầy ám ảnh bức tranh đời sống ở phố huyện nghèo lúc chiều tối và tâm trạng đợi tàu của hai đứa trẻ. 2. Hình ảnh thiên nhiên ở phố huyện nghèo lúc chiều tối trong Hai đứa trẻ a. Thiên nhiên với các biểu hiện cụ thể: Hình ảnh và màu sắc: hoàng hôn đỏ rực, dãy tre làng sẫm đen, ngàn sao lấp lánh, đom đóm nhấp nháy, bóng tối thăm thẳm, dày đặc..; âm thanh: tiếng ếch nhái văng vẳng, tiếng muỗi vo ve, tiếng hoa bàng rụng khe khẽ từng loạt..; mùi vị: mùi quen thuộc của cát bụi, "mùi riên của đất, quê hương này;;.. đặc điểm chung: êm ả, đượm buồn, thấm đượ, cảm xúc trùi mến, nâng nui của một nhà văn luôn nặng tình với những gì là biểu hiện của hồn xưa dân tộc. b. Vai trò của hình ảnh thiên nhiên: gợi đúng đặc trưng của không gian phố huyện; làm nền cho hoạt động con người; gián tiếp thể hiện tâm trạng nhân vật; tạo nên chất chữ tình cho truyện ngắn,.. c. Nghệ thuật miêu tả của tác giả: đặt thiên nhiên dưới con mắt quan sát của Liên - một đứa trẻ; câu văn có nhịp điệu như thơ; hình ảnh bóng tối được láy đi láy ại như một mô típ đầy ám ảnh; âm thanh, màu sắc, mùi vị khéo hòa hợp cới nhau,... 3. Hình ảnh con người ở phố huyện nghèo lúc chiều tối trong Hai đứa trẻ a. Các hình ảnh và hoạt động: những người bán hàng về muộn đứng nán lại nói chuyện, mấy đứa trẻ nghèo lom khom nhặt nhạnh các thanh nứa, thanh tre trên nền chợ, chõng nước tồi tàn của mẹ con chị Tý, gánh phở vắng khách của bắc Siêu, cảnh nhếch nhác cảu gia đình bác Xẩm, của hàng tạp hóa nhỏ xíu của chị em Liên,... các tâm trạng: buồn bã, ít hy vọng vào lối kiếm sống có tính chất cầu may hiện tại, mong đợi mơ hồ, xa xôi,... đặc điểm chung của "hình ảnh con người" heo hắt, xơ xác, mòn mỏi, tương hợp với hình ảnh thiên nhiên, tất cả được vẽ ra bằng ngòi bút tả chân sắc sảo, rất gần với các nhà văn hiện thực phê phán.... b. Nghệ thuật miêu tả của tác giả: tập hợp một loạt chi tiết tương đồng gợi không khi tàn tạ (ngày tàn, chợ tàn, kiếp nghèo tàn, . ..); dựng lên những mẩu đối thoại vẩn vơ; nhấn mạnh sự đối lập giữa cái mênh mông của bóng tối vùng sáng nhỏ nhoi của ngọn đèn; chú ý làm rõ trạng thái tâm hồn nhân vật.....
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1086
|
|
|
|
ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG - KHỐI D - 2005
Câu 1:Những nét chính trong sự nghiệp thơ của Xuân Diệu (2,0 điểm) 1. Xuân Diệu là một tác gia lớn, một tài năng nhiều mặt trong nền văn học Việt Nam. Nhưng nói đến Xuân Diệu, trước hết phải nói đến một nhà thơ. Sự nghiệp sáng tác của thơ Xuân Diệu chia làm hai giai đoạn: trước và sau Cách Mạng tháng Tám năm 1945. a. Trước Cách Mạng tháng Tám năm 1945: Xuân Diệu được sem là nhà thơ lãng mạn tiêu biểu cho phong trào Thơ mới. Trong thơ, Xuân Diệu luôn bộc lộ hai tâm trạng trái ngược: yêu đời, tha thiết với cuộc sống nhưng hoài nghi, chán nản, cô đơn. Dù ở trạng thái cảm xúc nào. Xuân Diệu cũng thể hiện được cái tôi cá nhân của mình hết sức mãnh liệt. Xuân Diệu rất nổi tiếng ở mảng thơ tình yêu. Tác phẩm có: Thơ thơ, Gửi hương cho gió. (0,75 điểm) b, Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 : Xuân Diệu hòa mình vào cuộc sống mới, nhiệt thành đem nghệ thuật phục vụ Cách mạng. Thơ ông có ngững thay đổi về đề tài, cảm hứng, chất liệu, ngôn từ và cách biểu hiện. Ông bám sát đời sống, vieestnhieefu về công cuộc xây dựng đất nước và đấu tranh thống nhất nước nhà. Những tập thơ chính: Mũi Cà Mau - Cầm tay, Một khối hồng, Hai đợt sóng... (0,75 điểm) 2. Bên cạnh sáng tác thơ, Xuân Diệu còn viết văn xuôi, nghiên cứu, phê bình văn học và dịch thuật. Phấn thông vàng và Trường ca là hai tập văn xuôi đặc sắc của ông. Xuân Diệu để lại những tập tiểu luận phê bình có giá trị: Tiếng thơ, Phê bình giới thiệu thơ, Dao có mài mới sắc... Lưu ý câu 1: - Thí sinh chỉ nêu vắn tắt các ý đã học trong sách giáo khao, không cần trích dẫn tác phẩm; có thể không nêu 2 tập Thơ thơ và Gửi hương cho gió, vì sách giáo khoa không đề cập đến. - Nội dung của ý 2 có thể đưa vào ý 1, nhưng phải trình bày hợp lý. Câu 2: Phân tích vẻ đẹp của tình người và niềm hy vọng vào cuộc sống ở các nhân vật : Tràng, người vợ nhặt, bà cụ Tứ trong chuyện Vợ nhặt của Kim Lân. (5 điểm) 1. Giới thiệu chung (0,5 điểm) - Kim Lân từng sáng tác trước cách mạng tháng Tám năm 1945, nhưng chỉ sau 1945, ông mới thực sự có vị trí trong văn học Viêt Nam. Ông viết không nhiều, nhưng đã đạt được những thành công đáng kể, đặc biệt là về đề tài nông thôn. - Vợ nhặt của Kim Lân (in trong tập Con chó xấu xí - 1962) là tác phẩm đặc sắc viết về nạn đói năm Ất Dậu. Trên cái nền tăm tối ấy, nhà văn đã miêu tả cảnh ngộ của những con người nghèo khổ ở xóm ngụ cư với cái nhìn nhân hậu, phát hiện ở họ vẻ đẹp của tình người và hi vọng vào cuộc sống. 2. Phân tích cụ thể (4,5 điểm) Vợ nhặt tái hiện bức tranh một cuộc sống rất bi thảm. Nạn đói hoành hành dữ dội. Người chết như ngả rạ. Người sống thì lay lắt bên bờ vực thẳm. Thế nhưng, qua các nhân vật chính trong tác phẩm, tác giả lại cho ta thấy rằng: ngay trong hoàn cảnh khốn cùng, những con người này vẫn khoogn mất đi những nét đẹp vốn có của họ. a. Tràng Thái độ của Tràng đối với người đàn bà xa lạ đói rách là biểu hiện của tình người đẹp đẽ trong hoàn cảnh đói nghèo, cùng quẫn: cưu mang người cùng cảnh ngộ ( chi tiết Tràng mời người đàn bà một bữa bánh đúc rồi chấp nhận việc chị ta theo mình dùi cảm thấy hơi "chợn") nảy sinh những tình cảm mới mẻ, những cảm giác lạ lùng ( các chi tiết: trên đường về, Tràng đã cảm nhận thấy tình nghĩa đối với người đàn bà đi bên, bối rối trước nỗi buồn của chị ta...) - Sau tình huống nhặt vợ, niềm hi vọng vào cuộc sống thể hiện rõ rệt ở Tràng: vui sướng trước hạnh phúc bất ngờ ( phân tích ý nghĩa chi tiết mua dầu để thắp. ý nghĩa những cái cười của Tràng: bật cười, cười tươi...); gắn bó hơn với gia đình, nghĩ về trách nhiệm của bản thân (thấm thía cảm động, vui sướng phấn chấn, thấy mình nên người và nhận ra bổn phận nhận ra bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này...); nghĩ tới sự đổi thay của cuộc sống dù chưa có ý thức đầy đủ ( thoáng trong đầu óc Tràng hình ảnh đoàn người đói kéo nhau đi trên đê với lá cờ đỏ sao vàng phấp phới..) (0,75 điểm) b. Người Vợ nhặt - Tình cảm khốn khổ đã không làm mất đi tình người ở nhân vật này. Lúc đầu cái đói làm chị tiều tụy cả hình hài, không giữ đc cả cái e dè cuae người phụ nữ. Nhưng từ khi theo Tràng, chị thay đổi hẳn: không còn "chao chát, chỏng lỏn" mà trở thành người "hiền hậu, đúng mực" ( làm sáng tỏ bằng việc phân tích một số chi tiết tiêu biểu). Thiên chức, bổn phận làm vợ của chị đã được đánh thức (vấn vương những tình cảm mới mẻ; cư sử với Tràng mộc mạc, chân tình, mắng yêu khi Tràng khoe chai dầu vừa mới mua...).