|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 25/05/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1128
|
|
|
|
ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC LẦN VII (2012) - TRƯỜNG CHUYÊN ĐẠI HỌC SPHN
Câu 1 (2 điểm). Thí sinh cần có các ý cơ bản sau: Nam Cao được tôn vinh là nhà văn hiện thực nhân đạo, truyện ngắn "Chí Phèo" đã thể hiện sâu sắc tư tưởng nhân đạo của nhà văn: 1. Tư tưởng nhân đạo trong "Chí Phèo" của nhà văn Nam Cao thể hiện ở sự đồng cảm với nỗi khổ đau, bất hạnh của người nông dân, đấy là tình trạng bần cùng hóa và nhất là nỗi đau tha hóa ở họ . . . 2. Xuất phát từ tình thương, nhà văn đã đứng về phía họ để lên tiếng tố cáo giai cấp thống trị tham lam, tàn nhẫn, xảo quyệt đã đẩy người nông dân đến nỗi khổ tột cùng . . . Tư tưởng nhân đạo thể hiện tập trung qua việc nhà văn tỏ sự trân trọng, tin tưởng đối với phẩm chất đáng quý của người nông dân : khát vọng hạnh phúc, mơ ước được sống lương thiện. . . Câu 2 (3 điểm) HS có thể làm theo nhiều cách khác nhau, nhưng phải đảm bảo nguyên tắc cơ bản của một bài văn nghị luận xã hội. Các ý chính cần có: Phát biểu của Ê- ren- bua đề cập đến lòng yêu nước, thứ tình cảm thiêng liêng, cao quý của mỗi con người. Theo tác giả của đoạn văn này, lòng yêu nước có hai khía cạnh cơ bản: - Nó gắn liền với những tình cảm của mỗi con người như lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê. Nó khởi nguồn từ "lòng yêu những nhân vật tầm thường nhất: yêu cái cây trồng trước nhà, yêu cái phố nhỏ đổ ra bờ sông . . . ". - Nó tỏa sáng nhất là trong hoàn cảnh thử thách là chiến tranh khi con người phải đối mặt với nguy hiểm, cái chết. - Lòng yêu nước là tình cảm tốt đẹp, vốn đẹp, vốn có ở mỗi con người. Song, đôi khi con người ta không có ý thức sâu sắc, rõ rệt của nó. - Cần có ý thức đánh thức, khơi dậy, bồi đắp để cho nó ngày càng nảy nở, phát triển và tồn tại bền vững. - Lòng yêu nước có nhiều biểu hiện đa dạng, phong phú gắn với yếu tố thời đại. Chiến tranh đó là" nơi cao nhất thử lòng yêu nước" nó đòi hỏi người ta tinh thần xả thân, dám hy sinh để bảo vệ Tổ Quốc. Trong cuộc sống hòa bình, lòng yêu nước gắn với những điều thiết thực, gần gũi. Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê chính là những hạt nhân, là cơ sở đồng thời là biểu hiện của lòng yêu nước. (1,5 điểm) Liên hệ bản thân, hoàn cảnh đất nước hiện nay (0,5 điểm) Câu 3a (5 điểm) Gioiws thiệu khái quát về Hồ Chí Minh và Nhật kí trong tù, Chiều tối (Mộ): Tố Hữu và Từ ấy. Chỉ ra những điểm chung: - Tác giả của hai bài thơ đều là những chiến sĩ tiên phong, những nhà cách mạng là thơ. Họ sử dụng thơ ca như một thứ vũ khí để hoạt động cách mạng, những vần thơ ấy cũng khắc họa chân dung con người và tinh thần của họ. - Trong hai tác phẩm, hai hình tượng nhân vật trữ tình - người chiến sĩ cách mạng có điểm chung là: + Có trái tim nhạy cảm, giàu yêu thương . . . + Có bản lĩnh, ý chí của một người chiến sĩ vững vàng . . .
|
|
|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 24/05/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1124
|
|
|
|
ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC LẦN I (2012) - TRƯỜNG CHUYÊN ĐẠI HỌC SPHN
Câu 1 (2 điểm) - Khái niệm: Hiện đại hóa là quá trình làm cho văn học thoát ra khỏi hệ thống thi pháp văn học trung đại và đổi mới theo hình thức văn học phương tây, có thể hội nhận với nền văn học thế giới. (0,5 điểm) - Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam diễn ra qua 3 giai đoạn: + Từ đầu thế kỷ XX đến khoảng năm 1920: Giai đoạn chuẩn bị các điều kiện vật chất cần thiết cho công cuộc hiện đại hóa: Chữ Quốc Ngữ được phổ biến ngày càng rộng rãi, báo chí dịch thuật ngày càng phát triển. Tuy nhiên thành tựu hiện đại hóa mới chỉ giới hạn ở một số truyện kí của mấy cây bút Nam Bộ. Nền văn học đất nước, trong lòng chủ lưu vẫn là thơ văn của các thi sĩ cách mạng, nhà tu tưởng chính trị xã hội tuy đã đổi mới nhưng quan điểm và tình cảm thẩm mỹ . . . vẫn chưa khác bao nhiêu so với các cây bút của thế kỷ XIX. + Từ khoảng năm 1920 đến 1930: Giai đoạn quá độ (giao thời). Quá trình hiện đại hóa văn học đã đạt được một số thành tựu vang dội với tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, truyện ngắn Phạm Duy Tốn, thơ Tản Đà . . . Tuy nhiên, những yếu tố của văn học cổ vẫn tồn tại phổ biến từ nội dung đến hình thức. (0,5 điểm) + Giai đoạn 1930 đến 1945: Công cuộc hiện đại hóa được nâng lên một chất lượng mới với nhiều cuộc cách tân sâu sắc trên nhiều thể loại đặc biệt là tiểu thuyết, truyện ngắn và thơ. Hai thể loại mới là phóng sự và phê bình văn học chính thức ra đời. Câu 2 (3 điểm) Học sinh có thể làm bài theo nhiều cách, dưới đây là một vài gợi ý: - Giải thích (0,75 điểm) + Gương là vật dùng để soi, nó phản chiếu hình ảnh người, sự vật. Người ta soi gương là muốn nhìn thấy hình ảnh của mình một cách khách quan, trung thực. Tác giả sử dụng cách nói hình ảnh - ví cuộc đời như một tấm gương - mượn đặc tính của gương để chuyển tải thông điệp của mình + Cuộc đời là tấm gương đặc biệt. Nó không chỉ phản chiếu hình ảnh của chính bạn mà còn phản chiếu thái độ, tình cảm của mọi người đối với bạn, đáp lại bạn bằng đúng thái độ, tình cảm bạn dành cho nó. Nếu bạn mỉm cười, nghĩa alf bạn vui vẻ, lạc quan, yêu đời, yêu người .... bạn sẽ nhận lại được sự vui vẻ thân thiện. Nếu bạn chau mày, cau có,khó chịu, bạn sẽ nhận lại "vẻ mặt chanh chua". + Con người, nhất là bạn trẻ có hai con đường lựa chọn, 2 cách sống trong cuộc đời. Hẳn không ai muốn nhìn thấy những gương mặt cau có, khó chơi, không ai muốn đối diện với một thái độ tiêu cực. Sự định hướng đã khá rõ ngay trong lời nhắn nhủ của Thác - cơ -rê. - Chứng minh (0,75 điểm) Học sinh cần vận dụng những hiểu biết xã hội của mình để chứng minh: ở đời ta cho đi cái gì xẽ nhận lại được thứ đó. - Bàn luận mở rộng :(1,0 điểm) + Đạo phật có luật nhân -quả. Dân gian từng tổng kết, ở hiền gặp lành, gieo gió gặp bão, Nhà văn Frorence Shiece cũng cho rằng: "Cuộc sống như trò chơi gió gặp bão. Sớm hay muộn sẽ quay lại với chúng ta sự chính sác đến không ngờ" . . . Muốn người khác đối sử với mình thế nào, hãy đối sử với họ như vậy. + Ai cũng muốn được gặp gỡ, nhìn thấy những bộ mặt tươi cười, được yêu quí, tin cậy . . . Nhưng không phải ai cũng nhận được. Vấn đề là bạn phải mỉm cười với cuộc đời, với mọi người trước đã. + Song sự công bằng trong cuộc đời chỉ là tương đối. Đừng đòi hỏi một sự chính sác, công bằng tuyệt đối. Hãy cứ sống lạc quan, yêu đời, yêu người và vững tin bạn sẽ nhận lại đủ". + Đoạn văn là những lời bài luận, khuyên răn, định hướng rất có ý nghĩa, đặc iệt là những người trẻ tuổi đang đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời. - Liên hệ bản thân (0,5 điểm) Bạn đã dành cho cuộc đời, cho mọi người thái độ, tình cảm như thế nào. Bạn thấy mình cần thay đổi, điều chỉnh những gì . . . Câu 3 a (5 điểm) Giới thiệu tóm tắt về tác giả và tác phẩm + Nam Cao là một trong những gương mặt tiêu biểu , xuất sắc cảu nền văn học hiện đại Việt Nam, một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn. + "Đời Thừa" là truyện ngắn xuất sắc của ông về đề tài người trí thức nghèo, thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc của nhà văn. - Khái niệm: Gía trị nhân đạo là một giá trị cơ bản của những tác phẩm chân chính được tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc đối với nỗi đau của con người, sự nâng niu, chân trọng những nét đẹp trong tâm hồn con người và lòng tin về sự vươn dậy của nó. (0,5 điểm) - Phân tích giá trị nhân đạo sâu sắc của"Đời Thừa" với những biểu hiện chính: + Sự thấu hiểu và cảm thông với bi kịch tinh thần đau đớn của người trí thức nghèo trong xã hội cũ. Từ đây, nhà văn lên tiếng tố cáo xã hội bất công, kìm hãm, vùi dập những ước mơ, làm chết mòn đời sống tinh thần của con người. + Sự nâng niu trân trọng, ngợi ca của tác giả đối với những vẻ đẹp tâm hồn nhân cách cảu người tri thức: có đam mê, có hoài bão và nỗ lực trong việc biến ước mơ thành hiện thực, có quan niệm sống đúng đắn, tiến bộ. Trong mọi hoàn cảnh, tình huốn Hộ luôn coi tình thương là nguyên tắc của mình, Hộ trung thực: có khả năng tự ý thức cao, biết hối hận ăn năn trước những sai lầm của mình . . . + Niềm tin của nhà văn vào sự thức tỉnh ý thức cá nhân, luôn tự đấu tranh để hoàn thiện mình, luôn có ý thức vươn tới một cuộc sống có ích. - Đánh giá chung (0, 5 điểm) + "Đời Thừa" là truyện ngắn có giá trị nhân đạo sâu sắc + Tác phẩm cũng có những thành công xuất sắc về nghệ thuật : kết cấu, giọng điệu, miêu tả tâm lý, ngôn ngữ . . . + Tinh thần nhân đạo là yếu tố quan trọng làm nên giá trị của những sáng tác của Nam Cao . Điều này cũng phù hợp với chủ trương, quan niệm của ông lúc sinh thời: "Một tác phẩm thật giá trị phải ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình . . . nó làm cho gần người hơn. Câu 3 b (5 điểm) Giới thiệu tóm tắt về tác giả và tác phẩm + Xuân Quỳnh là một trong những gương mặt tiêu biểu của phong trào