|
|
giải đáp
|
Bài 1213
|
|
|
|
ĐỀ THI KHẢO SÁT HỌC SINH LẦN I (2012) - THPT VĨNH PHÚC
PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH Câu I (2 điểm) Anh/ chị hãy trình bày ngắn gọn những đặc sắc nghệ thuật của đoạn trích Đất nước trích trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm 1. Giới thiệu chung. (0,25 điểm) - Nguyễn Khoa Điềm là nhà thơ tiêu biểu của thơ ca kháng chiến chống Mỹ. Thơ ông rất giàu chất suy tư, chính luận. - "Đất nước" (Trích Trường ca khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm hoàn thành năm 1971, in lần đầu năm 1074) là đoạn trích rất hay viết về đề tài đất nước đã thể hiện những tìm tòi nghệ thuật đặc sắc, độc đáo của ngòi bút Nguyễn Khoa Điềm. 2. Những đặc sắc nghệ thuật (1,75 điểm) a. Sử dụng sáng tạo chất liệu văn hóa, văn học dân gian (0,75 điểm) - Để góp phần thể hiện tư tưởng Đất nước của nhân dân là một tư tưởng nổi bật trong tác phẩm, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã sử dụng chất liệu văn hóa, văn học dân gian trong xuốt chiều giai đoạn và đã sử dụng nó như một cách rất sáng tạo. - Chất liệu văn hóa, văn học dân gian được nhắc tới là những câu ca dao, những truyện cổ tích như "Trầu Cau", những truyền thuyết về Thánh Gióng, Lạc Long Quân và Âu Cơ, những phong tục tập quán như cới tóc sau đầu, tục ăn trầu, những thành ngữ dân gian như "gừng cay muối mặn". . . - Chất liệu văn hóa, văn học dân gian được thể hiện một cách sáng tạo như lấy lại cách mở đầu của cổ tích "ngày xửa, ngày xưa", sử dụng thành ngữ, sử dụng bộ phận trong ca dao . . . b. Thể thơ, nhịp điệu giọng điệu biến hóa, linh hoạt (0,5 điểm) - Bài thơ không chỉ mang đậm màu sắc dân gian mà còn mang tính hiện đại với thể thơ tự do, phóng túng, những câu thơ dài ngắn khác nhau, ít dựa vàovấn đề liên kết. - Nhịp thơ và giọng thơ cũng biến đổi linh hoạt c. Chất chính luận kết hợp với chất trữ tình (0,5 điểm) - Chính luận kết hợp với chất trữ tình, cảm xúc kết hợp với xuy tưởng, cảm xúc về đất nước được thể hiện trong đoạn trích dồi dào khiến chất chính luận, suy tưởng không còn khô khan, trái lại trữ tình sâu lắng, khiến nhiều đoạn thơ không là lời giáo huấn, răn giạy giáo điều mà là lời nhắn nhủ thiết tha, dễ đi vào lòng người. Câu II (3 điểm) "Khoan dung là đức tính đem lợi cho ta và cả người khác " (Pieere Benoit) Anh chị có đồng ý với ý kiến đó không? 1. Giải thích - Thế nào là khoan dung? Khoan dung là rộng lòng tha thứ cho người có lỗi. Biết khoan dung độ lượng là người có đức độ. - Khoan dung có lợi cho cả ta lẫn người vì: + Người được tha thứ thấy được lòng khoan dung mà ăn năn, hối lỗi, sửa chữa lỗi lầm và biết ơn người tha thứ, không tiếp tục mắc lỗi mà mình đã mắc, như vậy là hướng người ta tới cái thiện. + Bản thân người tha thứ thì thấy nhẹ lòng và không vi phạm vào đều hẹp hòi, độc ác, trái đạo. Tha thứ lỗi lầm để cảm hóa người, góp phần xây dựng một xã hội lành mạnh, văn minh. 2. Khoan dung trong cuộc sống - Cuộc sống khó tránh khỏi những va chạm, xung đột trong lời nói hay việc làm, hành động có thể dẫn đến những không hay. Nhưng sau đó, ta nên biết nhìn lại chính mình, chủ động giảng hòa, sẵn sàng tha thứ, cởi bỏ oán thù, ghét bỏ. - Trong cuộc sống cũng khó tránh khỏi những lời gièm pha, nói xấu, ghen ghét, bình phẩm xau lưng . . .Nếu ta biết mà bỏ qua coi như không nghe thấy và hoàn thiện bản thân thì người xưa gọi đó là người quân tử, còn ngày nay gọi là người rộng lượng, rộng lòng, ứng sử có văn hóa. - Ngay cả trong gia đình cũng có những mâu thuẫn, bất đồng. Điều cần nhớ là nếu người thân mắc lỗi cần đối sử với họ bằng sự bao dung, tha thứ, tình thương yêu. Nhất là với con cái cha mẹ nên vị tha khi con mắc lỗi lầm để cho con biết sống hướng thiện. 