(0,5 điểm) - Sự trỗi dậy của niềm hi vọng: nhen nhóm, vun đắp tổ ấm hạnh phúc (cùng mẹ chồng sắp xếp, dọn dẹp nhà cửa..); thoáng nghĩ tới một sự thay đổi (nhắc chuyện ở mạn Thái Nguyên, Bắc Giang, người ta không chịu đóng thuế, còn phá kho thóc của Nhật chia cho người đói..) .(0,5 điểm) c. Bà cụ Tứ Nhân vật này cho thấy rõ nhất vẻ đẹp của tình người trong tác phẩm Vợ nhặt. Vẻ đẹp đó thể hiện qua thái độ, tình cảm của bà cụ Tứ đối với con trai và con dâu. Với Tràng, bà thấy tủi vì làm mẹ àm không giúp được gì cho con, để con phải "nhặt" vợ trong hoàn cảnh túng đói. Trong tâm trạng của bà, sự ngạc nhiên, buồn, vui, lo âu lẫn lộn. Tất cả suất phát từ lòng yêu thương con (phân tích một số chi tiết tiêu biểu). Với người con dâu, bà không hề rẻ rúng, mà ngược lại, tỏ ra gần gũi, chân tình, xóa đi mặc cảm ở với chị (chú ý những câu nói chứa chan yêu thương của bà : "Ừ thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng"; "Cốt sao chúng mày hòa thuận là u mừng rồi"; "Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá..."). (0,75 điểm) - Người mẹ gần đất xa trời lại là người bộc lộ niềm hi vọng mãnh liệt vào cuộc sống. Bà động viên các con bằng kinh nghiệm sống, bằng triết lý dân gian (Ai giàu ba họ, ai khó ba đời...); thu xếp lại nhà cửa cho quang quẻ, nền nếp với ý nghĩa đời sẽ khác đi , làm ăn có cơ khấm khá lên, bàn định về tương lai, khơi dậy trong con cái một niềm tin (nghĩ tới việc kiếm tiền mua đôi gà cho nó sinh sôi nảy nở, hi vọng về đời con cháu mình sẽ sáng sủa hơn..). (0,75 điểm) d. Kết luận (0,5 điểm) - Ba nhân vật trong tác phẩm Vợ nhặt được Kim Lân miêu tả rất sinh động. Ngoại hình, hành động, lời nói, nhất là diễn biến nội tâm của nhân vật dưới sự tác động của một tình huống đặc biệt được khắc họa rõ nét. Chính vì thế, những điều tác giả muốn khẳng định ở các nhân vật càng trở nên nổi bật. - Miêu tả nạn đói, Kim Lân không chỉ tái hiện bức tranh thê lương của cuộc sống, mà còn phát hiện những phẩm chất cao quí của con người trong cảnh ngộ bi thảm. Qua đó nhà văn bộc lộ cái nhìn hiện thực sắc sảo và tình cảm nhân đạo sâu sắc. Lưu ý câu 2 Thí sinh có thể làm bài theo trình tự phân tích các nhân vật như đáp án hoặc nêu từng luận điểm và lần lượt phân tích ác nhân vật để làm sáng tỏ, miễn sao đảm bảo được tính chỉnh thể của bài văn. Câu 3. Bình giảng đoạn thơ trong bài Kính gửi cụ Nguyễn Du của Tố Hữu (3,0 điểm) "Tiếng thơ ai động đất trời... Khúc vui xin lại xo dây cùng người!" 1. Giới thiệu chung (0,5 điểm) - Tố Hữu viết bài thơ Kính gửi cụ Nguyễn Du vào tháng 11 năm 1965, nhân dịp ông có chuyến công tác vào tuyến lửa khu Bốn, qua huyện Nghi Xuân, quê hương Nguyễn Du. Được viết ra trong thời điểm cả dân tộc kỉ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du, bài thơ là tiếng nói tri âm sâu sắc của nhà thơ đối với đại thi hào trong quá khứ. - Đoạn trích thuộc phần cuối của bài thơ. Ở khổ này, Tố Hữu đã có những đánh giá rất cao đối với sự nghiệp văn học của Nguyễn Du bằng những tình cảm trân trọng ngưỡng mộ, trân trọng, ngợi ca. 2. Bình giảng đoạn thơ (2,5 điểm) a. Hai câu mở đoạn: tôn vinh tiếng thơ Nguyễn Du ở mức cao nhất. Tiếng thơ ấy động cả đất trời, là lời non nước bất tử cùng thời gian. - Có thể hiểu từ "động" theo hai nghĩa: làm xúc động hoặc làm vang vọng. Cách hiểu nào cũng cho thấy nhà thơ Nguyễn Du có sức tác động vô cùng mạnh mẽ. - Ở câu thứ hai, khi xem tiếng thơ Nguyễn Du là lời non nước vọng về, Tố Hữu đã vĩnh cửu hóa các tác phẩm của Nguyễn Du bằng cách đồng nhất tiếng nói của một nhà thơ với tiếng nói của dân tộc. Sự nhấn mạnh bằng lối so sánh thậm xưng làm nổi bật ý: tiếng thơ Nguyễn Du là sự kết tinh tâm hồn dân tộc và ngược lại, tâm hồn dân tộc qua tiếng thơ Nguyễn Du mà vọng đến muôn đời. Chú ý những đại lượng lớn về không gian và thời gian: đất trời, non nước, ngàn thu... được dùng để khẳng định tầm vóc lớn lao của di sản văn học mà Nguyễn Du để lại. b. Hai câu tiếp: Khẳng định sự trường tồn của tác phẩm Nguyễn Du và cắt nghĩa nguyên nhân của sự trường tồn ấy. - "Nghìn năm sau" Nguyễn Du vẫn còn được nhớ tới, boie với tình yêu thương con người bao la thì ở thời nào, ông cũng nhận được sự đồng cảm sâu sắc. - Chú ý hàm ý phong phú của hai chữ " tiếng thương" và việc đưa hình ảnh "tiếng mẹ ru" làm đối tượng so sánh nhằm nhấn mạnh lên sự thiêng liêng mà gần gũi của tiếng thơ Nguyễn Du với mọi thời đại. c. Hai câu cuối: khẳng định Nguyễn Du vẫn sống cùng nhân dân, đất nước hôm nay. Trong hai câu thơ này, đại từ Người được sử dụng hai lần, biểu lộ sự tôn kính, trân trọng và sự tri âm của tác giả đối với Nguyễn Du. Tố Hữu xúc động mời gọi Người xưa trở về cuộc sống hiện tại để cùng hòa tấu "khúc vui" với con cháu hôm nay. Nguyễn Du vẫn luôn song hành với chúng ta trên mỗi bước đường. Đây là một cách để thể hiện niềm tự hào của tác giả về thời đại mới. (0,5 điểm) d. Kết luận (0,5 điểm) - Nội dung: Nằm trong mạch cảm hứng chung của bài, đoạn thơ là sự ngợi ca cao nhất của Tố Hữu dành cho nhũng giá trị văn học của đại thi hào Nguyễn Du. - Nghệ thuật: Câu thơ lục bát với âm điệu ngọt ngào, tha thiết(nhờ cách sử dụng những từ hô gọi, những đại từ nhân xưng...); dùng những đại lượng lớn về không gian và thời gian để đánh giá tầm vóc di sản văn học của Nguyễn Du; nghệ thuật so sánh giàu tính biểu cảm... Lưu ý câu 3: Thí sinh có thể bố cục bài làm theo cách khác, nhưng phải đảm bảo kiến thức và thể hiện được năng lực cảm thụ, bình giảng thơ. Lưu ý chung cho toàn bài: Chỉ cho điểm tối đa trong trường hợp thí sinh không nói đủ những ý cần thiết mà còn biết cách tổ chức bài văn, diễn đạt lưu loát, đúng văn phạm không sai chính tả.
- Có thể chấp nhận cách sắp xếp không hoàn toàn đúng đáp án, miễn là đảm bảo tính lôgí ; chấp nhận những ý ngoài đáp án, nhưng phải có cơ sở khoa học, hợp lí. Khuyến khích những kiến giải riêng thực sự có ý nghĩa, liên quan trực tiếp đến vấn đề.