thơ trẻ chống Mỹ, là một tiếng thơ phụ nữ chân thành, hồn hậu, luôn khắc khoải da diết trước hạnh phúc đời thường. + "Sóng" là bài thơ tiêu biểu của Xuân Quỳnh được chị làm ở biển Diêm Điền - Thái Bình thánh 2 - 1967 - Vẻ đẹp của bài thơ "Sóng" trước hết nằm ở các phát hiện và khám phá về tình yêu của Xuân Quỳnh từ sóng. + Sóng có những đặc tính trái ngược giống như tình yêu nhiều cung bậc, trạng thái, như tâm hồn, tính khí của người con gái khi yêu. + Hành trình của sóng cũng là hành trình tìm kiếm tình yêu và hạnh phúc một cách đầy chủ động của người con gái. + Cũng giống như sóng, tình yêu muôn đời bí ẩn, khó lí giải, nắm bắt. + Sóng luôn vận động, trăn trở, thao thức giống người phụ nữ khi yêu luôn nhớ nhung, khát khao, một lòng hướng về người mình yêu. + Khát vọng sóng cũng chính là khát vọng của tình yêu hướng tới sự vĩnh hằng, bất tử, chân thành, mãnh liệt, thủy chung, có đức hy sinh cao cả, bất chấp những trở ngại khó khăn luôn vững tin vào tình yêu, hạnh phúc. Cái tối Xuân Quỳnh ở "sóng" vừa dịu dàng, đằm thắm, nữa tính, vừa mãnh liệt, táo bạo. (1,0 điểm) - Vẻ đẹp của "Sóng" còn là vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ khi yêu: yêu chân thành, mãnh liệt, thủy chung, có đức hy sinh cao cả, bất chấp những trở ngại khó khăn luôn vững tin vào tình yêu hạnh phúc. Cá tôi Xuân Quỳnh ở "Sóng" vừa đằm thắm dịu dàng, nữ tính, mãnh liệt , táo bạo. (1,0 điểm) - Vẻ đẹp của bài thơ còn toát lên từ hình thức nghệ thuật đặc sắc của nó: thể hiện 5 chữ cắt khổ đề đặn giống như những con sóng cứ sô đuổi nhau. Hình tượng thơ đa dạng (sóng và em) giàu ý nghĩa. Ngôn ngữ giản dị, một mạc như chính tấm lòng tác giả . . . (1,0 điểm)
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1123
|
|
|
|
ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC LẦN III(2012) - TRƯỜNG CHUYÊN ĐẠI HỌC SPHN
Câu 1(2 điểm) - Nhan đề có ý nghĩa đặc biệt trong tác phẩm nghệ thuật, góp phần làm nên sức hấp dẫn và thể hiện chiều sâu tư tưởng của nhà văn. Nam Cao là nhà văn cẩn trọng, có trách nhiệm cao với ngòi bút của mình, nhan đề tác phẩm cũng được ông đặc biệt quan tâm, Truyện ngắn Chí Phèo cũng trải qua nhiều nhan đề, mỗi cái tên có một ý nghĩa riêng. (0,25 điểm) - Đầu tiên, nhà văn đặt cho tác phẩm cái tên "Cái lò gạch cũ". Đây là một chi tiết gắn với phần mở đầu và phần kết thúc của tác phẩm. Ở phần đầu, cái lò gạch là nơi Chí Phèo bị bố mẹ bỏ rơi, đây là sự khởi đầu cho cuộc đời đầu cơ cực, bi kịch của hắn. Ở phần kết thúc tác phẩm, cái lò gạch cũ xuất hiện trong đầu Thị Nở, rất có thể đứa con xắp chào đời lại chịu chung số phận với cha nó xưa kia. Nhan đề này tạo nên kết cấu vòng tròn, gợi sự luẩn quẩn, bết tắc của người nông dân trong xã hội nủa phong kiến. (0,5 điểm) - Nhan đề "Chí Phèo " mà nhà văn Nam Cao đặt ngắn gọn mà sâu sắc nhất, Chí Phèo đã trở thành nhân vật điển hình. Chí Phèo có số phận riêng, tính cách riêng, không thể trộn lẫn, đồng thời tiêu biểu cho người nông dân bị bần cùng hóa, lưu manh hóa, cay đắng hơn, hắn còn bị từ chối quyền trở lại làm người lương thiện, mặc dầu vậy, trong Chí Phèo , ta vẫn thấy khao khát hạnh phúc, mong ước được làm người lương thiện. Qua nhan vật này, không chỉ phơi bày sự thật khắc nghiệt về người nông dân, nhà văn còn cảm thông với bi kịch của họ, tin tưởng vào những nét đẹp quý giá của họ. (0,75 điểm) Câu 2 (3 điểm) Học sinh có thể làm theo nhiều cách, nhưng phải đảm bảo nguyên tắc cơ bản của một bài văn nghị luận xã hội. Các ý chính cần có: - Không chỉ là nhân tài trong thế giới công nghệ và kinh doanh, Steve Jobs còn là tác giả của nhiều câu nói hay, có ý nghĩa. Câu nói trên như mượn hình ảnh người thợ mộc nhưng thực chất thể hiện một quan niệm nghề nghiệp cũng là một quan niệm sống nghiêm túc. "Mảnh gỗ tầm thường cho mặt lưng tủ dù nó luôn xoay úp vào trong lòng tường và chẳng có ai có thể nhìn thấy" gợi ta nghĩ đến những góc khuất mà người ta hay làm bừa, làm ẩu . . . Từ chối cách làm ấy tức là ta đã đòi hỏi một sự trung thực cao với mình, với người đòi hỏi cả TÂM và TÀI. (1 điểm) - Triết lý của Steve Jobs có lí do vừa gần giũ, vừa sâu xa. Đó là bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào cũng là một chỉnh thể trọn vẹn, các bộ phận gắn kết, cùng tạo nên giá trị. Nếu kém ở một bộ phận, một khâu, một khía cạnh nào đó . . . sản phẩm sẽ không hoàn hảo, giảm chất lượng, thậm chí gây nguy hiểm. Có thể loài người, người sử dụng chưa/ hoặc không biết, nhưng chính người tạo ra sản phẩm biết rõ nhất. Lương tâm, trách nhiệm không cho phép người ta lừa dối mình và lừa dối người. (1,0 điểm) - Trong thực tế Steve Jobs và đồng nghiệp của mình đã tạo nên những sản phẩm kỳ diệu, có tác động tới toàn thể thế giới mà không đơn thuần vì lợi nhuận, mà ngược lại, có không ít người vì sự cẩu thả, vì lợi ích trước mắt . . . vẫn bất chấp tất cả để tạo nên những sản phẩm bề ngoài đẹp bên trong chứa đầy lỗi. Thậm chí, điều này trở thành một lối sống đang tồn tại khá phổ biến. Câu nói này của Steve Jobs là bài học quý giá với mỗi học sinh, thầy cô và toàn thể chúng ta. (1,0 điểm) Câu 3.a(5 điểm) - Giới thiệu khái quát về hai nhà thơ, hai bài thơ, hai đoạn thơ: (0,5 điểm) - Cảm nhận về nét chung: (1 điểm) + Ở cả hai đoạn thơ đề có sự hình ảnh thiên nhiên trong trạng thái chia li, li biệt . . . + Đằng sau những hình ảnh ấy đều là nỗi đau và sâu sa hơn, lời thơ chứa đựng khao khát được gặp gỡ, gắn kết, yêu thương . . . - Đoạn thơ của Hàn Mặc Tử (1,5 điểm) + Đây là khổ thơ thứ hai của bài thơ "Đây thôn Vĩ Dạ". Sau khi "về thăm thôn Vĩ" bằng tâm tưởng, nhân vật trữ tình dời thế giới lung linh hài hòa, tràn đầy sức sống để đối mặt với sự tan vỡ, chia lìa. + Lời thơ Hàn Mặc Tử mang dáng dấp thơ tượng trưng, nhưng lại phản chiếu logic tâm trạng. Đó là sự ám ảnh của nỗi đau, sự mặc cảm về một người tha thiết yêu cái đẹp, yêu đời, nhưng lại thấy mình bị hắt hủi . . . Cái nhìn trong hiện tại hay điều lo lắng trong tương lai đều hằn in những chia li, rạn vỡ. Vì thế, cảnh dù đẹp, vẫn đau đớn, đầy khắc khoải. + Khổ thơ trên gắn với số phận bi kịch của thi sĩ, khơi gợi ở người đọc sự cảm thông và trân trọng. Bởi lẽ dù thế nào, nhà thơ vẫn khao khát được gắn bó, yêu thương. - Đoạn thơ của Xuân Diệu (1,5 điểm) + Đoạn thơ nằm ở khổ ba của bài thơ "Vội Vàng". Bài thơ bắt đầu bằng những điều tôi muốn, tôi sung sướng khi đắm chìm mình trong vẻ đẹp tươi tắn, rộn ràng, đậm xuân tình. Nhưng rồi, thi sĩ nhận ra sự khắc nghiệt: Thời gian không chỉ đem đến mùa xuân, sự trẻ trung . . . mà còn đang hủy hoại. Bốn câu thơ nằm trong mạch thơ thể hiện nỗi đau về cái đẹp bị hủy hoại. + Lời thơ Xuân Diệu tiêu biểu cho lối thơ lãng mạn. Nhân vật trữ tình bày tỏ những cảm xúc dạt dào mãnh liệt của mình. Lối tương phản, những câu hỏi, những từ ngữ gắn liền với những cảm xúc dạt dào mãnh liệt của mình. Lối tương phản, những câu hỏi, những từ ngữ gắn liền với cảm giác, cảm xúc vẽ ra một viễn cảnh đáng sợ, những run rẩy của tâm hồn. Nó mang theo dự cảm về li biệt (Trong gặp gỡ đã có phần li biệt) + Đoạn thơ trên gắn với ám ảnh về thời gian, gắn với một tâm hồn nồng nàn, tha thiết của một nhà thơ khao khát giao cảm với đời, muốn vĩnh viễn hóa tuổi xuân, cái đẹp . . . nhưng lại thấy cuộc đời hờ hững, tuổi xuân qua mau cái đẹp chóng tàn. Điều quý giá là, đằng sau những vần thơ này là lời "giục giã": Hãy sống "vội vàng", hết mình, tận hưởng cái đẹp trong cuộc đời này . . . - Hai đoạn thơ, hai bài thơ đã góp phần thể hiện phong cách riêng của mỗi thi sĩ, đồng thời làm phong phú cho phong trào thơ mới (0,5 điểm) Câu 3b. (5 điểm) - Giới thiệu khái quát về Nguyễn Tuân, tùy bút "Người lái đò sông Đà" và nhân vật ông lái đò tài hoa, trí dũng . . . - Nêu ngắn gọn hình ảnh đối thủ của ông lái đò, những thách đó àm ông vượt qua (0,5 điểm) - Phân tích hình ảnh ông lái đò mưu trí, dũng cảm trong cuộc chiến có vẻ không cân sức; ông cũng là con người tài hoa trong nghệ thuật chèo đò (bám sát hình ảnh của ông khi vượt qua ba trùng vây thạch trận) - Những đặc sắc trong cách miêu tả nhân vật của nhà văn: (1 điểm) + Không hướng tới nhân vật kiểu "đặc tả" (như trước cách mạng tháng Tám -1945), trong tùy bút này, nhà văn khám phá những con người bình dị trong cuộc sống lao động; tất nhiên; ở đó, Nguyễn Tuân vẫn thể hiện được nét đẹp phi tường ở họ. + Đặt nhân vật vào mạch viết phóng túng, nhà văn tạo nên một mạch viết tự nhiên, hồi hộp, hấp dẫn. + Vận dụng một nguồn kiến thức uyên bác để miêu tả cuộc chiến ác liệt và chiến thắng oanh liệt của ông lái đò. + Sử dụng ngôn ngữ giàu chất tạo hình, phong phú, sống động . . . viết nên bản anh hùng ca ca ngợi người anh hùng lao động đặc biệt. . . Đánh giá chung: Lưu ý: - Trong bài nghị luận văn học, thí sinh phải thể hiện được kỹ năng tổ chức nài văn, viết câu, dùng từ cơ bản, chuẩn xác, tinh tế. - Qua bài viết, thí sinh bộc lộ năng lực cảm thụ vẻ đẹp nghệ thuật và tư tưởng của nhà văn. - Khuyến khích những bài viết sáng tạo, phát triển mới mẻ . . . trừ điểm những lỗi cơ bản.