3. Bình luận (1,0 điểm) - Biết sống khoan dung, độ lượng với mọi người là điều rất đúng đắn. Nhà Phật dạy: "Oán thù nên cởi không nên buộc". Ta tha thứ cho người, lúc khác sẽ có người tha thứ cho ta. Sự khoan dung đem đến niềm vui to lớn vì trước hết nó giúp ta thanh thản và hơn nữa đó cũng là lối sống đẹp, biểu hiện nhân cách của con người biết sống vì mình, vì mọi người. - Tuy nhiên lòng khoan dung cũng nên đặt đúng nơi, đúng chỗ, nếu không nó cũng không làm con người hướng thiện mà có khi còn dẫn đến tác dụng tiêu cực. - Sống khoan dung, cao thượng nhiều khi không phải dễ dàng vì dễ tha thứ cho lỗi lầm người khác thậm chí người ta hi sinh, phải cố gắng dẹp lòng ích kỷ, CN cá nhân nên muốn biết sống khoan dung chúng ta cần có sự nỗ lực rèn luyện. 4. Bài học rút ra. - Cuộc sống luôn phức tạp, nhiều khó khăn rắc rối, ta cũng luôn phải biết khoan dung, tha thứ cho tinh thần thanh thản, cho cuộc sống quanh ta tốt đẹp hơn. -Bản thân cũng luôn rèn luyện lòng khoan dung. Câu III.a Bình giảng đoạn thơ sau đây trong bài Sóng của Xuân Quỳnh: 1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm và đoạn trích. - Xuân Quỳnh là một trong những gương mặt nổi bật của thế hệ nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước cùng với những nhà thơ như: Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Duy, Thanh Thảo . . . "Sóng" là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ Xuâ Quỳnh: luôn trăn trở, khát khao được yêu thương gắn bó. Bài thơ được in trong tập "Hoa dọc chiến hào" (1968) - Đoạn trích nằm ở giữa của bài thơ, có thể xem đó là đoạn thơ tiêu biểu của tác phẩm. Giống như toàn bài, ở đoạn này hai hình tượng sóng và em luôn tồn tại đan cài, khắc họa rõ nét nỗi nhớ, sự thủy chung tha thiết của nhà thơ. Mỗi trạng thái tâm hồn của người phụ nữ đều có thể tìm thấy sự tương đồng với một đặc điểm nào đó của sóng. 2. Bình giảng sáu câu thơ đầu (1,75 điểm) - Nỗi nhớ bao trùm cả không gian, thời gian: lòng sâu - mặt nước, ngày - đêm. - Nỗi nhớ thường trực, không chỉ tồn tại khi thức mà cả khi ngủ, len lỏi vào cả giấc mơ, trong tiềm thức (" Cả trong mơ còn thức"). - Cách nói cường điệu nhưng đúng là chân thành biểu hiện nỗi nhớ của một tình yêu mãnh liệt (Ngày đêm không ngủ được"). - Mượn hình thượng của sóng để nói tới nỗi chưa đủ, chưa thỏa, nhà thơ trực tiếp thể hiện nỗi nhớ của mình ("Lòng em nhớ đến anh") 3. Bình giảng bốn câu thơ đầu (1,25 điểm) - Khẳng định tình yêu chung thủy, duy nhất: dù ở phương nào, nơi nào cũng chỉ hướng về phương anh, chỉ "Hướng về anh - một phương". - Trong cái mênh mông của đất trời, đã có phương bắc, phương nam thì cũng có phương anh. Đây chính là phương tâm trạng, Phương của người phụ nữ đang yêu say đắm, thiết tha. 4. Một số đặc sắc nghệ thuật của đoạn thơ (1,0 điểm) - Thể thơ năm chữ được sử dụng sáng tạo, thể hiện nhịp sóng biển, nhịp sóng lòng của thi sĩ. - Các biện pháp điệp từ, điệp cú pháp góp phần tạo nên nhịp điệu nồng nàn, say đắm, thích hợp với việt diễn tả nỗi nhớ mãnh liệt: con sóng (ba lần), dưới lòng sâu - trên mặt nước, dẫu xuôi - dẫu ngược . . . 