|
|
|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 15/05/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Đề Thi Tuyển Sinh Đại Học, Cao Đẳng Năm 2007
|
|
|
|
ĐỀ THI ĐẠI HỌC VÀ CAO ĐẲNG - KHỐI C - 2005
Câu 1. Giá trị lịch sử, giá trị văn học của bản Tuyên ngôn Độc Lập (2,0 điểm) 1. Gía trị lịch sử - Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bảm Tuyên ngôn độc lập trước hàng chục vạn đồng bào tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội. Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện lịch sử đúc kết nguyện vọng sâu sa của dân tộc Việt Nam về quyền độc lập tự do, cũng là kết quả tất yếu của quá trình đấu tranh gần một trăm năm của quân và dân ta để có quyền thiêng liêng đó. - Bản Tuyên ngôn đã tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến ở Việt Nam và mở ra một kỉ nguyên mới cho dân tộc ta: kỉ nguyên độc lập tự do, kỉ nguyên nhân dân làm chủ đất nước. 2. Gía trị văn học - Tuyên ngôn Độc Lập là một áng văn yêu nước lớn của thời đại. Tác phẩm khẳng định mạnh mẽ quyền độc lập dân tộc gắn với quyền sống của con người, nêu cao truyền thống yêu nước, tryuwwfn thống nhân đạo của người Việt Nam. - Tuyên ngôn Độc Lập là một áng văn chính luận mẫu mực . Dung lượng tác phẩm ngắn gọn, cô đọng gây ấn tượng sâu sắc. Kết cấu tác phẩm mạch lạc, chặt chẽ; chứng cứ cụ thể, xác thực; lập luận sắc bén, giàu sức thuyết phục.Ngôn ngữ tác phẩm chính sác gợi cảm, tác động mạnh mẽ vào tình cảm, nhận thức của người nghe, người đọc. Lưu ý câu 1: Câu này yêu cầu thí sinh nêu tóm tắt giá trị lịch sử và giá trị văn học của bản Tuyên ngôn chứ không cần trích dẫn tác phẩm để phân tích. Câu 2. Phân tích hai đoạn trích trong bài thơ về quê hương đất nước (Bên kia Sông Đuống của Hoàng Cầm và Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm). (5,0 điểm) 1. Giới thiệu chung về đề tài tác phẩm - Quê hương, đất nước là một đề tài xuyên xuốt, nổi bật trong văn học Việt Nam. Nhiều tác phẩm viết về đề tài này đã thể hiện được những suy tư sâu sắc, niềm tự hào dân tộc và yêu quê hương đất nước của các nhà thơ, bên cạnh nét chung, mỗi tác giả lại có cách cảm nhận riêng về quê hương, đất nước. - Giới thiệu hai tác phẩm: Vào một đêm giữa tháng 4 - 1948 ở Việt Bắc, Hoàng Cầm nghe tin giặc đánh phá quê hương mình, ông xúc động viết nên bài Bên kia Sông Đuống. Năm 1971, ở chiến khu Bình Trị Thiên, hướng về tuổi trẻ Việt Nam trong những ngày sôi sục đánh Mĩ, Nguyễn Khoa Điềm viết trường ca Mặt đường khát vọng, trong đó có chương V- Đất nước. Cả hai tác phẩm đề được xem là thành tựu xuất sắc của thơ ca Việt Nam hiện đại. 2. Phân tích đoạn thơ a. Trích đoạn thơ Bên kia Sông Đuống. - Bài thơ Bên kia Sông Đuống của Hoàng Cầm là hoài niệm về quê hương thanh bình trong quá khứ và nỗi xót xa trước quê hương đau thương trong hiện tại. Đoạn trích nằm ở phần đầu bài thơ, thể hiện niềm yêu mến, tự hào về quê hương Kinh Bắc tươi đẹp, trù phú , giàu truyền thống văn hóa. - Câu thơ Bên kia Sông Đuống gợi điểm nhìn trong tâm tưởng. Dường như nhà thơ đang ở bên này - vùng tự do, mà nhìn về bên kia - nơi quê hương bị giặc chiếm đóng, từ đó gợi dậy bao hồi tưởng về Kinh Bắc ngày xưa tươi đẹp, thanh bình. - Trong ba câu tiếp theo, quê hương được tái hiện vừa khái quát, vừa cụ thể. Đời sống vật chất được hiện lên từ hương vị lúa nếp thơm nồng. Đời sống tinh thần hội tụ trong nét đặc sắc văn hóa đặc sản, tranh Đông Hồ. - Phân tích sâu hai câu thơ về tranh Đông Hồ. Tác giả đã nêu bật cái chất dân gian, cái hồn dân tộc cảu tranh Đông Hồ từ đề tài, ý nghĩa nghĩa đến màu sắc, chất liệu độc đáo. Cần làm rõ khả năng vừa gợi tả, vừa biểu hiện cảm xúc của các từ tươi trong, sáng bừng, đặc biệt là nét nghĩa của cụm từ màu dân tộc (nghĩa cụ thể: chất liệu, màu sắc lấy từ đất đá, cây cỏ của quê hương; nghĩa bóng: hình ảnh quen thuộc trong đời sống hàng ngày, nghệ thuật tranh vẽ dân gian - tất cả tạo nên bản sắc dân tộc độc đáo). b. Trích đoạn thơ Đất Nước - Trường ca Mặt đường khát vọng viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ các thành thị vùng tạm chiếm ở miền Nam: nhận rõ bộ mặt xâm lược của đế quốc Mĩ, hướng về nhân dân đất nước, ý thức được sứ mệnh của thế hệ của mình, đứng dậy xuống đường đấu tranh hòa nhịp với cuộc chiến đấu của toàn dân tộc. Đoạn thơ trích thuộc phần đầu của chương V. Tư tưởng " Đất nước của Nhân Dân" chi phối cách cảm nhận của nhà thơ về các phương diện địa lý, lịch sử, văn hóa ... của đất nước. - Tám câu đầu tác giả cảm nhận đất nước qua những địa danh, thắng cảnh. Những địa danh, thắng cảnh ấy gắn liền với cuộc sống, số phạn, tính cách của nhân dân, được cảm thụ qua tâm hồn của nhân dân. Chú ý khả năng gợi cảm nghĩ, liên tưởng, tưởng tượng của các hình ảnh, cảnh vật: tình nghĩa thủy chung, thắm thiết ( hình ảnh núi Vọng Phu, hòn Trống Mái): sức mạnh bất khuất ( chuyện Thánh Gióng); cội nguồn thiêng liêng ( hướng về đất tổ Hùng Vương); truyền thống hiếu học ( cách cảm nhận về núi bút non Nghiên); đất nước tươi đẹp ( cách nhìn dân dã về núi Con Cóc. Con Gà, về dòng sông Cửu Long gợi dáng những con rồng).v.v.. Đất nước hiện lên vừa gần gũi, vừa thiêng liêng. - Trong đoạn thơ, tác giả đã sử dụng những chất liệu văn hóa dân gian để nói về đất nước. Đây cũng là biểu hiện chiều sâu tư tưởng đất nước của người dân trong cảm hứng sáng tạo của nhà thơ. - Hai câu cuối nâng ý thơ lên tầm khái quát: sự hóa thân của nhân dân vào bóng hình đất nước. Nhân dân chính là người đã tạo dựng, đã đặt tên, ghi dấu ấn cuộc đời mình lên mỗi ngọn núi, dòng sông, miền đất này. 3. So sánh cảm nhận về quê hương, đất nước trong hai trích đoạn thơ a. Nét chung Hai đoạn trích thơ đều thể hiện sự cảm nhận về quê hương đất nước qua những địa danh, hình ảnh, cảnh vật cụ thể, gợi nhiều liên tưởng qua mạch nguồn, chất liệu văn hóa dân gian dân tộc. Cả hai cách cảm nhận trong đoạn trích thơ đều làm nổi bật truyền thống văn hóa, vẻ đẹp tâm hồn của con người Việt Nam, khơi sâu thêm niềm yêu mến, tự hào về nhân dân, đất nước. b. Nét riêng - Trích đoạn thơ trong Bên kia Sông Đuống hướng về một miền quê cụ thể với cảm xúc trữ tình tha thiết: tình yêu đất nước bắt đầu từ tình yêu quê hương của chính mình. Ở trích đoạn thơ trong Đất nước thể hiện tư duy chính luận sắc sảo của tác giả trong cảm nhận nhữn cảnh vật, địa danh... có sức khái quát dân tộc đất nước. Chính những nét cảm nhận nói trên đã góp phần tạo nên sức lôi cuốn, hấp dẫn của từng bài thơ cũng như sự phong phú đa dạng cảu thơ ca viết về quê hương đất nước. Lưu ý câu 2: - Thí sinh có thể làm bài theo cách: giới thiệu chung về đè tài quê hương, đất nước, tiếp đó vừa phân tích hai trích đoạn thơ vừa so sánh những nét chung - riêng trong cách cảm nhận của tác giả. - Những cách làm bài, cách kiến giải khác đều có thể chấp nhận được, miễn là có cơ sở khao học , hợp lý. Câu 3. Nam Cao với sở trường diễn tả, phân tích tâm lí con người qua nhân vật Hộ trong truyện Đời thừa. 1. Giới thiệu chung Nam Cao là nhà văn hiện thực trước cách mạng. Ông có vốn sống phong phú, khả năng đồng cảm đặc biệt với mọi cảnh ngộ, tâm trạng của con người, có biệt tài diễn tả, phân tích tâm lí nhân vật. - Sở trường đó của Nam Cao được thể hiện rõ ở truyện ngắn Đời thừa (1943) qua việc diễn tả, phân tích diễn biến tâm lý, phân tích phức tạp của nhân vật Hộ. 2. Việc diễn tả, phân tích tâm lý nhân vật Hộ của Nam Cao trong truyện Đời thừa. a. Nam Cao đã diễn tả, phân tích sâu sắc những giằng xé trong tâm trạng nhân vật Hộ. - Trước hết là những day dứt của Hộ về nghề nghiệp. Anh có khát vọng cao đẹp, muốn " nâng cao giá trị đời sống cho mình" bằng lao động sáng tạo nghệ thuật, cống hiến cho đời những tác phẩm giá trị. Nhưng thực tại đen tối, hoàn cảnh gia đình túng quẫn buộc anh phải viết những thứ văn chương " vô vị, nhạt nhẽo". Anh đau khổ vì thấy mình đã thành " một kẻ vô ích, một người thừa". - Nam Cao còn miêu tả rất tinh tế những dằn vặt của Hộ về nhân cách. Hộ vốn là người nhân hậu vị tha. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, Hộ cũng không từ bỏ tình thương, làm một kẻ tàn nhẫn. Nhưng do bức xúc vì công việc viết lách, anh trút hết buồn bực lên đầu vợ con, gây đau khổ cho người mình yêu thương, rồi hối hận vì chính điều đó. b. Nam Cao đã khéo léo tạo tình huống đầy kịch tính để đẩy xung hữu đột nội tâm của nhân vật lên đỉnh điểm. Xung đột nội tâm của Hộ thể hiejn mâu thuẫn không thể dung hòa giữa đời sống với hoài bão nghệ thuật và sống theo nghuyên tắc tình thương. Chính vì thế không thể chịn hai con đường nên Hộ rơi vào bế tắc. Tâm trạng căng thẳng, bết tắc của Hộ được diễn tả theo cái vòng quẩn quanh: khát vọng - thất vọng - hối hận - khát vọng - thất vọng... càng ngày càng nặng nề hơn. c. Nam Cao rất linh hoạt trong việc sử dụng ngôn ngữ để tả nội tâm. Có chỗ nhà văn dùng lời người kể chuyện để miêu tả tâm lí nhân vật: "Hắn băn khoăn nghĩ đến một tác phẩm nó sẽ làm mờ hết các tác phẩm khác cùng ra một thời". Có khi là nhân vật tự biểu hiện nội tâm của mình. "Ta đành phí một vài năm để kiến tiền...". Có lúc vừa là người kể chuyện, vừa là lời nội tâm của nhân vật: "Khốn nạn! Khốn nạn thay cho hắn!... Chao ôi! Hắn đã viết những gì?..." .Tất cả góp phần diễn tả sinh động tâm lí nhân vật Hộ. 3. Kết luận - Nghệ thuật diễn tả, phân tích tâm lí nhân vật của Nam Cao rất sắc sảo, tinh tế với những thủ pháp đặc sắc tạo tình huống đầy kịch tính; diễn tả sự vận động nội tâm theo vòng quẩn quanh; sử dụng ngôn từ linh hoạt... Tất cả khắc họa rõ nét tâm lý, tính cách nhân vật Hộ. - Qua nhân vật Hộ, Nam Cao đã cho thấy khát vọng vươn tới một cuộc sống có ích, có ý nghĩa của người trí thức nghèo, đồng thời cho thấy tình cảnh đau khổ, bế tắc của họ trong xã hội cũ: muốn theo đuổi lí tưởng nghệ thuật thì phải bỏ tình thương; muốn sống tử tế theo lẽ sống nhân đạo thì phải chấp nhận làm " người thừa" trong văn chương. Từ đó dẫn tới ý tưởng: chỉ khi nào xóa bỏ cái xã hội đen tối, bất công đương thời thì mới có thể chấm dứt được cái cảnh ngộ quẫn bách, cái bi kịch đáng thương của những người như Hộ. Lưu ý câu 3: Thí sinh có thể làm bài theo cách; nhận xét về các thủ pháp nghệ thuật mà Nam Cao sử dụng để diễn tả tâm lí nhân vật Hộ, sau đó đi sâu vào diễn biến tâm lí nhân vật này. Lưu ý chung toàn bài: - Chỉ cho điểm tối đa trong trường hợp: thí sinh không những nói đủ ý cần thiết mà còn biết cách tổ chức bài văn, diễn đạt lưu loát, đúng văn phạm và không sai chính tả. - Có thể chấp nhận cách xắp xếp ý khoogn hoàn toàn như đáp án, miễn là đảm bảo được tính lôgíc; chấp nhận những ý kiến ngoài đáp án, nhưng phải có cơ sở khoa học, hợp lí. Khuyến khích những lời giải riêng thực sự có ý nghĩa, liên quan trực tiếp đến vấn đề.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1065
|
|
|
|
ĐỀ THI ĐẠI HỌC VÀ CAO ĐẲNG - NĂM 2006 KHỐI D
Câu 1: Trình bày hoàn cảnh ra đời và những đặc điểm đặc sắc nghệ thuật bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu ( 2điểm) 1. Hoàn cảnh ra đời bài thơ Việt Bắc (1,0 điểm) - Việc Bắc là tác phẩm xuất sắc của Tố Hữu nói riêng và thơ Việt Nam hiện đại nói chung. - Bài thơ được sáng tác vào khoảng tháng 10 năm 1954. Đây là thời điểm các cơ quan Trung ương của Đảng và Chính phủ rời khu Việt Bắc trở về thủ đô Hà Nội, sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc vẻ vang với chiến thắng Điện Biên Phủ và hòa bình được lặp lại ở miền Bắc. (0,5 điểm) 2. Những đặc sắc nghệ thuật của bài thơ Việt Bắc (1,0 điểm) Bài thơ Việt Bắc ( đoạn trích được học) có nghệ thuật đậm đà tính dân tộc: - Thể thơ lục bát là thể thơ quen thuộc của dân tộc đã đựơc sử dụng thành công . - Kết cấu đối đáp thường thấy trong ca dao, dân ca truyền thống được dùng một cách sáng tạo diễn tả nội dung tình cảm phong phú về quê hương, con người, Tổ Quốc và Cách mạng. (0,5 điểm) - Cặp đại từ nhân xưng mình - ta với sự biến hóa linh hoạt và các sắc thái ngữ nghĩa - biểu cảm phong phú vốn có của nó được khai thác rất hiệu quả. - Nhưng biện pháp tu từ ( so sánh, ẩn dụ, tượng trưng...) quen thuộc với cách cảm, cách nghĩ của quần chúng được dùng nhuần nhuyễn. (0,5 điểm) Câu 2: Phân tích hình tượng Sóng trong bài thơ sóng của Xuân Quỳnh. Anh/ chị cảm nhận được điều gì về vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu qua hình tượng này? (5,0 điểm) 1. Giới thiệu tác giả , tác phẩm ( 0,5 điểm) - Xuân Quỳnh (1942 - 1988) là một nhà thơ xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại. Thơ Xuân Quỳnh thể hiện một trái tim hiền hậu, chân thành khao khát tình yêu, biết nâng niu hạnh phúc đời thường bình dị. - Sóng ( in trong tập Hoa dọc chiến hào ) được sáng tác năm 1067, tiêu biểu về nhiều mặt cho hồn thơ Hồ Xuân Hương. 2.Phân tích hình tượng sóng (3,0 điểm) - Sóng là hình tượng trung tâm bài thơ và là một hình tượng ẩn dụ. Cùng với hình tượng em ( hai hình tượng này song hành trong xuốt tác phẩm), sóng thể hiện những trạng thái, quy luật riêng của tình yêu cũng vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ rất truyền thống mà hiện đại. (0,5 điểm) - Sóng có nhiều đối cực như tình yêu có nhiều cung bậc trạng thái và như tâm hồn của phụ nữ có mặt mâu thuẫn và thống nhất (Phân tích hai câu đầu với kết cấu đối lập - song hành và với việc đặt các từ dịu êm, lặng lẽ ở cuối câu tạo điểm nhấn). (0,5 điểm) - Hành trình của sóng tìm tới biển khơi như hành trình của tình yêu có nhiều cung bậc trạng thái và như tâm hồn người phụ nữ không chịu chấp nhận sự chật hẹp, tù túng (Phân tích hai câu sau của khổ 1 với kiểu nói nhấn mạnh như: không hiểu nổi, tìm ra tận..). - Điểm khởi đầu bí ẩn của sóng giống sự khởi đầu và sự mầu nhiệm, khó nắm bắt của tình yêu (Phân tích các khổ 3,4 của bài thơ với điệp từ nghĩ và sự xuất hiện của nhiều câu hỏi..) (0,5 điểm) - Sóng luôn vận động như tình yêu gắn liền với những khát khao, trăn trở không yên, như một người phụ nữ khi yêu luôn da diết nhớ mong, cồn cào ước vọng về một tình yêu vững bền, chung thủy ( Phân tích các khổ 5,6,7,8 của bài thơ với lối sử dụng điệp từ, điệp ngữ, điệp cú pháp; với hiệu quả của hình thức đối lập trên - dưới, bắc - nam, xuôi - ngược..; với kiểu giãi bày tình cảm bộc lộ trực như Lòng em nhớ đến anh/ Cả trong mơ còn thức..) (0,5 điểm) - Sóng là hiện tượng thiên nhiên vĩnh cửu như tình yêu là khát vọng muôn đời của con người, trước hết là người phụ nữ ( nhân vật trữ tình) muốn dâng hiến cả cuộc đời cho tình yêu đích thực (Phân tích khổ thơ cuối của bài thơ với ý nghĩ và cách nói rất táo bạo của một người con gái hiện đại: Làm sao được tan ra...). (0,5 điểm) 3. Nêu cảm nhận về vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu qua hình tượng sóng (1,0 điểm) - Trước hết, hình tượng sóng cho ta thấy được những nét đẹp truyền thống của người phụ nữ trong tình yêu: thật đằm thắm, dịu dàng, thật hồn hậu dễ thương, thật chung thủy. (0,5 điểm) - Hình tượng sóng cũng thể hiện được nét đẹp hiện đại của người phụ nữ trong tình yêu: táo bạo, mãnh liệt, dám vượt qua mọi trở ngại để giữ gìn hạnh phúc, dù có phấp phỏng trước cái vô tận của thời gian, nhưng vẫn vững tin vào sức mạnh của tình yêu. (0,5 điểm) 4. Kết luận (0,5 điểm) - Sóng là bài thơ tình thuộc loại hay nhất của Xuân Quỳnh nói riêng và của thơ Việt Nam hiện đại nói chung. - Riêng việc sử dụng hình tượng sóng làm ẩn dụ thì không mới, nhưng những tâm sự về tình yêu cùng cách khai thác sức chứa của ẩn dụ này lại có những nét thật sự mới mẻ. Xuân Quỳnh quả đã tìm được một hình tượng thơ đẹp để giải bày tình yêu dịu dàng mà mãnh liệt, gần gũi, riêng tư mà rộng mở, phóng khoáng của người phụ nữ. (0,5 điểm) Câu 3a : Phân tích hình tượng Cây xá nu trong chuyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành. Nhận xét ngắn gọn về nghệ thuật miêu tả cây xà nu của nhà văn. (3,0 điểm) 1. Giới thiệu chung (0,5 điểm) - Nguyễn Trung Thành ( Nguyên Ngọc) gắn bó với Tây Nguyên suốt hai cuộc kháng và có nhiều tác phẩm thành công về mảnh đất, con người nơi này. - Truyện ngắn Rừng xà nu ra đời năm 1965, khi đế quốc Mĩ bắt đầu đổ quân ào ạt vào miền Nam, là câu chuyện về cuộc nổi dậy của đồng bào làng Xô Man. - Câu xà nu là một hình tượng nổi bật và xuyên xuốt tác phẩm. ( 0,5 điểm) 2. Phân tích hình tượng cây xà nu (1,5 điểm) a. Cây xà nu gắn bó với cuộc sống con người Tây Nguyên - Cây xà nu hiện lên trong tác phẩm trước hết như một loại cây đặc thù, tiêu biểu của miền đất Tây Nguyên. Qua hình tượng cây xà nu, nhà văn đã tạo dựng một bối cảnh hùng vĩ và hoang dã đậm màu sắc Tây Nguyên cho câu chuyện. - Cây xà nu gần gũi với đời sống người dân Xô Man, là chứng nhân của những kỉ niệm quan trọng xảy ra với họ trong cuộc kháng chiến chống Mĩ trường kì. b. Cây xà nu tượng trưng cho phẩm chất và số phận con người Tây Nguyên trong chiến Tranh Cách mạng (1,0 điểm) - Thương tích mà rừng xà nu phải gánh chịu do đại bác của kẻ thù gợi nghĩ đến những mất mát, đau thương vô bờ mà đồng bào ta đã trải qua trong thời kì cách mạng miền Nam bị khủng bố ác liệt. - Sự tồn tại kì diệu của rừng xà nu qua những hành động hủy diệt, tàn phá thể hiện sự bất khuất, kiên cường, sự vươn lên mạnh mẽ của con người Tây Nguyên, của đồng bào Miền Nam trong cuộc chiến đấu một mất một còn với kẻ thù. - Đặc tính " Ham ánh sáng" của cây xà nu tượng trưng cho niềm khao khát tự do, lòng tin vào lí tưởng Cách mạng của người dân Tây Nguyên, của đồng bào Miền Nam. - Khả năng sinh sôi mãnh liệt của cây xà nu cùng sự rộng lớn bạt ngàn của rừng xà nu gợi nhắc đến sự tiếp nối của nhiều thế hệ người dân Tây Nguyên đoàn kết bên nhau kháng chiến. (0,5 điểm) 3. Nhận xét về nghệ thuật miêu tả cây xà nu (0,5 điểm) - Kết hợp miêu tả bao quát lẫn cụ thể, khi dựng lên hình ảnh cả khu rừng, khi đặc tả cận cảnh một số cây. - Phối hợp cảm nhận cảu nhiều giác quan trong việc miêu tả những cây xà nu với vóc dáng đầy sức lực, tràn trề mùi nhựa thơm, ngời xanh dưới ánh nắng... - Miêu tả cây xà nu trong sự so sánh, đối chiếu thường xuyên với con người. Các hình thức nhân hóa, ẩn dụ tượng trưng đều được vận dụng nhằm thể hiện sống động vẻ hùng vĩ, khoáng đạt của thiên nhiên đồng thời gợi nhiều tư tưởng sâu sa về con người, về đời sống. - Giọng văn đầy biểu cảm với những cụm từ được lặp đi lặp lại gây cảm tưởng đoạn văn giống như một đoạn thơ trữ tình. (0,5 điểm) 4. Kết luận (0,5 điểm) - Nguyễn Trung Thành đã khắc họa thành công hình tượng cây xà nu tiêu biểu cho vẻ đẹp hào hùng, đầy sức sống về thiên nhiên và con người Tây Nguyên. - Trong nghệ thuật miêu tả cây xà nu, chất thơ và chất sử thi hòa quyện nhuần nhuyễn, thể hiện rõ một phong cách văn xuôi vừa say mê, vừa trầm tư, vừa giỏi tạo hình, vừa giàu sức khái quát của Nguyễn Trung Thành.(0,5 điểm) Câu 3.bTrình bày cảm nghĩ về bi kịch của nhân vật Vũ Như Tô trong vở kịch Vũ Như Tô ( đoạn trích được học) của Nguyễn Huy Tưởng.( 3,0 điểm) 1. Giới thiệu chung (0,5 điểm) - Vũ Như Tô là vở kịch xuất sắc của Nguyễn Huy Tưởng và của nền kịch hiện đại của Việt Nam. Tác phẩm sáng tác năm 1941, dựa trên một sự kiện lịch sử sảy ra ở kinh thành Thăng Long vào thời Hậu Lê. - Trong đoạn trích được học, gây ấn tượng sâu sắc nhất là bi kịch của nhân vật Vũ Như Tô. (0,5 điểm) 2. Trình bày cảm nghĩ về bi kịch Vũ Như Tô (2,0 điểm) a. Những nét chính trong bi kịch của nhân vật Vũ Như Tô Bi kịch Vũ Như Tô là bi kịch của người nghệ sĩ óc tài và có hoài bão lớn, nhưng không giải quyết được những mối quan hệ phức tạp giữa các nghệ thuật và đời sống, đặc biệt là không giải quyết được thực sự đúng đắn về vấn đề nghệ thuật cho ai và để làm gì: - Vũ Như Tô muốn xây một công trình kiến trúc vĩ đại, tuyệt mĩ, tô điểm cho non sống và mục đích đó là hết sức cao đẹp, xuất phát từ thiên chức của con người nghệ sĩ, từ lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. - Nhưng trên thực tế, Cửu trùng đài xây trên tiền của, mồ hôi, sương máu của nhân dân nếu được hình thành, nó cũng chỉ là nơi ăn chơi xa đọa của vua chúa. Vũ Như Tô đã sai lầm khi lợi dụng quyền lợi của bạo chúa để thực hiện khát vọng nghệ thuật của mình, chỉ đứng trên lập trường nghệ sĩ nên trở thành kẻ đối nghịch với nhân dân. - Chính vì vậy, nhân dân căm hận bạo chúa, đồng thời cũng oán trách nguyền rủa kiến trúc sư và cuối cùng đã giết cả Lê trương Dực lẫn Vũ Như Tô, đốt cháy Cửu Trùng Đài. b. Trình bày cảm nghĩ (1,0 điểm) - Thương cảm người nghệ sĩ có tài, có tâm, có đam mê nghệ thuật, khao khát sáng tạo, sẵn sàng hi sinh tất cả cho cái đẹp, nhưng sa rời thực tế và phải trả cái giá là sinh mệnh của mình và cả công trình nghệ thuật của mình. - Không có cái đẹp tách rời cái chân, cái thiện. Tác phẩm nghệ thuật không thể chỉ mang cái đẹp thuần túy, mà còn phải đem giá trị phục vụ nhân dân. Người nghệ sĩ phải có hoài bão lớn, có khát vọng sáng tạo những công trình vĩ đại cho muôn đời, nhưng cũng phải biết sử lí đúng đắn mối quan hệ giữa khát vọng đó với điều kiên thực tế của cuộc sống, với đòi hỏi của muôn dân. - Xã hội phải biết tạo điều kiên sáng tạo cho các tài năng, vun đắp tài năng, quý trọng nâng nui những sản phẩm nghệ thuật đích thực. (1,0 điểm) 3. Kết luận (0,5 điểm) Qua bi kịch của nhân vật Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng gợi cho những suy tư sâu sắc về mối quan hệ giữa người nghệ sĩ với hoạt động sáng tạo nghệ thuật và hiện thực đời sống của nhân dân. (0,5 điểm) Lưu ý chung cho toàn bài : - Chỉ cho tahng điểm tối đa theo thang điểm trong trường hợp thí sinh khoogn nói đủ ý cần thiết, mà còn biết cách tổ chức bài văn, diễn đạt lưu loát, đúng văn phạm , không sai chính tả. - Có thể chấp nhận cách sắp sếp ý không hoàn toàn giống với đáp án, nhưng phải có cơ sở khoa học hợp lí. Khuyến khích những kiến giải riêng thực sự có ý nghĩa, liên quan trực tiếp đến vân đề.
|
|
|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 14/05/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1064
|
|
|
|
Đề Thi Đại Học Và Cao Đẳng - Năm 2006 Khối C
Câu 1: Ý nghĩa hình ảnh "con tàu" và địa danh "Tây Bắc" trong bài thơ " Tiếng hát con tàu" của Chế Lan Viên. (2 điểm) 1.Ý nghĩa :con tàu" (1,0 điểm) - Chế Lan Viên viết nên bài thơ Tiếng hát con tàu vào thời điểm miền Bắc đang diễn ra cuộc vận động đồng bào miền xuôi lên xây dựng kinh tế ở vùng cao Tây Bắc. Bài thơ được in trong tập Ánh sáng và phù sa(1960). (1 điểm) - Hình ảnh "con tàu" gợi nhớ đến những chuyến đi xa. Nhưng thực sự lúc đó chưa có đường tàu và con tàu nào lên Tây Bắc. Do vậy, trong bài thơ này, hình ảnh "con tàu" chủ yếu mang nghĩa biểu tượng: nó tượng trưng cho khát vọng lên đường, khát vọng đi xa, khát vọng hòa nhập vào cuộc sống rộng lớn của đất nước, nhân dân. Đó chính là con tàu tâm tưởng, con tàu của khát vọng khám phá và sáng tạo. 2.Ý nghĩa địa danh "Tây Bắc" (1,0 điểm) - "Tây Bắc" là tên gọi một vùng cao phía tây đất nước. nơi hướng đến của biết bao người đi xây dựng kinh tế miền núi những năm 1958 - 1960. - Con tàu tư tưởng của hồn thơ Chế Lan Viên hướng đến Tây Bắc, nhưng có riêng gì Tây Bắc bởi vì ngoài nghĩa cụ thể về một miền đất. "Tây Bắc" còn gợi nghĩ đến mọi miền xa xôi của đất nước, nơi có cuộc sống gian lao mà sâu nặng nghĩa tình của nhân dân, nói ghi khắc những kỉ niệm của đời người trải qua cuộc kháng chiến, nơi vẫy gọi người đi tới. "Tây Bắc" chính là Tổ quốc, là hiện thực cuộc sống, là cội nguồn cảm hứng sáng tạo nghệ thuật. Lưu ý câu 1: Thí sinh có thể đảo trật tự trình bày, miễn là nêu đủ hai ý nghĩa cơ bản trên.