|
|
|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 23/05/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1120
|
|
|
|
ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC LẦN III (2012) - TRƯỜNG CHUYÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Câu 1:(2 điểm) Thí sinh cần trình bày được các ý chính sau: 1. Hoàn cảnh sáng tác: Tháng 10 - 1954,Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc trở về thủ đô; đây là cuộc chia tay đặc biệt trong hiện thực đời sống cách mạng, nhân sự kiện lịch sử ấy. Tố Hữu viết bài thơ "Việt Bắc", một tác phẩm xuất sắc của ông cũng như thơ ca kháng chiến chống Pháp.(0,5 điểm) 2. "Việt Bắc" là bản anh hùng ca, ca ngợi cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Trong đó tất cả các thành phần tham gia kháng chiến, từ nhân dân đến lãnh tụ, từ bộ đội đến dân công . . . đều thể hiện một tinh thần yêu nước tha thiết, cháy bỏng cùng khát vọng độc lập dân tộc. 3."Việt Bắc" còn là bản tình ca, ca ngợi tình cảm cách mạng gắn bó thủy chung son sắc giữa cán bộ với nhân dân, giữa miền xuôi và miền ngược. (0,5 điểm) 4."Việt Bắc" là bài thơ thể hiện tài năng thơ Tố Hữu: thể lục bát nhuần nhị, đậm màu sắc truyền thống mà vẫn hiện đại ở tình cảm mới, hình thức đối đáp của ca dao, một giọng điệu trữ tình ngọt ngào tha thiết, một phong cách nghệ thuật độc đáo. (0,5 điểm) Câu 2 (3 điểm) Học sinh có thể làm theo nhiều cách, song cần chú ý đến các ý chính sau đây theo yêu cầu của bài văn nghị luận xã hội. 1. Ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết là cần thiết và quan trọng. Vì sao? Vì đó là những giá trị tinh thần truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vì họ là những tấm gương sáng trong cuộc sống cần trân trọng, học tập, cần được tuyên truyền, cần được nhân lên nhiều hơn nữa để cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn . . . Ca ngợi đúng sẽ có tác dụng tích sực. Tuy nhiên, ca ngợi là một việc làm, dù sao cũng không phải hoàn toàn khó khăn. (1 đểm) 2. "Phê phán là thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh của con người" là bày tỏ thái độ cụ thể trước những hành vi vô cảm của con người với con người , với cộng đồng, với thiên nhiên. . . Đây là một điều tưởng như dễ dàng, nhưng thực sự lại không hẳn như thế, bởi những biểu hiện "thờ ơ, ghẻ lạnh" khá phức tạp, tinh vi; nhiều khi được ngụy biện một cách rất khôn khéo. Hôn nữa, phê phán người khác là điều rất thận trọng, đôi khi vì sợ mất lòng, mất quyền lợi. . . người ta đành bỏ mặc, buông xuôi. Vì vậy, thái độ phê phán ngày càng quan trọng hơn trong cuộc sống, nhất là trong các cuộc đấu tranh chống cái ác và cái xấu đang tồn tại trong xã hội hiện đại. (1 điểm) 3.Phê phán như thế nào để đạt được hiệu quả? Đúng mức độ, đúng hoàn cảnh, đúng đối tượng . . . là cả một nghệ thuật, dù sao, trước cái ác và cái xấu, vẫn cần một thái độ rõ ràng, một lập trường dứt khoát, một bản lĩnh vững vàng. (0,5 điểm) 4. Liên hệ bản thân: Từ nhận thức đến hành động, một quá trình lâu dài, thường xuyên với chính mình, với mọi người cần tỏ rõ một tinh thần cầu thị, xây dựng . . . một tình cảm chân thành, chú ý đến hai vấn đề: vừa ngợi ca vừa phê phán để có niềm tin và nỗ lực phấn đấu hơn nữa . . . (0,5 điểm) Lưu ý: HS có thể lấy những ví dụ ngoài đời sống, trong văn chương . . . nhưng phù hợp với hệ thống lí lẽ lập luận trong bài viết. Câu 3.a (5 điểm) 1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm và suất sứ đoạn trích cần phân tích. Qúa trình một người tự do, Mị trở thành một món hàng gạt nợ, là con dâu mà thực chất là con nợ của nhà Thống lí vì nghèo khổ, vid tầng lớp thống trị, vì thần quyền. (0,5 điểm) 2. Những đêm tình mùa xuân đã đến được Tô Hoài miêu tả rất tự nhiên, thiên nhiên đất trời đầy nắng, rộn rã tiếng cười, rực rỡ sắc màu . . . một không gian tự do đối lập với không gian tù ngục tăm tối của căn buồng kín mít nơi Mỵ. đã quá quen thuộc. (0,5 điểm) 3. Diễn biến tâm lí của Mỵ. khi mùa xuân về. Tiến gsaso là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc để nhà văn thể hiện quá trình bừng tỉnh của nhân vật, phải là tiếng sáo gọi bạn tình vào đêm xuân. My. thổn thức, Mỵ. nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bồi hồi, Mỵ. uống rượu từng bát, My. nhớ lại quá khứ, My. ý thức thực tại, My. định tự tử, My. thắp sáng ngọn đèn, My. muốn đi chơi. Nhân vật có một quá trình tâm lý khá phức tạp, được nhà văn thể hiện hết sức thành công, đánh thức quá khứ, nhìn nhận thực tại, tiếng sáo nâng đỡ My. về thực tại cuộc sống . . Từ một "con rùa", My. đã trở thành một cô gái phơi phới trở lại đang thức dậy khao khát tuổi trẻ và tình yêu. (1 điểm) 4. Qua việc thể hiện diễn biến đời sống tâm lý của My., ta nhận thấy những nét tính cách nổi bật của nhân vật: vừa nhẫn nhịn tưởng chừng như đầu hàng với hoàn cảnh, nhưng vừa có khả năng phản kháng quyết liệt, My. có trái tim nhạy cảm, một tâm hồn tinh tế và một tính cách mạnh mẽ, yêu tự do và phóng khoáng, sống trong tủi nhục và cay đắng, "quen trong cái khổ", nhưng khi có một hoàn cảnh nhân đạo - dù thoáng qua, My. vẫn thể hiện nét đẹp khỏe khoắn trong tâm hồn chất phác, trong trẻo của người lao động miền núi. 5. My. bị ném trả lại không gian ngục tù khi A Sử xuất hiện. Hắn trói My., tắt đèn, đi ra, khép cửa buồng một cách thản nhiên, nhưng ngọn đèn trong lòng My. vẫn âm ỉ lẩn khuất đâu đó, có thể còn dữ dội hơn, một diễn biến tâm lí tiếp theo được Tô Hoài thể hiện càng thành công hơn: "My. nửa mê nửa tỉnh", vừa còn dư âm của khát vọng, vừa phải đối diện với hiện thực nghiệt ngã, tiếng sáo vẫn còn, nhưng xen với tiếng chó sủa, tiếng chân ngựa đạp vào vách. Thêm một lần nữa My. nghĩ đến thân phận của mình, "không bằng con ngựa". Dù chưa thể vượt thoát được hoàn cảnh, nhưng như một cuộc diễn tập cần thiết để nhân vật có thể tự giải phóng mình khi gặp và cởi trói cho A Phủ.(1 điểm) 6. Đánh giá chung: Về sức sống của nhân vật và tài năng thể hiện tâm lý nhân vật của Tô Hoài. Qua trích đoạn này, tác giả đã khẳng định: Ngục tù không thể giết chết được khát vọng của tình yêu, sự sống, tự do của người lao động miền núi. Đó cũng là lý tưởng mà có lần Tô Hoài từng tâm sự. Câu 3 b.(5 điểm) 1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Là một nhà thơ nổi tiếng từ thủa" Điêu tàn" sau cách mạng năm 1945, Chế Lan Viên tham gia kháng chiến và tiếp tục sáng tác, trên chặng đường "Phá cô đơn ta hào hợp với người", ông thành công với "Tiếng hát con tàu" nhờ "ánh sáng" của Đảng, của Cách mạng soi đường, và "phù sa" của nhân dân bồi đắp.