5. Kết luận (0,5 điểm) - Trong bài thơ, Xuân Quỳnh đã thể hiện rất gợi cảm, sinh động những trạng thái cảm xúc, những khao khát mãnh liệt của người phụ nữ đang yêu. - Từ đoạn thơ, có thể nói tới tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam trong tình yêu: táo bạo, mạnh mẽ mà vẫn giữ được những nét truyền thống tốt đẹp: chung thủy, son sắt. Câu III.b Phân tích vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Tây Bắc qua hình ảnh con sông Đà và người lái đò sông Đà trong tùy bút "Người lái đò sông Đà" của Nguyễn Tuân. 1. Giới thiệu chung (0,5 điểm) - Nguyễn Tuân là một nhà văn tiêu biểu của nền văn học Việt Nam hiện đại, một nhà văn có phong cách nghệ thuật độc đáo. Ông đặc biệt thành công ở thể loại tùy bút. "Người lái đò sông Đà" nằm trong tùy bút "Sông Đà" (1960) - tập truyện ra đời sau chuyến đi thực tế của Nguyễn Tuân lên Tây Bắc. - Trong tác phẩm nhà văn đã xây dựng thành công hai hình tượng nghệ thuật nổi bật: Con sông Đà và ông lái đò sông Đà. Qua hai hình tượng nghệ thuật này tác giả ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên, con người Tây Bắc. 2. Hình tượng con sông Đà - Vẻ đẹp thiên nhiên Tây Bắc. (2,0 điểm) - Tính chất hung bạo của con sông: Cảnh đá bờ dựng vách thành đúng ngọ mới có mặt trời, chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu; Cái ghềnh nước với nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió . .. ; Những hút nước trên sông Đà nước xoáy tít đáy lừ lừ như cách quạ đàn, thuyền bè đi lại không cẩn thận có thể nó lôi vào và làm cho tan xác; Nguy hiểm nhất vẫn là những thác đá với âm thanh khủng khiếp, như tiếng một ngàn con trâu mộng đang bị giam cầm trong rừng lửa với da cháy bùng bùng, với những thạch trận mà đá dàn bày trên sông để bẫy con người. . . - Tính chất trữ tình, thơ mộng của con sông: Từ trên cao thấy con sông "tuôn dài, tuôn dài như một áng tóc trữ tình . . ."; Nước sông Đà thay đổi theo mùa: mùa xuân xanh mọc ngọc bích, mùa thu lừ lừ chín đỏ . . .; Thiên nhiên sông Đà là một thế giới kỳ ảo với bờ, bãi, chuồn chuồn, bươm bướm, hươu thơ ngộ, cỏ gianh ra nõn búp , cá dầm xanh . .. , cảnh vật lặng lờ như từ đời Lý, Trần, Lê cũng lặng tờ đến thế, bờ sông hoang dại như bờ tiền sử, hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích; Vẻ đẹp của sông Đà là vẻ đẹp đầy chất thơ, vẻ đẹp của cổ thi gợi nhớ tới câu thơ "Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu" . . . - Từ hai nét tính cách của con sông Đà, Nguyễn Tuân cho thấy vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc vừa hùng vĩ, hoang vơ vừa tuyệt vời thơ mộng. 3. Hình tượng ông lái đò - Vẻ đẹp con người Tây Bắc - Dòng sông Đà được miêu tả như bầy thủy quái, như một kẻ thù số một của con người với những thạch trận đá đầy nguy hiểm. Ông lái đò bằng tài hoa, trí dũng, bằng sự hiểu biết tường tận về con sông đến mức" Nhớ như đóng đanh vào lòng" những luồng nước sông Đà đã bình tĩnh vượt qua thác đá trên sông Đà như một vị tướng tả xung hữu đột, vượt qua tất cả các thế trận mà đá, nước tác dàn bày . . .Vẻ đẹp của nhân vật ông lái đò nhìn chung là vẻ đẹp của tài hoa, trí dũng và sự cần cù, khéo léo của người lao động. - Dòng sông cành hung dữ càng làm tôn nên vẻ đẹp của người lao động. Với hình ảnh ông lái đò, một ngệ sĩ trong nghệ thuật vượt thác qua giao tranh, chinh phục thiên nhiên giành lấy cuộc sống. 4. Đánh giá chung (1,0 điểm) - Bằng vốn ngôn ngữ phong phú, tài hoa, uyên bác, sự quan sát, liên tưởng, tưởng tượng phong phú, kết hợp kiến thức ở nhiều lĩnh vực khác nhau nhà văn Nguyễn Tuân đã xây dựng được những hình tượng nghệ thuật độc đáo. Với những hình tượng nghệ thuật "Người lái đò sông Đà" đã cho người đọc thấy vẻ đẹp thiên nhiên Tây Bắc vừa hùng vĩ, hoang sơ, vừa rất đỗi thơ mộng, trữ tình. Trên nền bức tranh thiên nhiên Tây Bắc là con người Tây Bắc cần cù, khéo léo, tài hoa, trí dũng. Với nhân vật ông lái đò, nhà văn Nguyễn Tuân đã tìm thấy chất vàng mười đã qua thử lửa trong tâm hồn Tây Bắc. - Tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân sau cách mạng, cũng cho thấy sự nặng lòng của nhà văn với thiên nhiên con người Tây Bắc nói riêng, với quê hương đất nước nói chung.