Câu 2: Phân tích nhân vật "Mị" trong chuyện ngắn Vợ chồn A Phủ của Tô Hoài (5,0 điểm) 1. Giới thiệu tác phẩm nhân vật (0.5 điểm) - Truyện ngắn Vợ chồn A Phủ in trong tập truyện Tây Bắc (1953) là kết quả của một chuyến đi thực tế Tây Bắc của Tô Hoài. Truyện kể về cuộc đời Mị và A Phủ ở Hồng Ngài với những ngày đen tối và những ngày tươi sáng đầy hi vọng. Nhân vật Mị được tác giả tập trung khắc họa với sức sống tiềm tàng , mạnh mẽ, vượt lên kiếp sống đầy đau khổ, tủi nhục, hướng tới cuộc sống mới của người dân nghèo miền núi: đề cao bản chất tốt đẹp và khẳng định sức sống bất diệt của con người. 2. Con người tốt đẹp bị đày đọa (1,5 điểm) a. Mị có phẩm chất tốt đẹp ( 0,5 điểm) - Mị là một thiếu nữ xinh đẹp, tài hoa, hồn nhiên, yêu đời. Cô không những chăm chỉ làm ăn mà còn yêu tự do, ý thức được quyền sống của mình. - Phẩm chất tốt đẹp nhất của Mị là giàu lòng vị tha, đức hi sinh: Mị thà chết còn hơn sống khổ nhục, nhưng rồi Mị chấp nhận sống khổ nhục hơn là bất hiếu, còn hơn thấy cha mình già yếu còn phải chịu bao nhục nhã, khổ đau. b. Mị bị đày đọa cả thể xác lẫn tinh thần - Mang danh là con dâu ông thống lý, vợ của con quan nhưng Mị lại bị đối sử như một nô lệ. - Mị ở nhà chồng như ở địa ngục với công việc triền miên. Mị sống khổ nhục hơn cả súc vật, thường xuyên bị A Sử đánh đập tàn nhẫn. Mị sống như một tù nhân trong căn buồng chật hẹp, tối tăm. - Trong cuộc sống tù hãm, Mị vô cùng buồn tủi, uất ức. Muốn sống cũng chẳng được sống cho ra người, muốn chết cũng không xong, dường như Mị bắt đầu chấp nhận số phận khốn khổ, sống như cái bóng, như "con rùa nuôi trong xó cửa". 3. Sức sống tiềm tàng, mạnh mẽ (2,5 điểm) a. Tâm trạng, hành động của Mị trong ngày hôi xuân ở Hồng Ngài - Bên trong hình ảnh "con rùa nuôi trong xó cửa" vẫn đang còn một con người khát khao tự do. khát khao hạnh phúc.Gió rét dữ dội cũng không ngăn được sức xuân tươi trẻ trong thiên nhiên và con người, tất cả đánh thức tâm hồn Mị. Mị uống rượu để quên hiện tại đau khổ. Mị nhớ về thời con gái, Mị sống lại với niềm say mê yêu đời của tuổi trẻ. Trong khi đó có tiếng sáo ( biểu tượng của tình yêu và khát vọng tự do) từ chỗ là hiện tượng ngoại cảnh đã đi sâu vào tâm tư Mị. - Mị thắp đèn như thắp sáng chiếu rọi vào cuộc đời tăm tối. Mị chuẩn bị đi chơi thì bị A Sử chói lại; tuy bị trói nhưng Mị vẫn tưởng tượng và hành động như một người tự do, Mị vùng bước đi, (1,0 điểm) b. Tâm trạng, hành động trong đêm cuối cùng ở nhà Pá Tra - Mới đầu thấy A Phủ bị trói Mị vẫn thản nhiên. Nhưng đêm ấy Mị nhìn thấy giọt nước mắt rơi trên má A Phủ. Nhớ lại cảnh ngộ của mình trong đem mùa xuân năm trước , Mị đồng cảm, thương xót cho A Phủ. Phân tích nét tâm lí: Mị thấy cái chết xắp tới của A Phủ là cái chết oan ức; phi lí; Mị không sợ hình phạt của Pá Tra; ý thức căm thù và lòng nhân ái giúp Mị thắng nỗi sợ hãi, biến Mị thành con người dũng cảm trong hành động cắt dây rói cứu A Phủ. - Ngay sau đó, Mị đứng lắng với bao giằng xé trong lòng. Nhưng rồi khát vọng sống trỗi dậy thật mãnh liệt, Mị vụt chạy theo A Phủ, đến với tự do. (1,5 điểm) 4. Khái quát ( 0,5 điểm) - Với bút pháp hiện thực sắc sảo, nghệ thuật phân tích tâm lí tinh tế. Tô Hoài đã xây dựng thành công nhân vật Mị. - Cuộc đời đau khổ. tủi nhục của Mị có ý nghĩa tiêu biểu cho kiếp sống khốn khổ của người dân miền núi dưới ách thống trị của các thế lực phong kiến và thực dân. - Nhưng có áp bức chiến tranh; nhân vật Mị chính là điển hình sinh động cho sức sống tiềm tàng, sức lên mạnh mẽ của con người từ trong hoàn cảnh tăm tối hướng tới ánh sáng của nhân phẩm và tự do. (0,5 điểm) Lưu ý câu 2: Thí sinh có thể làm bào theo cách khác, ví dị: dẫn ra từng ý Tô Hòai nhận xét, rồi phân tích theo diễn biến cuộc đời, tính cách nhân vật Mị. Câu 3.a. Bình giảng khổ thơ trong bài " Đây mùa thu tới" của Xuân Diệu (3,0 điểm) 1. Giới thiệu chung ( 0,5 điểm) - Đây mùa thu tới in trong tập Thơ thơ(1938) là bài thơ tiêu biểu của Xuân Diệu - nhà thơ " Mới nhất trong các nhà thơ mới" (Hoài Thanh). - Bài thơ viết về đề tài quen thuộc nhưng vẫn có nét mới mẻ, độc đáo: đó là mùa thu được cảm nhận vơi nỗi buồn cô đơn của một cái tôi cá nhân khát khao giao cảm với cuộc đời, là sức sống của tuổi trẻ và tình yêu thấm sâu trong từng cảnh vật được miêu tả. Tất cả tập trung ngay ở khổ thơ đầu. (0,5 điểm) 2. Bình giảng khổ thơ (2,0 điểm) a. Hai câu đầu - Khác với thơ ca truyền thống thường tả mùa thu bằng lá ngô đồng rụng, sen tàn, cúc nở hoa..., Xuân Diệu nhìn thấy tín hiệu của mùa thu ở rặng liễu đìu hiu. Cây liễu cũng không dùng như một ẩn dụ để biểu hiện vẻ yếu đuối của người con gái, mà lại được nhân hóa để gợi cái buồn sầu héo hắt của con người. Các nhà thơ xưa lấy hình ảnh thiên nhiên để tả vẻ đẹp con người. Xuân Diệu lại dùng hình ảnh con người để tả vẻ đẹp của thiên nhiên: câu thơ thứ hai vừa tả cây liễu vừa qua biện pháp so sánh - nhân hóa mà gợi tới hình ảnh người phụ nữ e ấp cúi đầu cho làn tóc đổ xuống, những dòng lệ tuôn rơi, kĩ thuật láy âm đìu hiu... buồn buông xuống... tang - ngàn hàng tạo ra nhạc điệu chậm, buồn, vẻ buồn của mùa thu. ( 1,0 điểm) b. Hai câu sau (1,0 điểm) - Với từ Đây thật đột ngột, phát hiện một điều mới lạ, với điệp ngữ mùa thu tới - mùa thu tới liên tiếp, nhanh, câu thơ thứ ba như tiếng reo thầm trong tâm tưởng của nhà thơ. Nó mang lại một niềm vui nhẹ nhàng, thanh thoát, niềm vui của một tâm hồn yêu đời, rung động trước vẻ đẹp của cuộc đời. - Đôi mắt trẻ trung của nhà thơ phát hiện ra vẻ đẹp của thiên nhiên: mùa thu tới không gợi sự tàn tạ mà có diện mạo mới rất thơ mộng. Vẻ đẹp ấy được cảm nhận trong màu áo mơ phai, cách dùng biện pháp nhân hóa và định ngữ nghệ thuật với dệt lá vàng. 3. Kết luận (0,5 điểm) - Mùa thu được cảm nhận như có dáng vóc, có tâm hồn. đẹp mà buồn. - Khổ thơ thể hiện quan niệm về thẩm mĩ, bộc lộ tình yêu và khát khao giao cảm với cuộc đời của Xuân Diệu, của các nhà thơ mới. (0,5 điểm) Câu 3.b Tình huống truyện trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu (3,0 điểm) 1. Giới thiệu chung (0,5 điểm) - Sau 1975, Nguyễn Minh Châu quan tâm tiếp cận đời sống ở góc độ thế sự. Ông là một trong những cây bút tiên phong của nền văn học Việt Nam thời kí đổi mới. - Nguyễn Minh Châu sáng tác chuyện Chiếc thuyền ngoài xa năm 1983. Trong tác phẩm này, nhà văn đã xây dựng được một tình huống chuyện mang ý nghĩa khám phá, phát hiện về đời sống. (0,5 điểm) 2. Phân tích tình huống chuyện (2,0 điểm) a. Tình huống truyện - Nghệ sĩ Phùng đến một vùng ven biển miền Trung chụp một tấm ảnh cho cuốn lịch năm sau. Anh thấy cảnh chiếc thuyền ngoài xa, trong làn sương sớm, đẹp như tranh vẽ. Phùng nhanh chóng bấm máy, thu được hình ảnh không dễ gì gặp được trong đời. - Khi chiếc thuyền vào bờ Phùng thấy hai vợ chồng hàng chài bước xuống. Anh chứng kiến cảnh người chồng đánh vợ, đứa con ngăn bố. Những ngày sau cảnh đó lại tái diễn. Phùng không ngờ sau cảnh đẹp như mơ là bao ngang trái nghịch lí đời thường. (0,5 điểm) b. Các nhân vật với tình huống Tình huống truyện được tạo nên bởi nghịch cảnh giữa vẻ đẹp Chiếc thuyền ngoài xa với cái thật gần là sự ngang trái trong gia đình thuyền chài. Gánh nặng mưu sinh đè nặng lên vai hai vợ chồng. Người chồng thành kẻ phũ phu. Người vợ vì thương con mà nhẫn nhục chịu đựng sự ngược đãi của chồng mà khoogn biết mình đã làm tổn thương tâm hồn đứa con. Cậu bé thương mẹ, bênh vực mẹ trở nên căm ghét cha mình. - Chánh án Đẩu tốt bụng nhưng lại đơn giản trong cách nghĩ. Anh khuyên người đàn bà bỏ chồng là xong, mà không biết bà cần một chỗ dựa kiếm sống để nuôi con khôn lớn. (0,75 điểm) c. Ý nghĩa khám phá, phát hiện của tình huống - Ở tình huống chuyện này, cái nhìn và cảm nhận của nghệ sĩ Phùng, chánh án Đẩu là sự khám phá, phát hiện sâu sắc về đời sống và con người. - Đẩu hiểu được nguyên do người đàn bà không thể bỏ chồng là vì những đứa con. Anh vỡ lẽ ra nhiều điều trong cuộc sống. - Phùng như thấy chiếc thuyền nghệ thuật thì ở ngoài xa, còn sự thật cuộc đời lại ở rất gần. Câu chuyện của người đàn bà ở tòa án huyện giúp anh hiểu hơn cái có lý trong cái tưởng như nghịch lúy trong gia đình thuyền chài. Anh hiểu thêm tính cách Đẩu và hiểu thêm chính mình. (0,75 điểm) 3. Kết luận (0,5 điểm) - Tình huống chuyện chiếc thuyền ngoài xa có ý nghĩa khám phá, phát hiện về sự thạt đời sống, một tình huống nhận thức. - Tình huống chuyện này đã nhấn mạnh thêm mối quan hệ gắn bó giữa nghệ thuật và cuộc đời. Khẳng định cái nhìn đa diện, nhiều chiều về đời sống, gợi mở những vấn đề mới cho sáng tạo nghệ thuật. (0,5 điểm) Lưu ý câu 3: Thí sinh có thể bố cục bài làm theo cách khác, nhưng phải đảm bảo kiến thức và thể hiện năng lực cảm thụ, bình giảng, phân tích tác phẩm văn chương.