(0,5 điểm) 2. Bài thơ còn có tên ban đầu là "Con tàu Tây Bắc". Con tàu là một hình ảnh đầy ẩn dụ của nhà thơ, "Con tàu" trước hết là tiếng gọi của Đảng, Nhà nước vận động đồng bào miền xuôi lên xây dựng kinh tế miền núi vào những năm 1958 - 1960, là tiếng của đất nước gọi ta". - Con tàu còn mang ý nghĩa như chính tiếng lòng ta gọi . Bởi vậy, khổ thơ đầu tiên là lời gọi chính mình - sự phân thân của tác giả. Chú ý biện pháp nghệ thuật sở trường của nhà thơ là đối lập, nhằm giúp tự nhận thức sâu sắc hơn về :đi xa và ở gần, giữa gió ngàn và Hà Nội. Sự đối lập ấy còn giúp người đọc cùng suy ngẫm, chiêm nghiệm về ý nghĩa về sự tồn tại giữa cái tôi và cái ta. Những câu hỏi đang thể hiện tâm trạng phân vân lưỡng lự giữa đi và ở của chính tác giả. Điều này càng thấm thía với ai cùng thế hệ với nhà thơ mọi thời " Tổ quốc trong lòng ta mà có như không". Tóm lại từ hình ảnh mới mẻ, sáng tạo đến những thủ pháp nghệ thuật phù hợp tác giả dẫn dắt người đọc vào cách nghĩ của riêng mình mà vẫn dễ dàng được chia sẻ. 3. Một lần nữa ở khổ thơ thứ hai, vẫn là lời mời gọi thiết tha, nhắc nhở chân thành: vẫn biện pháp nghệ thuật đối lập nhằm thức tỉnh bản thân cũng như chia sẻ cùng người đọc: không thể có ý nghĩa nếu chối từ lời mời gọi của con tàu - Cụ thể "đất nước" và "đời anh", lớn lao và nhỏ hẹp. Đó là mối liên hệ giữa cái rộng lớn và cái tôi vô nghĩa. Giọt nước chỉ có thể tồn tại khi hòa vào đại dương - "Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép" là câu thơ như đang nói với chính mình. Chế Lan Viên thường có cách kể chuyện độc đáo về chuyện nghề văn, về bản thân trong quá khứ: "Tôi vẫn khép phòng văn hì hục viết / Nắng trôi đi oan uổng biết bao ngày"." Tâm hồn anh chờ gặp ở trên kia" là cách diễn đạt ngày càng độc đáo. Sự phân thân càng rõ ràng hơn khi xem thể xác ở đây", còn tâm hồn trang "trên kia". Và "Tây Bắc" không còn nghĩa địa danh cụ thể nữa (Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc), mà là muôn nẻo đường trên quê hương, đất nước. Nghe theo tiến gọi của con tàu, sẽ gặp lại nhân dân, sẽ tìm lại chính mình, sẽ có hồn thơ hồi sinh, sẽ là cuộc sống của chính thơ ca thực sự có ý nghĩa. (1,5 điểm) 4. Cần đặt hai câu thơ trong hệ thống toàn bài thơ (các khổ thơ đề từ) mới phân tích bình giảng sâu sắc tính chỉnh thể của hình ảnh ẩn dụ: con tàu, Tây Bắc, tâm hồn anh, tâm hồn ta . . . - "Con tàu này lên Tây Bắc . . ." - "Tàu gọi anh đi . . . " - "Đất nước gọi ta hay lòng ta gọi" - " Khi lòng ta đã hóa những con tàu" - "Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia" - "Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu" - "Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc" Những hình ảnh trùng phức, nhưng thống nhất chặt chẽ, thể hiện tập trung chủ đề tư tưởng của tác phẩm. (1 điểm) 5. Đánh giá chung: Bài thơ tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật thơ Chế Lan Viên: Chất triết lý sâu sắc, hình ảnh mới mẻ, độc đáo. Kết hợp giữa vẻ đẹp tài hoa cảm xúc chân thành, mãnh liệt, thơ ông có sức hấp dẫn với nhiều thế hệ độc giả. Hai khổ thơ có nhiều hình ảnh ẩn dụ, tượng trưng cùng cách diễn đạt độc đáo lấp lánh vẻ đẹp trí tuệ của nhà thơ Chế Lan Viên. Tác giả tự nhắc nhở mình chân thành và thấm thía trên quá trình đến với nhân dân, Tổ quốc mình của người nghệ sĩ trong hành trình "từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui" cùng "con tàu" hòa nhập giữa "lòng ta" và "đất nước"; khi đó hòa hợp cùng cất lên tiếng thơ - "tiếng hát" có ích cho cách mạng, cho nhân dân, cho Tổ quốc mình. (0,5 điểm) Lưu ý: Tôn trọng những bài viết sáng tạo, có thể có những ý kiến riêng, quan điểm cá nhân, nhưng được trình bày hợp lý, thuyết phục.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1119
|
|
|
|
ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC LẦN III (2012) - TRƯỜNG CHUYÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Câu 1: (2 điểm) Đây là câu hỏi tái hiện kiến thức, yêu cầu học sinh trình bày ngắn gọn, chính xác, mạch lạc. Bài làm cần nêu được những ý chính cơ bản sau: Ý chính: 1. Hồ Chí Minh coi văn chương trước hết là vũ khí chiến đấu phụng sự đắc lực cho sự nghiệp cách mạng (1,0 điểm) 2. Người đặc biệt coi trọng đối tượng, mục đích sáng tạo của văn chương. (0,5 điểm) 2. Hồ Chí Minh đề cao tính chân thực của văn chương (0,5 điểm) Câu 2 (3,0 điểm) học sinh có thể đưa ra những ý kiến riêng, trình bày và diễn đạt theo cách khác nhau, song cần đảm bảo những ý chính sau: Ý chính: 1: Giải thích ngắn gọn í kiến: + "Đối xử với bản thân bằng lý trí": là yêu cầu về cách ứng sử của con người đối với chính mình. Theo đó con người phải có khả năng tự nhận thức, tự đánh giá về mình một cách tỉnh táo, sáng suốt, nghiêm khắc, thậm chí khắt khe. Có như vậy, mới lịp thời nhận ra rõ những hạn chế, nhược điểm của mình để tránh và tìm cách khắc phục. Quan trọng hơn là tạo cho mình khả năng làm chủ trong mọi tình huống, nhất là trong mọi cám dỗ. + "Đối xử với người khác bằng tấm lòng": là yêu cầu về cách ứng xử của con người với mọi người xung quanh mình - người thân (ruột thịt, họ hàng), người làng xóm, bạn bè, đồng nghiệp đồng bào, ... Theo đó, con người phải luôn nhìn nhận, đánh giá người khác bằng "tấm lòng" - yêu thương, bao dung, độ lượng, chia sẻ, giúp đỡ, vị tha: sẵn sàng chịu thiệt thòi, tự nguyện chấp nhận hy sinh, cưu mang đùm bọc, không kì thị, hắt hủi, xua đuổi, dửng dưng. Có như vậy mỗi con người mới có thể góp phần hạn chế những bất hạnh, đau khổ trong xã hội, cứu vớt, nâng đỡ những tâm hồn tội lỗi, ... Cũng theo đó, con người tìm được những ý nghĩa tốt đẹp của cuộc sống trong sự gắn bó, hòa hợp với cộng đồng. Khi đối sử với người khác bằng cả tấm lòng, ta mới có thể đón nhận tấm lòng từ mọi người. Bởi cái ta "nhận" sẽ chính là cái ta từng "cho". Như vậy, câu ngạn ngữ Nga đã nêu ra bài học sâu sắc về cách ứng sử với chính mình và với mọi người: với mình phải nghiêm khắc với người cần bao dung, dộ lượng, vị tha, yêu thương. (1,0 điểm) 2. Bàn luận + Trong thực tế cuộc sống, "Đối xử với bản thân bằng lý trí" là cần thiết. Song, trong những tình huống cụ thể cũng cần đối sử với chính mình bằng tấm lòng: cần biết cách tự tha thứ cho mình. Mọi người biết sống khoan dung với chính mình mới có thể khoan dung cho người khác. + Cũng vậy, "Đối xử với người khác bằng tấm lòng" là đúng. Nhưng có người, có việc lại rất cần phải "lý trí", nghĩa là phải nghiêm túc, tỉnh táo. (0,5 điểm) + Cần tránh những cách ứng sử cực đoan với bản thân, người khác. - Qúa "lý trí" với mình, sẽ biến mình thành người sống nguyên tắc, cứng chắc, thậm chí khô khan, giáo điều. Một người như thế sẽ khó biết đối sử với người khác bằng tấm lòng yêu thương, khoan dung, độ lượng. - Qúa dễ dãi khi dành "tấm lòng " cho người khác: yêu thương không đúng cách, bao dung không đúng việc, vị tha không đúng người, đúng lúc, ... có thể gây hại cho người mình yêu thương, dễ bị người xấu lạm dụng. (0,5 điểm) + Như thế, ý nghĩa câu ngạn ngữ trên, khi vận dụng cần linh hoạt. Mỗi người cân nhắc đều lựa chọn cách ứng xử với mình và với người khác sao cho phù hợp. 3. Liên hệ bản thân Câu IIIa (5 điểm). Học sinh có thể trình bày, diễn đạt theo những cách khác nhau nhưng bài làm cần đảm bảo các ý sau: Ý chính: 1. Giới thiệu chung: + Huy Cận là một trong những gương mặt tiêu biểu của phong trào Thơ Mới lãng mạn của Việt Nam (1932 - 1945). Gửi trong hệ thống nghệ thuật (thi liệu, thi ngôn, thi tứ, bút pháp, ..) đậm đà màu sắc Đường thi hòa hợp với những nét thi pháp thơ tượng trưng ... là một hồn thơ buồn sầu đến "ảo não" nhưng vẫn yêu, gắn bó thiết tha, sâu nặng với thiên nhiên đất nước, gia đình. +Clà một trong những thi phẩm kết tinh được bản sắc rất riêng của hồn thơ Huy Cận (0,5 điểm) 2. Phân tích: + Bản sắc cái tôi trong thơ trữ tình: - Trong tác phẩm trữ tình cũng có nhân vật. Đó là nhân vật trữ tình, khác với nhân vật trữ tình trong tác phẩm tự sự, nhân vật trữ tình không được khắc họa nhiều về ngoại hình, hành động,... với tính cách, số phận diễn biến phức tạp mà chủ yếu thể hiện qua giọng điệu, trạng thái cảm xúc, tâm hồn. - Cái tôi - trữ tình là một dạng thức của nhân vật trữ tình. Đó chính là nhân vật trữ tình - tác giả, thường được nhận diện bởi xưng hô "ta ", "tôi" trong thơ. - Bản sắc cái tôi - trữ tình là đặc điểm riêng, khác biệt, có tính thẩm mỹ để