|
|
|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 31/05/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1186
|
|
|
|
ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC LẦN I (2012) - TRƯỜNG THPT BÌNH SƠN - VĨNH PHÚC
PHẦN CHUNG (5 điểm) Câu 1: (2 điểm) - Nội dung của tập Nhật kí trong tù (1,5 điểm) + Bức tranh nhà tù và một phần xã hội Trung Hoa dân quốc. + Bức tranh chân dung tự họa của Hồ Chí Minh Đó là một tấm gương nghị lực, phi thường, một bản lĩnh vĩ đại không cí gì có thể dung lạc được. Một tâm hồn nghệ sĩ tài hoa, một trí tuệ linh hoạt và nhọn sắc. Tấm lòng yêu nước bao la đối với nhân loại cần lao. - Nghệ thuật + Màu sắc cổ điển và hiện đại đã hòa quyện + bút pháp đa dạng, linh hoạt + Thể thơ tứ tuyệt cổ điển . . . Câu 2 (3điểm) Có nhiều cách triển khai bài viết nhằm bộc lộ quan điểm về lối sống giản dị của một con người. Đây là một vài định hướng - Trong xã hội hiện đại xuất hiện nhiều lối sống khác nhau, thậm chí trái ngược, tuy nhiên lối sống giản dị luô khẳng định mặt tích cực (0,5 điểm) - Quan niệm của cá nhân về lối sống giản dị + Lối sống giản dị bộc lộ ở nhiều phương diện + Giản dị giúp người ta dễ hòa nhập với mọi người + Sống giản dị khác với sống cẩu thả - Chứng minh: Tấm gương sống giản dị :Bác Hồ .... (1,0 điểm) - Liên hệ bản thân (0,5 điểm) PHẦN RIÊNG Câu 3 a (5 điểm) - Giới thiệu được khái quát về tác giả và tác phẩm - Giới thiệu qua về tình huống truyện độc đáo và oái oăm - Trình bày quá trình Huấn Cao nhận ra vẻ đẹp của quản ngục để tiến hành cho chữ - Giải thích tại sao đây là hiện tượng xưa nay chưa từng có. + 1 thú chơi tao nhã, cầu kì lại diễn ra 1 nơi chật hẹp và ẩm ướt + Sự đổi ngôi của các nhân vật + Sự chiến thắng cái đẹp, cái thiên lương. Câu 3b (5 điểm) - Giới thiệu qua về phong trào thơ mới - Thiên nhiên đẹp, hữu tình nhưng là một thiên nhiên buồn, khúc xạ qua tâm hồn nhà thơ. Đây là cái buồn của thế hộ, cả dân tộc. - Đây thôn Vĩ Dạ: Phân tích các ý: + Bức tranh thôn vĩ khi nắng xớm lúc về đêm. + Thiên nhiên đẹp nhưng buồn - Đây mùa thu tới: Phân tích các ý: + Thiên nhiên buồn, gợi cảm giác xa vắng + Con người, thiên nhiên hòa quyện trong đơn côi - Tràng Giang +Thiên nhiên tạo vật trở nên cổ điển + Bày tỏ tình cảm với quê hương, đất nước.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1185
|
|
|
|
ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC LẦN I (2012) TRƯỜNG CHUYÊN LÊ QUÝ ĐÔN - SÀO NAM - TRẦN CAO VĂN
I. PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm) Câu I (2 điểm) Tính sử thi trong đoạn trích "Việt Bắc" của Tố Hữu - Tính sử thi là khuynh hướng thẩm mỹ, tiêu biểu của văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975. "Việt Bắc" là một tác phẩm xuất sắc trong giai đoạn này mang đậm tính sử thi. - Biểu hiện ở nội dung: + Coi những sự kiện chính trị lớn của đất nước là đối tượng thể hiện chủ yếu, luôn đề cập đến những vấn đề có ý nghĩa lịch sử và có tính toàn dân. + Tập trung khắc họa những bối cảnh rộng lớn, những biến cố quan trọng có tác động mạnh mẽ tới vận mệnh dân tộc. + Con người đại diện cho khí phách, phẩm chất và ý chí toàn dân tộc. ( Học sinh có thể trình bày đề tài đề cập đến cuộc kháng chiến vĩ đại, thần thánh của dân tộc, tình cảm lớn đối với nhân dân đất nước và Bác Hồ; chủ đề đước thể hiện nghĩa tình cách mạng và kháng chiến, "Việt Bắc" là bản hùng ca về cuộc kháng chiến ảnh hùng; con người mang tầm vóc sử thi: mỗi cán bộ, mỗi người dân Việt Bắc là một chiến sĩ. Họ thể hiện phẩm chất tốt đẹp của dân tộc.) - Biểu hiện ở hình thức, nghệ thuật: dung lượng tác phẩm, lớn, bài thơ dài; giọng điệu chung là hào hùng, tha thiết, khi sảng khoái . . .; khai thác hiệu quả các biện pháp tu từ so sánh, cường điệu . . . Câu II (3 điểm) + Hiểu đầy đủ câu nói trên: mỗi người có thể học tập, tiếp thu tri thức của nhân loại ở bất kỳ nơi nào nhưng trong lòng phải có Tổ Quốc. - Bình luận: + Con người có thể học tập, tiếp nhận tri thức mà không cần phân biệt nguồn gốc tri thức đó vì tri thức là của chung của nhân loại. + Người có học vấn phải nhận thức được ý nghĩa của Tổ Quốc đối với mỗi người, từ đó ý thức về bổn phận, trách nhiệm của mình với Tổ Quốc. + Người có học vấn mà trong lòng không có Tổ Quốc sẽ thiếu trách nhiệm, thậm trí có thể phản bội Tổ Quốc. + Thể hiện tình yêu Tổ Quốc, người có học vấn biết trân trọng những giá trị truyền thống của Tổ Quốc mình, biết đem