|
|
|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 13/05/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1060
|
|
|
|
Đáp Án - Thang Điểm Đề Thi Tuyển Sinh Đại Học, Cao Đẳng Năm 2007 Môn: Văn khối C Câu I. Những đặc điểm thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng Tám năm 1945 (2,0 điểm) 1. Đặc điểm nội dung ( 1,0 điểm) - Thơ Xuân Diệu thể hiện tình yêu đời, yêu cuộc sống thiết tha, mãnh liệt ( say cảnh, say tình, thiết tha giao cảm với đời). -Thơ Xuân Diệu cũng thể hiện tâm trạng chán nản, hoài nghi; nhân vật trữ tình trong thơ thường cô đơn. 2.Đặc điểm nghệ thuật (1.0 điểm) Đặc sắc của thơ Xuân Diệu là ở cảm hứng, thi tứ , bút pháp: - Cảm xúc trong thơ Xuân Diệu say đắm, mãnh liệt. Ông cảm nhận thế giới chung quanh bằng tất cả giác quan và bằng cái nhìn mới mẻ, tươi non. - Thơ Xuân Diệu là sự kết hợp hai yếu tố cổ điển và hiện đại. Đông và Tây; nhưng ảnh hưởng lớn hơn là của thơ phương Tây vẫn đậm nét hơn ( từ cảm hứng đề tài, đến xây dựng hình ảnh, cú pháp, nhịp điệu ngôn từ). Câu II.Phân tích nghệ thuật trào phúng trong truyện Vi Hành của Nguyễn Ái Quốc. (5 điểm) 1.Giới thiệu chung (0,5 điểm) - Năm 1992 Khải Định xang Pháp dự cuộc đấu xảo thuộc địa ở Mác-xây. Chuyến đi này đã bị các nhà cách mạng yêu nước lên án mạnh mẽ. Nguyễn Ái Quốc lúc đó đang ở Pháp đã góp tiếng nói phê phán vua bù nhign Khải Định và chính phủ Pháp bằng truyện Vi Hành in trên báo Nhân Đạo (1923). - Tác giả đã sử dụng nghệ thuật trào phúng để đạt được mục đích trên. 2. Nghệ thuật trào phúng của truyện (4 điểm) a. Cách đặt nhan đề - Incognito nguyên văn tiếng Pháp có nghĩa là không ai biết, dùng tên giả. Dịch giả Phạm Huy Thông chuyển nghĩa Incognito sang Tiếng Việt là " Vi Hành". Trong trường hợp này tác giả dùng theo í mỉa mai vị vua An Nam tưởng là được nước Pháp quí trọng nhưng thực sự thì không ai biết đến. - Nhan đề tác phẩm đã chứa đựng một sự mỉa mai, giễu cợt. b. Tạo tình huống nhầm lẫn độc đáo - Tình huống nhầm lẫn: Trên tàu điện ngầm một đôi trai gái người Pháp nhầm tưởng nhân vật tôi - người kể chuyện là vua An Nam đang "Vi Hành" ở Pari. Tình huống này vừa oái oăm, vừa hài hước; vừa vô lí, vừa hợp lí nhằm lên án bản chất của vị vua An Nam. - Tình huống nhầm lẫn được tăng tiến dần ( từ đôi nam nữ trên tàu điện, đến quần chúng, thậm chí đến Chính phủ Pháp) có tác dụng vừa lên án vị vua An Nam, vừa giễu cợt một cách kín đáo về việc Chính phủ Pháp phái mật thám theo dõi những người Việt Nam trên đất Pháp. - Tình huống nhầm lẫn nói trên làm cho việc lên án có tính khách quan ( vì tất cả những lời chê bai, bình phẩm về vua An Nam đều xuất phát từ miệng người Pháp), và do đó có sức thuyết phục cao. c. Cách dựng chân dung nhân vật biếm họa - Miêu tả gián tiếp: nhân vật chính không xuất hiện trực tiếp, nhưng qua những lời nhận xét, bình phẩm của đôi nam nữ người Pháp, bản chất và tính cách của vị vua An Nam vẫn được hiện lên rõ nét, vừa hài hước. - Nhờ việc lựa chọn và sắp xếp các chi tiết đặc sắc để miêu tả ( ngoại hình xấu xí, trang phục lòe loẹt, điệu bộ lúng túng đến thảm hại, hành vi mờ ám...), nhân vật vua An Nam vẫn hiện lên như một bức chân dung biếm họa đặc sắc. d. Lời văn châm biếm sắc sảo - Giọng văn: có đủ mọi chất giọng ( tự sự, trữ tình, triết lý...), nhưng mỉa mai là giọng chính. Tác giả không dùng những từ ngữ đao to búa lớn, chỉ nhẹ nhàng mà thấm thía, sâu cay. - Nhờ sử dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật ( chơi chữ, nói ngược, so sánh tạt ngang, câu hỏi tu từ..) lời văn châm biếm trở nên sắc sảo hơn, và sức công phá đả kích cao hơn. 3.Kết luận (0,5 điểm) - Tiếng cười của chuyện bật lên từ sự phát hiện những mâu thuẫn giữa hình thức và nội dung, giữ hiện tượng và bản chất làm cho nhân vật vua An Nam được khắc họa rõ nét, nhờ đó tính chất châm biếm, đả kích cả tác phẩm sáng rõ hơn. - Nghệ thuật trào phúng của truyện vừa có tính chất thâm thúy, sâu sắc của phương Đông vừa mang tính trí tuệ và hiện đại của văn xuôi phương Tây.
Câu III.a Bình giảng đoạn thơ trong bài Tống Biệt Hành của Thâm Tâm (3 điểm) 1. Giới thiệu chung ( 0,5 điểm) - Tống Biệt Hành của Thâm Tâm là một trong những bài thơ nổi tiếng của Thơ mới. - Bài thơ vừa thể hiện tâm trạng chung của một lớp người đang tìm đường, vừa thể hiện được dấu ấn riêng của tác giả bởi hơi thơ trầm hùng, bi tráng đặt biệt trong đoạn thơ đầu. 2.Bình giảng đoạn thơ ( 2 điểm) a. Bốn câu thơ đầu: - Nhấn mạnh không gian và thời gian cuộc tiễn đưa. Đó là nơi khoogn cso bến sông ( khác với thơ ca xưa thường diễn ra nơi bến sông, con đò). Thời gian cũng không có gì đặc biệt ( không thẳm, không vàng vọt). Tác giả phủ nhận ngoại cảnh ( điệp từ không) nhằm tô đậm nội tâm của kẻ ở, người đi. - Bốn câu thơ đầu là hai câu hỏi tu từ với hai vế đối lập giữa cái không của ngoại cảnh và cái có của nội tâm để khẳng định tâm trạng day dứt, xốn xang ( tiếng sóng trong lòng ) của người đưa tiễn và tâm trạng buồn thương, quyến luyến ( bón hoàng hôn) của người ra đi. - Âm điệu thiết tha, vừa khắc khoải ( điệp từ sao, toàn thanh bằng ở câu 1 và nhiều thanh trắc ở câu 2 ) tạo không khí trầm buồn, xao xuyến của buổi chia tay. b. Sáu câu thơ tiếp - Hai câu thơ 5,6: Tác giả thể hiện rõ hơn sắc thái tâm trạng và thái độ của người ra đi cũng như người ở lại. Nếu như đưa tiễn khẳng định " ta chỉ đưa người ấy", thì với người ra đi " Một giã gia đình, một dửng dưng". -Cách dùng từ Hán Việt và hình thức độc thoại ( câu 7 ) tạo sắc thái trang trọng, vừa gợi tư thế dứt khoát của người ra đi, vừa thể hiện tâm trạng nén lòng của người ở lại - mãi dõi theo bóng người xa nhưng không hề muốn có cuộc chia li. Chí nhớn nhưng con đường nhỏ và bàn tay không làm nổi rõ những trăn trở, và dự cảm về những khó khăn mà người ra đi phải đối mặt. - Những từ ngữ xưng hô ( ta, người), từ phủ định ( chưa, không, đừng ) với âm điệu mạnh mẽ đã làm cho câu thơ trở nên rắn rỏi, thể hiện quyết tâm của người ra đi vì chí lớn " một đi không trở lại". Từ dửng dưng và dấu chấm lửng cuối câu thơ thứ 6 thể hiện sự kìm nén tình cảm và thái độ dứt khoát của người đi. - Hình ảnh mẹ già ở câu thơ thứ 10 làm cho giọng thơ trùng xuống, dù có mềm lòng, có níu kéo riêng tư, vẫn không ngăn được quyết tâm của li khách. 3. Kết luận (0,5 điểm) - Đoạn thơ ca ngợi vẻ đẹp của li khách trong thời đại mới và thể hiện sự ngưỡng vọng đối với những người ra đi vì nghĩa lớn, cũng là cách thể hiện tấm lòng yêu nước của nhà thơ. - Đoạn thơ vừa cổ kính và hiện đại, đậm chất bi tráng và " đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại" ( Hoài Thanh ).