phân biết nhân vật trữ tình - tác giả giữa thi phẩm kia cùng hoặc khác tác giả. (0,5 điểm) + Bản sắc cái tôi của Huy Cận thời Thơ mới qua bài thơ: - Cái tôi sầu đến "ảo não" vì thấm thía nỗi cô đơn, lẻ loi và thấy mình lạc lõng, bế tắc giữa không gian vũ trụ cao, sâu, dài, rộng đến rợn ngợp của cảnh vaath thiên nhiên sống nước Tràng giang (d/c và phân tích các hình ảnh, chi tiết : sóng ... buồn điệp điệp/ thuyền xuôi mái/ nước sầu trăm ngả/ củi một cành khô lạc mấy dòng/ bến cô liêu/ bèo giạt/ không cầu/ không ... đò/ chim nghiêng cảnh nhỏ bóng chiều sa, ...) Mỗi hình ảnh thiên nhiên trong bài thơ dường như đều là một hóa thân của cái tôi - Huy Cận mang trong mình nỗi "sầu vạn kỷ: , mối "thiên cổ sầu". (2,0 điểm) - Cái tôi yêu tha thiết cảnh vật thiên nhiên đất nước (dẫn chứng và phân tích :sóng/ nước/ thuyến/ cồn/ gió/làng/ chợ/ bờ bãi/ bầu trời chiều, ... ) Tình yêu đó gửi trong cảnh sắc thiên nhiên vừa trang trọng, cổ điển vừa chân thực, gần gũi, thi vị hùng vĩ nhưng buồn vắng. (0,75 điểm) - Cái tôi gắn bó sâu nặng với quê hương, gia đình. (d/c và phân tích hai câu cuối) 3. Đánh giá chung: + "Tràng giang" in đậm dấu ấn một cái tôi - trữ tình Huy Cận "Trọn kiếp mắt ... tường đẫm lệ" , một cái tôi Huy Cận "Cùng đất nước mà nặng buồn sông núi". Thực chất là một cái tôi - Huy Cận mang trong mình một tình yêu đất nước thầm kín. + Cùng Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, ... Huy Cận đã góp cho phong tào Thơ mới lãng mạn Việt Nam (1932 - 1945) một "gương mặt nghệ thuật riêng", làm phong phú, đa dạng những cái tôi - trữ tình vốn đã muôn màu của phong trào thi ca này. (0,5 điểm) Câu IIIb (5 điểm). Học sinh có thể trình bày, diễn đạt theo những cách khác nhau nhưng bài làm cần đảm bảo các ý sau: Ý chính: 1. Giới thiệu chung: + Nguyễn Trung Thành là cây bút đặc biệt say mê những vẻ đẹp của thiên nhiên và con người vùng đất ấy: "Đất nước đứng lên", "Rừng xà nu". + "Rừng xà nu" được coi là một "Đất nước đứng lên" thu nhỏ thời chống Mỹ. Đó là khú hùng ca về một Tây Nguyên với thiên nhiên hùng vĩ, tráng lệ cùng những con người bất khuất, bất diệt. + Hình tượng xà nu là một trong những hình tượng nghệ thuật để lại cho người đọc ấn tượng sâu sắc, khó quên. (0,5 điểm) 2. Cảm nhận: + Hình tượng xà nu được miêu tả chân thực như một cảnh thiên nhiên quen thuộc, gần gũi, gắn bó với con người Tây Nguyên từ bao đời (sự xuất hiện của xà nu ở đoạn văn đầu, rải rác trong diễn biến cốt truyện, ở phần kết thúc tác phẩm). (0,5 điểm) + Hình tượng xà nu là hiện thân cho sức sống mãnh liệt, kì diệu cùng vẻ đẹp nên thơ, tráng lệ, hùng vĩ của thiên nhiên Tây Nguyên trong sự hủy diệt tàn khốc của kẻ thù (d/c và phân tích) (2,0 điểm) + Hình tượng xà nu còn được miêu tả như một biểu tượng về các thế hệ con người Tây Nguyên đau thương mà kiên cường,bất khuất, bất diệt (d/c và phân tích) (1,0 điểm) 3. Đánh giá chung: + Hình tượng xà nu là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Trung Thành, được khắc họa bằng hệ thống nghệ thuật giàu chất sử thi, lãng mạn (ngôn ngữ giàu chất thơ, bút pháp sử thi, giọng điệu trang trọng, hào hùng, kết cấu trùng điệp, ...) + Hình tượng này đã góp phần biểu đạt một phương tiện quan trọng làm nên chủ đề tư tưởng tác phẩm gửi trong phát ngôn giàu sức khái quát, đầy tự hào, kiêu hãnh của cụ Mết " Không có gì mạnh bằng cây xà nu đất ta, cây mẹ ngã, cây con mọc lên. Đố chúng nó giết hết rừng xà nu này": Khẳng định, biểu dương sức sống mãnh liệt và bất diệt của thiên nhiên và con người Tây Nguyên trong đấu tranh cách mạng. + Đồng thời, đây cũng là hình tượng tạo nên bối cảnh mang đậm chất sử thi để tác giả khắc họa nổi bật vẻ đẹp sử thi của các thế hệ con người Tây Nguyên trong đấu tranh cách mạng ở tác phẩm. (1,0 điểm)
|
|
|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 22/05/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1118
|
|
|
|
ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC LẦN V (2012) - TRƯỜNG CHUYÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Câu 1. Thí sinh trình bày ngắn gọn, chính xác, mạch lạc những ý cơ bản sau: - Tiếng sáo gợi không khí lễ hội, thể hiện tài miêu tả phong tục của Tô Hoài ... (0,5 điểm) - Tiếng sáo là ngoại cảnh tác động, làm thay đổi tâm lí của My., đánh thức My. ... (0,5 điểm) - Tiếng sáo là tiếng lòng của người con gái có sức sống tiềm tàng, có khao khát tình yêu mãnh liệt, đang hồi sinh .. sự gặp gỡ giữa ngoại cảnh và nội tâm đã làm nên biến đổi sâu sắc của người con gái Tây Bắc . . . Chi tiết này góp phần thể hiện tư tưởng nhân đạo của nhà văn.(1 điểm) Câu 2 (3 điểm) HS có thể đưa ra những ý kiến riêng, trình bày theo các chách khác nhua, sau cần đảm bảo các ý chính sau: 1. Giải thích - Sử dụng hình ảnh sống động và lập luận so sánh, Xuân Diệu thể hiện một lựa chọn sống hết sức quyết liệt + Một phút huy hoàng: Sống hết mình, khẳng định mình, để lại dấu ấn của mình giữa cuộc đời, dù sau này có tàn lụi (rồi chợt tối) + Buồn le lói xuốt trăm năm: sống mờ nhạt yếu đuối, vô nghĩa, không được mọi người biết đến - Câu thơ của Xuân Diệu ra đời trong bối cảnh thế hệ tri thức Việt Nam đón ngọn gió phương Tây với tất cả sự háo hức. Họ bừng tỉnh ý thức cá nhân, muốn phủ nhận lối sống gò bó, khuôn mẫu, mờ nhạt, từ đó vươn lên lối sống để tận hưởng và tận hiến. . . 2. Bàn luận và liên hệ + Trong thời điểm ra đời, câu thơ của Xuân Diệu là một thời tuyên chiến với quan niệm sống cũ, là tuyên ngôn sống của tri thức tiến bộ ngày ấy. + Đến hôm nay quan niệm này vẫn thể hiên được khía cạnh tích cực: "giục giã" người ta sống hồn nhiên, sống cống hiến, tránh lối sống "lưng chừng", yếu ớt. Bởi suy đến cùng, giá trị của đời người không phải ở thời gian sống mà ở chất lượng sống, ở những gì người ta cống hiến cho cuộc đời. (0,75 điểm0 + Tuy nhiên, có không ít người hiểu quan niệm này một cách lệch lạc. Họ sống nông nổi, sống vội, "đốt cháy giai đoạn", bất chấp, khẳng định một cách tiêu cực, dẫn tới cả đoạn đời còn lại họ phải gánh chịu hậu quả của chính mình .(0,5 điểm) + Cần có quan điểm sống hài hòa. Để làm rõ được điều đó, mỗi chúng ta, nhất là học sinh, phải xác định được quan niệm sống lành mạnh (biết cống hiến và hưởng thụ; biết sống cho hiện tại và tương lai, biết vì mình và mọi người ... (0,75 điểm) Câu 3.a (5 điểm) Thí sinh cần bộc lộ rõ kỹ năng viết văn nghị luận văn học, năng lực cảm thụ văn học. Có thể viết nhiều cách khác nhau, nhưng cần có các ý chính sau. 1. Giới thiệu chung:(0,75 điểm) - Nam Cao và" Chí Phèo": Nam Cao là nhà văn có đóng góp quan trọng cho văn học Việt Nam, đặc biệt ở giai đoạn trước cách mạng thánh tám với tư cách nhà văn hiện thực phê phán. Truyện ngắn "Chí Phèo" là kiêt tác của nhà văn Nam Cao ra đời năm 1941, tiêu biểu cho mảng viết về nông dân (bị bần cùng hóa, lưu manh hóa) - Kim Lân và "Vợ Nhặt": Kim Lân viết không nhiều, nhưng tác phẩm của ông để lại dấu ấn đặc biệt, truyện ngắn "Vợ Nhặt" (hoàn thành năm 1954) có "tiền thân" là " Xóm ngụ cư", là tác phẩm xuất sắc của ông về người nông dân trong nạn đói Ất Dậu - Đối với truyện ngắn, kết thúc tác phẩm có ý nghĩa đặc biệt, qua đó ta thấy được cả tài năng và tấm lòng của nhà văn. Kim Lân và Nam Cao đều là những nhà văn lớn, hai kết thúc truyện viết về cùng đề tài của họ có những nét chung và riệng thú vị, ý nghĩa. 