trí tuệ, năng lực để phụng sự Tổ Quốc. - Bày tỏ thái độ và ý kiến: Không phải chỉ có những người có học vấn mới có tình yêu Tổ Quốc, câu nói là lời nhắc nhở những người trí thức hãy đem tài năng, trí tuệ để góp sức và công cuộc xây dựng đất nước. Liên hệ bản thân. Câu III. a (5 điểm) Phân tích đoạn thơ" Đất nước" của Nguyễn Khoa Điềm để làm rõ nét mới lạ, sâu sắc trong cách cảm nhận của nhà thơ về đất nước. 1. Giới thiệu về tác giả , tác phẩm, đoạn trích: - Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ nhà thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ cứu nước. "Mặt đường khát vọng" (1971) là bản trường ca xuất sắc viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ miền Nam với đất nước, nhân dân. - Đoạn thơ thể hiện cảm nhận mới mẻ, sâu sắc của nhà thơ về đất nước. 2. Cảm nhận mới mẻ, sâu sắc về đất nước. a/ Sự mới mẻ, sâu sắc về nội dung - Cách nhìn về đất nước cụ thể mà khái quát, bình dị mà lớn lao: + Đất nước được hình thành từ những gì bé nhỏ, gần gũi, riêng tư trong cuộc sống mỗi người. + Đất nước là sự hòa quyện không tách rời. -Hình tượng đất nước được mở ra ở bề rộng không gian, chiều dài thời gian, và ở chiều sâu văn hóa: + Bề rộng không gian, gần gũi thân thương với mỗi người, không gian hò hẹn nhớ nhung của tình yêu đôi lứa, không gian mênh mông giàu đẹp của lãnh thổ, không gian sinh tồn thiêng liêng của cộng đồng dân tộc đoàn kết. + Chiều giài thời gian gắn liền với chiều dài lịch sử, nhân dân bền bỉ, kiên cường xây dựng và bảo về đất nước. + Chiều sâu văn hóa của một dân tộc có truyền thống lâu đời. b. Sự mới mẻ, sâu sắc về nghệ thuật: - Cách thể hiện đậm đà màu sắc dân gian: Vận dụng phong phú chất liệu văn hóa và văn học dân gian: Đất Nước của nhân dân trở thành hình tượng trung tâm, giàu sức gợi cảm. - Thể thơ tự do, biến đổi linh hoạt về nhịp điệu, có sự kết hợp giữa chất chính luận và trữ tình, từ Đất Nước viết hoa, lúc được tách ra để khơi sâu, lúc hợp lại tạo sự thống nhất, gắn bó. 3. Đánh giá chung: Đoạn thơ giàu chất suy tưởng và cảm xúc, thể hiện tình yêu, niềm tự hào về đất nước và cách nhìn mới mẻ về Đất Nước của nhân dân. Qua đó nâng cao tình yêu và ý thức trách nhiệm với đất nước của mỗi người. Câu IIIb (5 điểm) Nét riêng trong cảm hứng nhân đạo thể hiện qua truyện ngắn "Hai đứa trẻ" của Thạch Lam và " Chí Phèo" của Nam Cao. 1. Giới thiệu chung: - Thạch Lam là cây bút truyện ngắn xuất sắc trước cách mạng tháng Tám 1945. " Hai đứa trẻ" là một trong những truyện ngắn đặc sắc nhất của Thạch Lam. Tác phẩm được in trong tập "Nắng trong vườn". Cũng như nhiều truyên ngắn khác của tập truyện, "Hai đứa trẻ" thể hiện cảm hứng nhân đạo rõ rệt. + Nam cao là nhà văn hiện thức tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại. Tác phẩm của ông chân thực và thấm đượm triết lý nhân sinh . . "Chí Phèo" là truyện ngắn xuất sắc tiêu biểu cảu Nam Cao trước cách mangh tháng Tám có giá trị nhân đạo sâu sắc. 2. Nét riêng trong cảm hứng nhân đạo thể hiện qua truyện ngắn "Hai đứa trẻ" của Thạch Lam và " Chí Phèo" của Nam Cao. a. Hai đứa trẻ (Thạch Lam) - Thể hiện niềm xót thương của nhà văn với những kiếp người nghèo khổ, sống mòn mỏi, lay lắt nơi phố huyện nghèo (Mấy đứa trẻ, mẹ con chị Tí, Bác Xẩm . . .và chị em Liên ) _ Phát hiện những phẩm chất tốt đẹp của người dân nghèo ở phó huyện (Cần cù, chịu thương chịu khó, giàu lòng yêu thương . . .) - Trân trọng ước mơ nhỏ bé, bình dị của người dân nghèo về một cuộc sống tươi sáng, có ý nghĩa hơn. b. Chí Phèo ( Nam Cao) - Lên án xã hội tàn bạo tha hóa con người, chặn mọi đường sống của người dân vô tội. - Thể hiện niềm thông cảm trước số phận bi kịch cảu con người bị xã hội tước quyền sống, quyền hạnh phúc, đẩy vào con đường lưu manh tội lỗi. -Khẳng định bản chất lương thiện, khát vọng hoàn lương của họ. c. Mỗi tác giả thể hiện cảm hứng nhân đạo bằng nghệ thuật độc đáo. - "Hai đứa trẻ" (Thạch Lam) không có cốt truyện, nhân vật không nhiều, biến cố ít . . ., diễn tả nội tâm sâu sắc, giọng điệu nhẹ nhàng, sâu lắng . . . - "Chí Phèo" (Nam Cao): Bút pháp hiện thực sắc sảo, miêu tả nội tâm nhân vật sâu sắc, giọng văn lạnh lùng như dồn nén cảm xúc. 3. Đánh giá chung Thạch Lam và Nam Cao thể hiện cùng đề atfi, cùng có cảm hứng nhân đạo nhưng bằng phong cách riêng đã tạo ra hai tác phẩm độc đáo - "Hai đứa trẻ" và "Chí Phèo" - làm giàu có nền căn học Việt Nam Trước cách mạng tháng Tám.