Câu III.b. Cảm nhận về vẻ đẹp của dòng sông Hương trong bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường 1. Giới thiệu chung (0,5 điểm) Ai đã đặt tên cho dòng sông? là một tùy bút đặc sắc, thể hiện phong cách tài hoa, uyên bác, giàu chất thơ của Hoàng Phủ ngọc Tường. Bài kí đã ca ngợi dòng sông Hương như một biểu tượng của Huế ( đặc biệt là đoạn từ thượng nguồn đến thành phố Huế ). 2. Cảm nhận về vẻ đẹp của dòng sông (2 điểm ) a. Vẻ đẹp của dòng sông - Trong đoạn trích nói trên,vẻ đẹp dòng sông được phát hiện ở cảnh sắc thiên nhiên rất đa dạng. Dòng sông chữ tình, êm ả,hiền hòa như một thiếu nữ dịu dàng và duyên dáng: + Lúc ở rừng già : phóng khoáng và man dại, rầm rộ mà mãnh liệt như một bản "trường ca của rừng già". + Khi rời khỏi rừng: dịu dàng và trí uệ của "người mẹ phù sa". + Khi qua hai dãy đồi sừng sững như thành quách: dòng sông mềm như tấm lụa, với vẻ đẹp biển ảo " sớm xanh, trưa vàng, chiều tím". + Khi qua vùng ngoại ô Kim Long: Vui tươi hẳn lên. + Khi lên thành phố: Sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ làm cho dòng sông mềm hẳn đi và trôi đi chậm, thực châm như một mặt hồ yên tĩnh. - Vẻ đẹp của dòng sông được miêu tả bằng một tình cảm thiết tha với Huế, với một vốn văn hóa phong phú và vốn ngôn ngữ từ giàu có và đậm chất thơ của tác giả. b. Cảm nghĩ của cá nhân: Trình bày những suy nghĩ, tình cảm của riêng cá nhân về vẻ đẹp của dòng sông ( yêu chân thành sâu sắc với lời văn giàu cảm xúc). Thí sinh có thể nêu các ý sau: Dòng sông như là một công trình nghệ thuật tuyệt với của tạo hóa, một vẻ đẹp rất thơ, khơi nguồn cho cảm hứng thơ ca, và gắn liền với nền âm nhạc cổ điển của Huế, tạo nên bề dày lịch sử văn hóa Huế. 3. Kết luận (0,5 điểm) - Nhờ ngòi bút tài hoa của tác giả, sông Hương trở thành dòng sông bất tử, chảy mãi trong trí nhớ và tình cảm của người đọc. - Bồi đắp cho tình cảm đối với quê hương, đất nước. Lưu ý Câu III.a và Câu III.b: Thí sinh có thể sắp sếp cách dàn bài theo cách khác, nhưng phải đảm bảo kiến thức và thể hiện được năng lực cảm thụ, bình phẩm, phân tích tác phẩm văn chương.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 680
|
|
|
|
BÀI LÀM
Con người muốn tồn tại trong xã hội đòi hỏi phải có tiền. Có tiền đời sống vật chất của con người ngày càng được cải thiện. Nhưng liệu hạnh phúc chỉ đến khi có nhiều tiền? Và ngược lại, có nhiều tiền liệc có được hạnh phúc? Không ít người đã coi việc kiếm tiền là mục đích sống của mình mà không ý thức được rằng: "Sự ham muốn vô độ về tiền bạc có thể dẫn con người đến chỗ xa đọa tâm hồn". Người ta thường nói: "Có tiền mua tiền mua tiên cũng được", bởi có tiền là có thể chiếm hữu mọi thứ tài sản, quyền lực, địa vị.. Có tiền người ta cũng có thể tận hưởng mọi giá trị vật chất trên đời, thưởng thức mọi của ngon vật lạ, nhà cao tầng, xe đời mới, đi du lịch khắp mọi nơi... Tiền bạc làm thỏa mãn ham muốn của con người. Coa nhiều tiền con người ta tự dưng cũng trở nên cao sang quyền quý được nhiêu người kính trọng hơn. Nhất là khi xã hội ngày càng phát triển, muốn làm bất cứ việc gì cũng cần phải có tiền, trị giá của đồng tiền càng cao. Thậm chí tiền còn có khả năng biểu thị tình cảm của con người với con người. Gỉa sử mình thương người hàng xóm nghèo khổ, cơm ăn k đủ no, áo mặc không đủ ấm nhưng trớ trêu thay khi mình cũng chẳng có tiền để giúp được gì thì liệu người hàng xóm ó thấu được tấm lòng của mình hay chỉ nghĩ về sự vô tâm ích kỷ? Sinh nhật đứa bạn thân, mình muốn tặng bạn món quà mà bạn thích nhưng không cách nào có đủ tiền mua nó thì bằng cách nào bạn hiểu được tình cảm của mình hay mãi mãi chỉ là những lời nói xuông?... Dầu ai cũng nói chỉ cần tấm lòng là đủ nhưng sự thực có tấm lòng mà không giúp được gì thì cũng không thiết thực. Và ngược lại, chẳng hạn một đại gia vốn không thương người cho lắm nhưng tiên tiền như ném ra cửa sổ, hi sing một khoản nhỏ tài sản của mình để ủng hộ người nghèo cốt lấy cái danh thơm. "Gía trị vạn năng" của đồng tiền là vậy đó, và cũng chỉ vì thế đồng tiền cũng trở thành sự ham muốn vô độ của không ít người. Sức mạnh to lớn của đồng tiền đã làm cho nhiều người nghĩ rằng phải kiếm thật nhiều tiền để thảo mãn mọi tiện nghi về đời sống vật chất. Cuộc sống hiện tại quá khó khăn, vật chất, người ta muốn mình có nhiều tiền để sống thoải mái hơn. Nhưng có được một cuộc sống đầy đủ rồi, người ta lại muốn mình có thật nhiều tiền để sống cho thật an nhàn, sung sướng. Sự thực là không bao giờ con người ta biết hài lòng về những gì mình đang có, do đó cũng dễ dẫn đến sự ham muốn vô độ về tiền bạc mà hiếm khi người ta nhận ra được sự ham muốn vô độ của mình. Và sức cám dỗ của đồng tiền thật dễ đẩy người ta vào chỗ sa đọa tâm hồn. Với sự ham muốn vô độ về tiền bạc, bao giờ người ta cũng tập trung vào suy nghĩ, tiêu tốn tất cả thời gian, sức lực của mình cho việc kiếm tiền. Để rồi đến nỗi không còn lấy một chỗ trống trong suy nghĩ, một chút thời gian...cho những phút giây xao động của tâm hồn, đời sống tâm hồn đã bị dìm vào quên lãng thay vào đó là bao tính toán, đắn đo về tiền bạc, lúc nào cũng chỉ tiền, mọi việc đều quay quanh chữ "tiền". Và như thế đồng tiền đã được chính mình tiếp tay cho sức mạnh của cả đời sống tâm hồn của con người.. Nó làm người ta phải khổ sở, phải đau đầu với bao suy nghĩ, toan tính không lúc nào được nhẹ nhõm thoải mái. Cuộc đời mỗi con người là gì nếu không phải là sự tận hưởng của cuộc sống? Tiền vốn là hình thức để người ta trao đổi của cải, vật chất cho cuộc sống được đầy đủ hơn. Vậy mà cả một cuộc đời chỉ quay quanh trong vòng xô bồ của cuộc sống để kiếm thật nhiều tiền thì kiếm đâu ra niềm vui được sống nếu có lúc nào đó ta tự hỏi mình đã thực sự tìm thấy mục đích của cuộc sống, mục đích sống của một đời người mà mình làm chủ?.. Và không chỉ thế, sự ham muốn vô độ về tiền bạc đôi khi còn dẫn con người đến những lầm lạc trong suy nghĩ và hành động, người ta không suy nghĩ và làm chủ được mình nữa. Tiền bạc có thể làm cho con người dễ tráo trở: "Còn tiền, còn bạc, còn đệ tử Hết cơm, hết rượu, hết ông tôi". (Nguyễn Bỉnh Khiêm) Quên cả nhân nghĩa: " Tiền tài hai chữ, son khuyên ngược Nhân nghĩa đôi đường, nước chảy xuôi" (Nguyễn Công Trứ) Đôi khi trở nên tàn nhẫn độc ác: "Một ngày lạ thói sai nha Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền" (Nguyễn Du) Chính vì vậy việc nhận thức về giá trị đồng tiền không chỉ thê hiện một cách nghĩ, một cách sống mà nó còn ảnh hưởng tới nhân cách làm người. Tiền bạc chỉ góp phần làm cho cuộc sống của ta dễ dàng hơn, tiền không thể làm ta hạnh phúc. Đừng để đồng tiền ngự trị đầu óc, khiến ta phải luôn mệt mỏi, mệt mỏi và có khi còn làm trái pháp luật, bất nhân bất nghĩa. Hạnh phúc chỉ có được khi người ta biết thỏa mãn với những gì mình đang có. Hạnh phúc chỉ có được khi người ta làm chủ được chính mình, được làm những gì mình thích, được nuôi nấng và thực hiện ước mơ, lí tưởng. Hạnh phúc là người ta biết sống, nhận được tình cảm yêu mến, thân thiện từ mọi người. Con người ngoài tài sản vật chất do lao động chân chính tạo ra, còn có những bảo vật tinh thần vô giá: một tâm hồn trong sáng, một nhân cách thanh cao, niềm say mê lao động, phục vụ đất nước, xã hội.... Những thứ này không thể nào mua được bằng tiền bạc. Gía trị đồng tiền là không thể phủ nhận nhưng cần có sự nhận thức đúng đắn rằng: "Sự ham muốn vô độ về tiền bạc sẽ dẫn con người đến tha hóa tâm hồn". Câu nói là bài học quý giá cho con người luôn làm chủ được suy nghĩ, hành động của mình. Chúng ta hãy sống sao cho mỗi lần nhìn lại hãy tự hào về những gì mình đã làm, có thể nhận thấy sự nhẹ nhõm trong tâm hồn trước sự cám dỗ của đồng tiền, trước vòng đời quanh quẩn, xô bồ.
|
|