2. Điểm chung (0,25 điểm) - Ra đời ở thời điểm khác nhau nhưng bối cảnh hai truyện ngắn trên vẫn có nét chung. Hai nhà văn lại cùng thế hệ, cùng chứng kiến những biến động, những sự thật của thời đại, do đó kết truyện của họ có điểm gặp gỡ. - Đó là tình cảnh khốn cùng của người nông dân, họ đối diện với sự bế tắc không gì vượt qua được. Gia đìng tràng phải ăn cháo cám, cuộc sống đã bấp bênh giờ lại thêm một miệng ăn lại càng bấp bênh hơn, bên tai họ vẳng tiếng thúc thuế . . Còn Chí Phèo phải kết thúc cuộc đời mình, Thị Nở nhìn bà cô, rồi nhìn trộm xuống bụng, trong đầu thị thoáng hiện ra cái lò gạch xa nhà cửa và vắng người qua lại. - Qua hai kết thúc này, ta đều nhận được sự cảm thông, thấu hiểu của nhà văn về thân phận của con người trong xã hội thực dan nửa phong kiến. 3. Điểm riêng của kết thúc chuyện ngắn "Chí Phèo" (1,75 điểm) - Đây là kết thúc nằm trong kết thúc đầu cuối tương ứng, tạo nên ám ảnh đặc biệt với người đọc. Chí Phèo bị bỏ rơi, rất có thể đứa con của Chí Phèo và Thị Nở sẽ lặp lại số phận của cha, mẹ mình. - Nam Cao dõi theo cả hành trình tha hóa và khát vọng trở lại làm người lương thiện của Chí Phèo. Mối tình của Chí Phèo và Thị nở, mong ước được hòa nhập với cộng đồng, được trở lại làm con người lương thiện của Chí Phèo mang theo niềm tin của nhà văn vào những con người không còn được ai tin. - Tuy nhiên, cuối cùng, nhà văn vẫn phải để cho mối tình của Chí Phèo tan vỡ, Chí Phèo tự kết liễu đời mình, có thể đứa con của Chí Phèo cũng bế tắc, cay cực như cha. Kết thúc này thể hiện cái nhìn hiện thực của nhà văn: ông lên tiếng tố casco xã hội, lên tiếng kêu cứu cho con người. -> Sống trong xã hội cũ, những trải nghiệm và quan niệm nghệ thuật riêng, Nam Cao đã xây dựng một kết thúc đậm chất hiện thực và nhân đạo. 4. Điểm riêng của kết thúc truyện ngắn "Vợ Nhặt" (0,75 điểm) - Kết thúc của truyện ngắn "Vợ Nhặt" gắn liền với tình huống "nhặt vợ" oái oăm trong tác phẩm. Tràng đã nhặt được thị trong bối cảnh cái đói, cái chết hiện diện khắp nơi. Khi gắn kết là một gia đình, cái đói vẫn hiện hữu, cái chết vẫn rình rập đâu đây. - Khác với Nam Cao, để cho Tràng và Thị đến với nhau, nhà văn phát hiện ra những thay đổi tích cực của hai người. Tràng hạnh phúc và ra giáng một người trụ cột trong gia đình. Thị từ chỗ tìm miếng ăn, chốn ở, đã sẵn sàng ở lại chia sẻ, dù nhà Tràng chẳng "rích - bố - cu", chẳng có "cơm trắng mấy giò". . . - Truyện mở đầu bằng cảnh u ám, nhưng lại kết thúc trong cảnh tươi sáng, ánh sáng buổi sớm mai, ánh sáng của lá cờ đỏ sao vàng hiện ra trong đầu Tràng, ánh sáng của niềm hạnh phúc, của niềm lạc quan . . người ta hình dung, một ngày không xa, Tràng và Thị có thể có mặt trong các cuộc biểu tình, phá kho thóc Nhật. Dường như đây chính là phương pháp mà Kim Lân gợi ra để nhân vật của mình có thực sự thay đổi số phận. Nhà văn bộc lộ tình thương và niềm tin vào con người. -> Có lẽ từng chứng kiến những khổ đau và cả sức mạnh của người nông dân trong cuộc cách mạng tháng Tám và chiến thắng Điện Biên Phủ, Kim Lân đã có một kết thúc mạnh dạn, mang dấu ấn thời đại. 5. Đánh giá chung: Với kết thúc truyện độc đáo, hấp dẫn, ý nghĩa, Nam Cao và Kim Lân đã tạo ra những kiệt tác của văn xuôi hiện đại Việt Nam. Họ đã để lại những bài học về tài năng và tấm lòng người nghệ sĩ. Câu 3.b. (5 điểm) 1. Giới thiệu chung (0,75 điểm) - Chế Lan Viên và "Tiếng hát con tàu": Chế Lan Viên là nhà thơ đóng góp cho nền thơ ca hiện đại Việt Nam ở cả chặng đường trước và sau cách mạng thánh Tám với những vần thơ đậm chất trí tuệ. Đoạn thơ nằm trong bài thơ "Tiếng hát con tàu" sáng tác vào giai đoạn 1958 - 190 (in trong "Ánh sáng và phù sa"). Tác phẩm ra đời gắn liền với sự kiện kinh tế chính trị, nhưng nó không dừng lại ở tuyên truyền. Nhà thơ đã thể hiện được hành trình tư tưởng của mình :Đó là hướng đến nhân dân đến cuộc sống chân lí nghệ thuật. - Xuân Quỳnh và "Sóng" : Xuân Quỳnh là nhà thơ trưởng thành trong cuộc khánh chiến chống Mỹ. Thơ Xuân Quỳnh đằm thắm, thông minh, thể hiện sự chân thành, nhân hậu, đặc biệt trong những bài thơ viết về tình yêu và hạnh phúc. Bài thơ "Sóng" (nằm trong tập "Hoa dọc chiến hào") thể hiện những chiêm nghiệm của người phụ nữ trong tình yêu. 2. Cả hai bài thơ đều có những câu thơ thể hiện nỗi nhớ. Nỗi nhớ là thước đo của tình yêu, của tình người, nỗi nhớ khiến ta thấy vẻ đẹp tâm hồn con người. 3. Đoạn thơ trong bài thơ "Tiếng hát con tàu" của Chế Lan Viên (1,75 điểm) - Khổ thơ nằm trong hành trình của con tàu tâm tưởng đang ngược dòng thời gian trở về những ân tình cách mạng. Nhân vật trữ tình ở đây là nhà thơ - người chiến sĩ đã từng gắn bó, được đại gia đình Tây Bắc che chở, yêu thương. "Con" nhớ "anh con ", "em con", "mế", "bản", "đèo" rồi "bỗng nhớ em", đột ngột, cháy bỏng như một tất yếu. - Chế Lan Viên, như thường lệ đã dùng ngôn ngữ sáng tạo với những liên tưởng so sánh đậm chất trí tuệ kết hợp giữa cảm xúc và triết lí để khơi gợi cảm xúc và đánh thức nhận thức cảu người đọc. Tác giả đã giúp ta nhận ra được vẻ kì diệu của tình yêu: lung linh sắc màu, đặc biệt với tình yêu đôi lứa. tình cảm riêng tư và tình cảm cách mạng hòa vào một, để mỗi nhà thơ, mỗi chiến sĩ có thêm quê hương thứ hai của mình. Tình yêu ấy cao cả và thiêng liêng. nỗi nhớ và tình yêu trong đoạn thơ gắn liền với tình cảm biết ởn với nhân dân và cuộc sống, góp phần làm nên những nhận thức của nhà thơ về lẽ sống, quan niệm tác giả. 4. Đoạn thơ trong bài "Sóng" của Xuân Quỳnh (1,75 điểm) - Đoạn thơ gắn liền với hành trình "Sóng" và "em" "tìm ra tận bể" để tìm và lí giải câu hỏi đầy trăn trở về tình yêu về trái tim người phụ nữ khi yêu. - Nhân vật trữ tình ở đây là người phụ nữ nhạy cảm, đa ưu, thông minh, mãnh liệt trong tình yêu. Cái "tôi" Xuân Quỳnh đã nhập vào "sóng" và "em" để trải nghiệm, hiểu mình, hiểu người. hiểu tình yêu của mình. Trong khoảng cách của thời gain và không gian, nỗi nhớ hiện ra thường trực, hơn thế, nó chiếm lĩnh được cả ý thức và tiềm thức . . . - Với thể thơ ngũ ngôn, nhịp thơ nói được nhịp trái tim, hình ảnh ẩn dụ, thủ pháp đối điệp cấu trúc câu, diệp từ, điệp ngữ . . . Xuân Quỳnh đã tạo nên những câu thơ giàu nhạc điệu. Qua những câu thơ này, nữ sĩ đã thể hiện được những khám phá của vẻ đẹp tình yêu chân thành, nồng nàn, sự thủy chung tha thiết trong trái tim người phụ nữ Việt Nam. 5. Hai đoạn thơ giúp chúng ta hiểu thêm về con người, thấy được nét đặc sắc trong phong cách mỗi nhà thơ. (0,5 điểm)
|
|
|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 21/05/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1108
|
|
|
|
ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG - KHỐI N, M, H - 2004