|
|
|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 30/05/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1164
|
|
|
|
ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC LẦN I (2012) - TRƯỜNG CHUYÊN ĐẠI HỌC SPHN
PHẦN I: BẮT BUỘC CHO MỌI THÍ SINH Câu I (2 điểm) Thí sinh cần có các ý cơ bản sau: - Không chú trọng xây dựng cốt truyện, tạo tình huống, nhà văn quan tâm dựng cảnh và miêu tả, cảm xúc, thế giới nội tâm của nhân vật trong bức tranh phố huyện từ chiều vào đêm và cảnh đợi tàu. (0,75 điểm) - Sự hòa quyện giữa chất hiện thực và màu sắc lãng mạn, trữ tình: tả cảnh chiều tàn, chợ tàn và những kiếp người tàn, kiếp sống quẩn quanh, bế tắc; đồng thời cũng thể hiện vẻ đẹp bình dị của quê anh, cảu những khát vọng nhỏ bé mà mãnh liệt. . . Điều này được cụ thể hóa bằng giọng văn nhẹ nhàng, thấm thía, giàu chất thơ, bằng những hình ảnh tinh tế, trong đó: nhà văn dụng công thể hiện sự tương phản giữa ánh sáng và bóng tối, sự vắng lặng và ồn ào, giữa sự tù đọng và đổi thay . . . (1,25 điểm) Câu II (3 điểm) Học sinh có thể làm theo nhiều cách khác nhau, nhưng phải đảm bảo nguyên tắc cơ bản của một bài văn nghị luận xã hội, ý chính cần có: 1. Câu nói của Longfellow có độ hàm súc cao, ngắn gọn mà ý nghĩa: (0,75 điểm) - "Tuổi xuân" : độ tuổi thanh niên; đang ở giai đoạn trưởng thành . . . - "Tuổi xuân" chỉ đến một lần trong đời" : Theo qui luật tất yếu của thời gian một chiều (tuyến tính), tuổi thơ đi qua mỗi chúng ta buốc xang tuổi thanh xuân, sau đấy là trung niên và cao niên. Dù muốn hay không thì tuổi "thanh xuân" cũng đến rồi đi. - Câu nói của nhà thơ, nhà giáo dục học Longfellow là một trải nghiệm, một lời khuyên để mỗi chúng ta tự rút ra bài học có ý nghĩa cho mình để đừng "sống hoài, sống phí". 2. Mỗi độ tuổi có một vẻ đẹp, một giá trị riêng, nhưng Longfellow lại nhấn mạnh vào giá trị đặc biệt của "tuổi xuân" là có lí do riêng :(1.0 điểm) - Về thể chất: mạnh mẽ, sung sức . . . - Về trí tuệ : Minh mẫn, có khả năng tiếp thu nhn, sáng tạo dồi dào . . . - Về tâm hồn: trong sáng giàu ước mơ, khát vọng, thường có động lực là tình yêu đôi lứa. . . 3. Bài học rút ra từ câu nói của Longfellow: Thực ra đây là một câu nói có tính chất gơi mở, mỗi người có thể rút ra cho mình những bài học riêng: - Hãy biết hưởng thụ một cách chính đáng những gì mà tuổi xuân mang đến cho ta . . . - Nhưng quan trọng hơn đó là biết rèn luyện cả về thể chất, trí tuệ, tâ hồn, nhân cách để có thể cống hiến những gì đẹp nhất cho đời, đồng thời tạo tiền đề cho những bước tiếp theo của cuộc đời . . . - Tuổi xuân kéo dài hay qua mau là tùy thuộc vào mỗi chúng ta, nó không đơn thuần phụ thuộc vào thời gian. Nếu biết giữ gìn và phát huy, ta vẫn có những nét đẹp của tuổi xuân khi ở nhưng độ tuổi khác nhau . . . - Là học sinh ở "tuổi xuân" mỗi người hãy đóng góp cho mùa xuân của xã hội để không bị non nớt hay già cỗi . . .Tránh lối sống lười biếng, hay lối sống gấp, chỉ hưởng thụ . . . (Có thể lấy những dẫn chứng từ thực tế cuộc sống, từ trường lớp, gia đình, bản thân). Lưu ý: Trong quá trình viết bài, thí sinh phải có những minh hạo hợp lí, có thể từ văn học, nghệ thuật nhưng nên là những dẫn chứng từ thực tế và bản thân. Bài viết hay ngoài việc đảm bảo hình thức phải có sự chân thành, sâu sắc, xúc động . . . Nếu viết quá ngắn hoặc quá dài so với yêu cầu của đề bài, giám khảo có thể trừ điểm. Câu IIIa (5 điểm) 1.Giới thiệu khái quát về Xuân Diệu và bài thơ" Vội vàng" và đoạn trích: - Xuân Diệu là đại biểu xuất sắc cảu phong trào Thơ mới, là "nhà thơ mới nhất của phong trào Thơ mới". Bài thơ "Vội vàng" tiêu biểu cho phong trào thơ Xuân Diệu. Thi phẩm "mới" ở hình thứ và "mới" ở quan niệm nhân sinh quan táo bạo, hiện đại, đậm tính nhân văn. - Đoạn thơ đề bài yêu cầu phân tích nằm ở phần đầu tác phẩm thể hiện ước mơ và phát hiện của nhân vật trữ tình về vẻ đẹp cuộc sống trẻ trung, ngập tràn sắc hương. Qua đó, nhà thơ biểu hiện khát vọng sống "vội vàng", sống tận hưởng hết mình đối với cuộc sống thực tại. (0,5 điểm) 2. Những đặc sắc về hình thức (1,75 điểm) - Thể thơ tự do phóng túng, tự nhiên, giọng điệu thơ là "điệu nói" gần gũi, phơi trải những cảm súc mãnh liệt, tha thiết của trái tim nồng nàn. - Bốn câu thơ đầu nhà thơ dùng lối điệp cấu trúc, điệp ngữ -> lời thơ rộn ràng, say sưa. - Bảy câu sau: điệp ngữ , so sánh, ẩn dụ chuyển đổi cảm giác . . .nhà thơ lấy con người ở tuổi trẻ là chuẩn mực, là thước đo cho vẻ đẹp cuộc sống. - Những hình ảnh, âm thanh. . .tạo không gian tươi tắn, rộn ràng, gợi tâm hồn trẻ trung . . . (2,25 điểm) 3. Nội dung tư tưởng (2,25 điểm) - Đoạn thơ thể hiện cảm xúc dạt dào và tư tưởng tiến bộ, nhân bản của nhà thơ. - Bốn câu đầu :Bộc lộ những ước muốn sống trong thế giới ngạp tràn sắc hương, vẻ đẹp thanh xuân. Nhân vật trữ tình xuất hiện giữa vũ trụ, cuộc đời với cái tôi say sưa, mê đắm, ở đó cái đẹp và ước muốn giao cảm với vẻ đẹp cuộc sống sẽ là "Vĩnh viễn". - Đoạn thơ tiếp theo vẽ ra bức tranh cuộc sống trần gian đẹp như giấc mộng. Nhân vật trữ tình đón nhận vẻ đẹp của hương sắc, âm thanh thiên nhiên, con người . . . với thái độ hân hoan, mãn nguyện, khỏe khoắn . . . -> Quan niệm nhân sinh: vẻ đẹp không phải là ở quá khứ, chẳng phải ở chốn bồng lai . . mà ở cuộc đời này, hãy đón nhận, tận hưởng hết mình. . . 4. (0,5 điểm) Đánh giá khái quát: khẳng định giá trị của đoạn thơ, bài thơ và nhà thơ đối với cuộc sống và nền thơ ca. Câu IIIb(5 điểm) 1. (0,5 điểm)Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Tuân, tùy bút "Người lái đò sông Đà" và nhân vật ông lái đò tài hoa, trí, dũng. 2. (0,5 điểm) Nêu ngắn gọn hình ảnh đối thủ của ông lái đò, thử thách đó mà ông vượt qua. 3. (2, 5 điểm) Phân tích hình ảnh ông lái đò mưu trí, dũng cảm trong cuộc chiến có vẻ không cân sức; ông cũng là người tài hoa trong nghệ thuật chèo đò (bám sát hình ảnh của ông khi vượt qua trùng vây thạch trận ). 4. (1,0 điểm)Những đặc sắc trong cách nghệ thuật thể hiện nhân vật của nhà văn: + Không hướng tới nhân vật hiểu "đặc tuyển" (như trước Cách mạng tháng Tám 1945), trong tùy bút này, nhà văn khám phá những con người bình dị trong cuộc sống lao động; tất nhiên, ở đó, Nguyễn Tuân vẫn thể hiện được nét phi thường ở họ. + Đặt nhân vật vào khung cảnh dữ dội của sông nước, vận dụng nguồn kiến thức uyên bác để miêu tả cuộc chiến đấu ác liệt và sự chiến thắng oanh liệt. + Sử dụng ngôn từ giàu chất hình ảnh, phong phú, sống động . . .viết nên bản anh hùng ca, ca ngợi anh hùng lao động đặc biệt . . . 5. (0,5 điểm) Đánh giá chung: Lưu ý: - Trong bài nghị luận van học, thí sinh phải thể hiện được kỹ năng tổ chức bài văn, viết câu, dùng từ cơ bản, chuẩn xác, tinh tế. - Qua bài viết, thí sinh bộc lộ được khả năng cảm thụ vẻ đẹp nghệ thuật và tư tưởng của nhà văn. - Khuyến khích những bài viết có nhuwngc sáng tạo, phát triển mới mẻ . . . Trừ điểm những lỗi cơ bản.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1163
|
|
|
|
ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC LẦN II (2012) - TRƯỜNG CHUYÊN ĐẠI HỌC SPHN