Câu 1. Các ý chính: 1. Hoàn cảnh ra đời bài thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu a. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954) Hiệp định Giơnevơ được kí kết, hòa bình được lặp lại, một trnag sử mới của đất nước và một giai đoạn mới của cách mạng được mở ra. Tháng 10-1954, các cơ quan của trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc, nơi đã che chở nuôi dưỡng cách mạng trong suốt những năm trường kì kháng chiến chống thực dân Pháp trở về Hà Nội. b. Cuộc sống thay đổi có tính chất bước ngoặt: Từ chiến tranh sang hòa bình, từ núi rừng về thành thị: Biết bao lưu luyến ân tình với những nơi đã từng đồng cam cộng khiir, với những người đã từng "chia ngọt sẻ bùi". Người ra đi không khỏi bâng khuâng thương nhớ, người ở lại cũng không khỏi bịn rịn, trống trải, bùi ngùi,.... Nhân sự kiện có tính chất thời sự và lịch sử ấy, Tố Hữu - một cán bộ của Đảng, một nhà thơ lớn của cách mạng đã sáng tác bài thơ Việt Bắc và tháng 10-1954. Bài thơ đã có vinh dự làm tên chung cho cả tập thơ Việt Bắc, một đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là một tác phẩm vui xuất sắc của thơ Việt Nam thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp. 2 .Nhận xét và cách sử dụng hai từ "mình" và "ta" trong bài thơ a. "Mình" và "ta" là cách xưng hô thường thấy trong ca dao của dân tộc (Mình về có nhớ ta chăng - Ta về ta nhớ hàm răng mình cười"; hoặc "Mình bảo với ta mình hãy còn son - Ta đi qua ngõ thấy con mình bò"...) Thông thường "ta" và "mình" không phải là một. Nhưng trong quan hệ thân thiết việc xưng hô "mình, ta" tạo nên sự thân thiết, gần gũi. Đó còn là cách xưng hô có tính lấp lửng và phải có quan hệ gắn bó, mặn mà lắm mới có cách xưng hô như vậy. b. Vận dụng lối xưng hô đằm thắm của ca dao. Tố Hữu đã có những sáng tạo mới khi sử dụng hai từ "mình" và "ta" tròn bài thơ Việt Bắc. Cụ thể, trong ca dao "mình" và "ta" thường để chỉ hai cá nhân cụ thể: một nam, một nữ. Trong bài thơ Việt Bắc, "mình" và "ta" mang tính phiếm chỉ, biểu thị có kẻ ở người đi. Đố cụ thể là chỉ ở các đồng bào dân tộc Việt Bắc, những người ở lại và những cán bộ trở về thị thành "Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng cuối rừng"? Mặt khác, nhiều câu thơ, Tố Hữu xòn vận dụng nét nghĩa lấp lửng làm cho "mình" và "ta" thêm ý nhị, hàm nghĩa phong phú. Ví dụ: "Mình đi mình lại nhớ mình" .... Câu 2. Các ý chính 1. Giới thiệu sơ lược tác giả, tác phẩm, nhân vật được phân tích a. Trong số những tác phẩm viết về đề tài chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc những năm 1960, truyện ngắn Mùa Lạc của Nguyễn Khải là truyện ngắn xuất sắc. Nguyễn Khải là nhà văn xông xáo, nhạy bén với những vấn đề của cuộc sống xã hội và đã có nhiều thành công về đề tài nông thôn, về cuộc sống tinh thần, tình cảm của con người với những biến động của xã hội. b. Truyện ngắn Mùa Lạc chủ yếu nói về biến đổi về số phận con người, sự hình thành những mối quan hệ đạo đức mới giữa con người, khẳng định những giá trị nhân đạo và tính ưu teieencuar cuộc sống mới của chủ nghĩa xã hội. Nhân vật Đào trong tác phẩm Mùa Lạc thể hiện những suy nghĩ, những triết lý nhân sinh mang tính nhân đạo của nhà văn. 2. Phân tích nhân vật Đào để làm nổi bật giá trị nhân đạo của tác phẩm a. Về ngoại hình: Đào là một nhân vật được nhà văn miêu tả hết sức sinh động, có những nét riêng, dễ nhận về chân dung diện mạo. Cô không phải là người phụ nữ có nhan sắc, hai mắt đẹp và dài, hàm răng khểnh, thân hình sồ sề, bàn tay có những ngón to, cặp chân ngắn, ... Đó là điều thiệt thòi của cô trong " phái đẹp". b. Về phẩm chất nội tâm: Đào là người có xét đoán sắc sảo, thông minh, có khả năng đối đáp nhanh lẹ. Ngôn ngữ của cô là thứ ngôn ngữ lắm sắc màu, đậm chất tục ngữ dân gian, dí dỏm, thú vị. Đó có lẽ là "kết quả" của một cuộc sống long đong, vật vả, đầy bất hạnh: ngược xuôi buôn bán, đòn gánh trên vai, "tối đâu là nhà, ngã đâu là gường";... c. Về lai lịch: Quê Đào ở Hưng Yên nhà không có ruộng, làm nghề đậu phụ, lấy chồng từ năm 17 tuổi, chồng cờ bạc, bỏ đi Nam. Trở về, có một đứa con lêm hai thì chồng mất, mấy tháng sau con sài chết ... Quê hương chẳng còn ai thân thích. Từ đó, Đào sống cuộc đời lênh đênh, nhiều khi muốn chết nhưng "đời còn dài nên phải sống". Sự dãi dầu khiến cho hình hài của cô càng phyooi phai và cá tính càng trở nên táo bạo và liều lĩnh "ghen tị với mọi người và hờn giận cho thân mình ...". Tóm lại, trước khi lên nông trường Điện Biên, Đào là một phụ nữ có quá nhiều nỗi bất hạnh. ... d. Đào tìm đến với nông trường Điện Biên không phải với hy vọng đổi đời mà với tâm lý: "Con chim bay mãi cũng mỏi cánh....". Cô muốn tìm một nơi hẻo lánh nào đó thật xa, để quên đi những tháng ngày đã qua trong cuộc đời đầy đau khổ của mình, còn cuộc sống sắp tới thế nào, cô không rõ. Vì Điện Biên trước đây vốn là một bãi chiến trường ác liệt, bom mìn còn ngổn ngang, cái chết vẫn còn rình rập ở đâu đó. Nơi ấy cuộc sống đâu phải là một thiên đường. Cô chạy trốn số phận! e. Nhưng cuộc sống của Đào ở công trường đã diễn ra một cách tích cực. Tâm lí của Đào cũng đã có những biến đổi và cuộc sống của cô cũng biến đổi. Từ chỗ đanh đá, thách thức với xung quanh, cô đã bắt đầu sống chan hòa với mọi người. Cô làm báo tường, lao động hăng say. Tình cảm của Đào dần dần giàu nữ tính và độ lượng. Từ đó, cô đã tìm được hạnh phúc. Người đàn ông góa vợ có tên là Dịu đã viết thư tỏ tình. Cô bàng hoàng, nhưng thấy như có "mạch nước ngọt rỉ thấm vào từng thớ đất khô cằn vì nắng hạn". Niềm vui đó thật bất ngờ và to lớn! g. Cuộc sống của Đào đã hồi sinh ngay chính trên mảnh đất xưa kia vốn là bạ chiến trường chết chóc. Nông trường Điện Biên có khả năng hàn gắn được những vết thương chiến tranh trên mảnh đất xưa kia, hì cũng có khả năng hàn gắn được những vết thương trong lòng người. Những con người mới và một môi trường sống mới ưu việt đã giúp cho cô vượt qua được "ranh giới" của nỗi bất hạnh của số phận. 3. Kết luận a. Qua nhân vật Đào trong truyện ngắn Mùa lạc, ta thấy một quan niệm giàu tính nhân đạo của tác giả về con người trong cuộc sống. tác giả đã thể hiện sự quan tâm đến những số phận bất hạnh, những con người bị thiệt thòi trong cuộc sống riêng. Ông khao khát được sống hạnh phúc của con người. b. Qua nhân vật Đào, tác giả cũng khẳng định một điều là: những người bất hạnh, đau khổ trước đây, chỉ có thể thay đổi số phận cuộc đời nhờ vào một môi trường sống tốt đẹp, bên những con người mới. Nhân vật gửi gắm thông điệp đến bạn đọc tác phẩm: hãy quan tâm hơn đến những con người bất hạnh đang sống xung quanh chúng ta. Đó cũng chính là giá trị nhân đạo của tác phẩm. Câu 3. Các ý chính 1 . Giới thiệu sơ lược về tác giả và tác phẩm a. Hàn Mặc Tử là một trong những nhà thơ xuất sắc của phong trào Thơ mới lãng mạn 1932 - 1945. Ông đã để lại nhiều tập thơ đặc sắc, trong đó có những bài thơ rất trong trẻo và tươi sáng, hình ảnh đẹo như trong ca dao, cổ tích. Đó là các bài thơ Tình yêu, Mùa xuân chín và đặc biệt là bài Đây thôn Vĩ Dạ tin trong tập thơ Điên của nhà thơ. b. Đây thôn Vĩ Dạ là bài thơ viết về Huế, viết cho Huế, bộc lộ một tâm trạng thân thương của một tác giả trước một sứ sở đẹp và thơ, với những hình ảnh của cảnh và người xứ Huế thơ mộng, đáng yêu. Khổ thơ bình giảng là khổ thơ thứ hai trong bài thơ này của Hàn Mặc Tử. 2. Bình giảng khổ thơ a. khổ thơ thứ hai này được mở đầu bằng những hình ảnh trái ngược với buồn bã. Gió theo lối gió, mây đường mây Câu thơ tả cảnh nhưng là để ngụ tình. Gió và mây chia đôi ngả, tác giả mượn hình ảnh thiên nhên để ngầm tả sự chia ly cách biệt của con người. Chú ý, câu thơ được ngắt làm đôi nhịp, như sự chia cắt của hai người. b. Từ đó, cũng nhuốm màu buồn bã, ủ ê. Hình ảnh "bến sông trăng" rất gợi cảm, tạo nên sắc thái huyền ảo, thơ mộng, ... Chú ý cảm giác mơ hồ qua ngôn từ và hình ảnh của dòng thơ. 3. Kết luận a. Cùng với khổ thơ đầu và khổ thơ cuối của bài thơ, khổ thơ thứ hai của bài Đây thôn Vĩ Dạ đã dệt nên những hình ảnh thơ bằng một thứ ngôn từ trong suốt, đẹp đẽ và gợi cảm, đọng lại trong lòng người đọc những ấn tượng da diết, khó phai mờ về xứ Huế thơ mộng và yêu thương. b. Người đọc yêu mến bài thơ, vì biết rằng bài thơ này đã được tác giả của nó viết ra từ một tâm hồn đau khổ, nhưng luôn gắn bó thiết tha với cuộc đời và con người bằng một tình yêu trần thế.
|
|
|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 20/05/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 16/05/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1088
|
|
|
|
ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG - KHỐI D - 2004
Câu 1. Các ý chính: 1. Nguyễn Tuân là một nhà văn lớn của văn học Việt Nam. Sự nghiệp của ông trải ra trên hai chặng đường, trước và sau cách mạng tháng Tám năm 1945: trước năm 1945, là nhà văn lãng mạn; sau năm 1945 chuyển xang là nhà văn cách mạng. 2. Trước năm 1945, sáng tác của Nguyễn Tuân xoay quanh các đề tài chính: a. Chủ nghĩa xê dịch: Viết về bước chân của cái tôi lãng tử qua những miền quê, trong đó hiện ra cảnh sắc và phong vị quê hương cùng một tấm lòng yêu nước tha thiết. Tác phẩm chính: Một chuyến đi, Thiếu quê hương .... b. Vẻ đẹp "vang vọng một thời": là những nét đẹp còn vương sót của một thời đã lùi vào dĩ vãng gắn với lớp nho sĩ uois mùa. Tác phẩm chính: Vang bóng một thời .... c. Đời sống trụy lạc: ghi lại những quãng đời do hoang mang bế tắc, cái tôi lãng tử đa lao vào rượu, thuốc phiện và hát cô dầu, qua đó thấy hiện lên tâm trạng khủng hoảng của lớp thanh niên đương thời. Tác phẩm chính: Chiếc lư đồng mắt cua, Ngọn đèn dầu lạc,... 3 . Sau năm 1945, sáng tác Nguyễn Tuân tập tring phản ánh hai cuộc kháng chiến, qua đó thấy vẻ đẹp của con người Việt Nam vừa anh dũng, vừa tài hoa, tác phẩm chính: Tình chiến dịch, Đường vui, Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi..... Ông viết về công cuộc xây dựng đất nước, trong đó hiện lên con người Việt Nam vơi sver đẹp rất mực cần cù mà tài hoa. Tác phẩm chính: Sông Đà, Ký Nguyễn Tuân ... 4. Nguyễn Tuân là nhà văn xuốt đời tìm kiếm và khẳng định những nhân văn cao quý, với những nét phong phú nổi bật: tài hoa, uyên bác, hiện đại mà cổ điển,... Ông có nhiều đóng góp cho sự phát triển của thể tùy bút và Tiếng Việt .... Câu 2 . Các ý chính 1. Nêu khái quát về tác giả , tác phẩm a. Chế Lan Viên là nhà thơ lớn của thơ ca hiện đại, chuyển biến từ nhà thơ lãng mạn xang nhà thơ cách mạng. Thơ ông giàu chất trí tuệ, chất sử thi, hình ảnh tráng lệ .... Tiếng hát con tàu là bài thơ xuất xắc cảu Chế Lan Viên , ra đời trong không khí miền Bắc đang dấy lên phong trào đồng bào miền xuôi lên phát triển kinh tế - văn háo miền núi, trong đó có Tây Bắc. Nội dung nổi bật nhất bày tỏ tình cảm sâu nặng của mình đối với nhân dân. Bài thơ tiêu biểu cho phong trào thơ giàu chất trí tuệ cảu Chế Lan Viên..... b. Về đoạn trích: + Nội dung bao trùm: Bày tỏ tình cảm sâu nặng với nhân dân và suy tư sâu sắc về những chuyển hóa kỳ diệu của tâm hồn. + Trình tự mạch thơ: Đoạn trích có ba phần khá rõ rệt. Khổ thơ đầu bày tỏ niềm hạnh phúc lớn lao khi được về với nhân dân; ba khổ thơ tiếp theo hồi tưởng về những hy sinh đầy ân tình ân nghĩa của người dân Tây Bắc; khổ thơ cuối đúc kết thành triết lý về sự chuyển hóa kì diệu của tâm hồn con người. 2. Phân tích cụ thể a. Khổ thơ đầu (của đoạn trích) - Tình cảm bao trùm là lòng biết ơn sâu nặng và niềm hạnh phúc lớn lao của cái tôi trữ tình từ khi bỏ cái thế giới nhỏ hẹp của cá nhân để đến với nhân dân. Đối với con người ở đây, nhân dân là những gì thân thương mật thiết nhất, là ngọn nguồn sự sống, là bầu sinh khí, là nguồn sinh lực, luôn cưu mang, che chở, tiếp sức,... Cho nên về với nhân dân là một lẽ sống lớn, một hạnh phúc lớn. Phân tích được ý nghĩa đó trong các cặp hình ảnh: on gặp lại nhân dân như nai về suối cũ, Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa, Như đứa trẻ đói lòng gặp sữa, Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa, ... Cần thấy đó cũng chính là mói quan hệ thiêng liêng giữa cá nhân với cộng đồng, giữa con người và cuộc sống nói chung. - Nghệ thuật nổi bật là việc tạo ra những cặp hình ảnh mang tính tượng trưng, mỗi cặp một sắc thái khác nhau: nai - sưới cũ, cỏ tháng giêng, chim én - mùa xuân, chiếc nôi ngừng - cách tay đưa, con khát trẻ thơ - bầu sữa mẹ. Đồng thơi, chú ý cả tính trùng điệp. Nhờ đó mà cảm xúc trở nên nồng nàn, suy tư thêm sâu sắc. b. Ba khổ thơ tiếp theo (của đoạn trích) - Tình cảm bao trùm là nỗi nhớ da diết về những kỉ niệm sâu sắc với Tây Bắc của một người con luôn khắc cốt ghi tâm bao ơn nghĩa. Nhớ về những việc làm đầy tính y sinh, đùm bọc, cưu mang rất cụ thể của người anh (cho tấm áo trước khi hy sinh), người em liên lạc (mười năm tận tụy miệt mài), người mẹ (thức xuốt một mùa dài để ân cần chăm sóc). Phân tích những hình ảnh cảm động :"Chiếc áo nâu anh mặc đêm công đồn - Chiếc áo nâu xuốt một đời vá rách - Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con - Rừng thưa em băng, rừng rậm em chờ - Sáng bản Na, chiều em ra bản Bắc - Mười năm tròn!Chưa mất một phong thư - Lửa hồn soi tóc bạc - Năm con đau mế thức một mùa dài "... và những tâm nguyện đinh ninh: "Con với mế không phải hòn máu cắt - Nhưng trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi". - Nét nổi bật ở đây là việc tạo ra nhiều hình ảnh chân thực, gây được ấn tượng mạnh. Hình ảnh được tạo bằng thủ pháp đối lập nhuần nhuyễn: chiếc áo nâu - một đời vá rách, mười năm tròn - một phong thư, lửa hồng - tóc bạc, năm con đau - mế thức một mùa dài,.. Đồng thời, là cách xưng hô theo quan hệ máu mủ ruột thịt: anh con, em con, mế. Nhớ những nét nghệ thuật ấy mà hình ảnh sắc nét, lời nói thấm thía, cảm xúc da diết . . . c. Khổ thơ cuối (của đoạn trích) - Bao trùm lên khổ thơ này là niềm nhớ thương đằm thắm, sâu nặng với những miền quê mình đã từng qua với lời nhớ thương, lời khẳng định, cùng những hình ảnh thân thương, lời khẳng định, cùng những hình ảnh thân thương: "Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ - Nơi nao qua lòng lại chẳng yêu thương". Đồng thơi là suy tư sâu sắc về những chuyển hóa kì diệu của tâm hồn con người được đúc lết thành triết lý: "Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở - Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn". Đó là điều kỳ diệu mà tình cảm con người đã làm được để biến lỷ niệm với những mình từng qua thành tâm hồn của chính mình. - Đoạn này, thủ pháp trùng điệp tiếp tục được sử dụng, với các điệp từ, điệp ngữ: Nhớ... nhớ..., Khi ta.... , Khi ta.... Nhưng quan trọng hơn là lối suy nghĩ tưởng: "Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở - Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn". Tác giả tạo ra sự phi lý bề ngoài (đất đã hóa tâm hồn) làm hình thức chứa đựng hình ảnh bên trong: Tình cảm gắn bó với con người. Đây là một triết lý sâu sắc, thâu tóm được một quy luật, phổ biến trong đời sống nhân sinh. từ cảm xúc suy tư đúc kết thành những triết lý chính alf một nét độc đáo của nghệ thuật thơ Chế Lan viên. Câu 3. Các ý chính 1. Khái quát về tác giả , tác phẩm và bi kịch của nhân vật a. Nam Cao là nhà thơ hiện thực suất sắc đầy tinh thần nhân đạo. Sáng tác của ông trước cách mạng xoay quanh hai đề tài chính là nông dân nghèo và trí thức nghèo. Bao trùm là nỗi đau đớn dai dẳng trước tình trạng nhân cách con người bị hủy hoại. Khuynh hướng hện thực đào sâu vào thế giới tâm lý. b. Truyện ngắn "Chí Phèo" là kiệt tác của Nam Cao. Thuộc đề tài người nông dân nghèo. là kết tinh khá đầy đủ cho nghệ thuật Nam Cao. Tác giả viết về tấm bi kịch của Chí Phèo. Bi kịch của Chí Phèo gồm hai bi kịch tiếp nối. Trước hết alf bi kịch "tha hóa": từ một con người lương thiện biến thành một kẻ bất lương, thậm chí thành quỷ dữ; tiếp tục là bi kịch từ chối quyền làm người. Đoạn mô tả Chí Phèo từ đoạn buổi sáng sau khi gặp Thị Nở đến khi kết thúc cuộc đời ni kịch thứ hai. 2. Phân tích cụ thể diễn biến tâm trạng Chí Phèo a. Trước sự thức tỉnh: Bắt đầu là tỉnh rượu, sau đó mới tỉnh ngộ. Tỉnh rượu: những cảm nhận về không gian (căn lều của mình), về cuộc sống xung quanh (những âm thanh cuộc sống hằng ngày), và về tình trạng thế thảm của bản thân (già nua, cô độc, trắng tay). Tỉnh ngộ được Thị Nở chăm sóc thì cảm động trước tình người, Chí nhận ra thực tế đau lòng là mình chưa được chăm sóc như thế. Chú ý chi tiết cháo hành và Chí Phèo khóc. Cần thấy đó là những dấu hiệu nhân tính vùi lấp đang trở về. b. Sau đó là niềm hy vọng: Ước mơ lương thiện trở về. Thèm lương thiện. Đặt hy vọng lớn vào Thị Nở. Hình dung về tương lai sống cùng Thị Nở. Ngỏ lời với Thị Nở. Trông đợi Thị Nở về xin phép bà cô. Cần thấy khao khát lương thiện này là biểu hiện rõ nhất của nhân tính trong Chí Phèo. c. Tiếp đó là niềm thất vọng và đau đớn. Bà cô không cho Thị Nở lấy Chí Phèo. Thị Nở từ chối. Chí chạy theo cầm lấy tay Thị Nở để níu Thị Nở ở lại với mình. Thị Nở đẩy Chí Phèo ngã, tỏ sự cắt đứt dứt khoát. Đau đớn và căm hận mù quáng, Chí Phèo nguyền rủa sẽ giết chết bà cô và Thị Nở. d. Cuối cùng là trạng thái phẫn uất tuyệt vọng. Chí về nhà uống rượu (chi tiết: càng uống càng tỉnh). Ôm mắt rưng rức khóc(chi tiết bát cháo hành), đó alf đỉnh điểm trong bi kịch tinh thần của Chí Phèo. Đau đớn cùng cực thì sách đao đi (chi tiết miệng vẫn nói đam chết "nó" chân lại đi đến nhà Bá Kiến). Dõng dạc đòi lương thiện. Thấy rõ tình thế đầy bi kịch của mình là " không thể còn lương thiện được nữa". Giết chết Bá Kiến. Tự sát. Cần làm rõ tính chất bế tắc và các chi tiết dự báo về sự tiếp diễn của tấm bi kịch này. 3. Kết luận chung Đó là bi kịch con người "sinh ra là người mà không được làm người". Thể hiện sự cảm thông sâu sắc cảu Nam Cao với khát vọng sống lương thiện trong con người và sự bế tắc của những khát vọng trong hiện thực xã hội ấy.
|
|