PHẦN I: BẮT BUỘC CHO MỌI THÍ SINH Câu I (2 điểm) Đây là câu hỏi kiểm tra kiến thức, yêu cầu thí sinh trình bày ngắn gọn, chính sác ý kiến được trình bày trong sách giáo khoa. Mỗi ý phải có dẫn chứng, lập luận để đoạn văn có sức thuyết phục. 1. Hồ Chí Minh coi văn học là một thứ vũ khí chiến đấu phụng sự cho sự nghiệp cách mạng. 2. Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến mục đích, dối tượng tiếp nhận để quyết định đến nội dingj hình thức của tác phẩm. (0,5 điểm) Câu II (3 điểm) Thí sinh có thể trình bày theo cách riêng của mình, nhưng trong bài viết cần làm rõ các ý chính sau: 1. "Người chê phải" là người góp ý, phê bình xuốt phát từ động cơ tích cực, thái độ tchaan thành, từ sự thức khách quan, để người nghe nhận biết đúng sai mà sử chữa. Có thể "sự thật" dễ "mất lòng", nhưng cần có một bản lĩnh thực sự mới có thể thấy được ý nghĩa cao cả của người "chê phải". Những : Nhười chê phải" trong cuộc sống phức tạp này thường không nhiều. Họ hiểu biết, dám nói thẳng, nói đúng và nhất là phải có tâm trong sáng. Có thể hiểu thêm, đó chính là người mang lại cho ta sự hiểu biết, tiến bộ trong cuộc sống. Họ sứng đáng là bậc "thầy ta". (1,0 điểm) 2. "Người khen phải" là những lời đánh giá đúng đắn mặt tốt, những nhận xét khách quan về ưu điểm, thành công của ta nhằm động viên khích lệ ta phấn đấu tốt hơn nữa. "Người khen phải" cũng là người có tấm lòng nhân ái, vị tha, xuất phát từ thái độ tôn trọng, thương yêu thực sự. Họ cũng là tri âm, tri kỷ của ta, xứng đáng là "bạn ta". 3. "Những kẻ vuốt ve, nịnh bợ" là những kẻ khen không thực sự, không thực tâm, thực lòng với mục đích vị lợi. Vì thế nó thường là những nhận định lệch lạc, dễ dẫn ta đến những sai lầm tai hại không nhận thức đúng được chính mình. Tác hại của nó là khôn lường. Tuy nhiên, để nhận biết được điều này không dễ dàng, cần có sự tỉnh táo và bình tĩnh. Loại người này là "kẻ thù" trong đời mình. Lưu ý: Trong mỗi luận điểm cần có dẫn chứng và lập luận chặt chẽ, thuyết phục người đọc. Câu III.a (5 điểm) Yêu cầu của đề này chue ếu thồn qua cảm nhận bài thơ, thí sinh trình bày được những vẻ đẹp của bài thơ "Tràng Giang" nói riêng và vài nét phong cách thơ Huy Cận nói chung trong phong trào Thơ mới. 1. "Tràng Giang" xuất hiện trong phong trào Thơ mới, nhưng vẻ đẹp mà người đọc dễ nhận ra trước mắt là nét Đường thi cổ điển thể hiện qua mọi yếu tố của thi phẩm: Từ ngữ Hán Việt "tràng giang" mà không phải là sông dài, sống lớn, hình ảnh có báng dáng của thơ Thôi Hiệu: "không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà", âm điệu phảng phất "Vô hiệu lạc mộc tiêu tiêu hạ/ Bất tận Trường giang cồn cồn lại". Âm hưởng Á Đông, cổ điển, trang trọng phù hợp với nội dung thi phẩm". (1,5 điểm) 2. "Tràng Giang" in dấu ấn của sáng tạo của thi sĩ hiện đại, đó là cảm nhận về sông nước cảu ý thức cái tôi cá nhân, qua đó bộc lộ tâm trạng của cái tôi cô đơn, nhỏ bé, bơ vơ trước không gian vũ trụ. Cảm giác sông nước mênh mang tràn đầy khắp bài thơ, không gian mở rộng không cùng. Đối lập với không gian vũ trụ ấy là sự hiện hữu của những gì trôi nổi: con thuyền, bèo dạt, củi một cành khô . . .; hoặc nhỏ bé : bến cô liêu, cồn nhỏ. (1,5 điểm) 3. Nỗi đau nhân thế và thân thể được thể hiện chân thành, thấm thía. Đặc biết ở khổ thơ cuối cùng: vừa có cái đẹp "kì vĩ" của thiên nhiên, vừa thể hiện sự hóa giải tâm trạng cô đơn với khát vọng hòa nhập với cái cĩnh hằng của vũ trụ. Tuy nhiên, đó cũng chỉ là khát khao, vì vậy không tránh được nỗi saaud "mang mang thiên cổ", không tránh được nỗi đau của kiếp người hữu hạn. Song đó là nỗi đau đẹp, cần có trong mỗi con người để thúc dậy một khát vọng lớn lao hơn trong cuộc đời. (2,0 điểm) Câu III.b (5 điểm) Yêu cầu cụ thể. Thông qua đoạn cuối: " những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn..." trong Vợ chồng A Phủ: thí sinh phân biệt tâm lí và hành động của Mị, từ đó bình luận tư tưởng mà tác giả thể hiện rất thành công tác phẩm này. 1.Giới thiệu tác giả, tác phẩm và tóm tắt ngắn gọn phần đầu truyện ngắn: quá trình Mị trở thành "món hàng" gạt nợ; trải qua "những đêm tình mùa xuân" thức dậy kgao khát tuổi trẻ về tình yêu nhưng bị dập tắt bởi A Sử. Mị đã gặp A Phủ - một nô lệ suốt đời làm không công đang đứng trước nguy cơ cái chết đến gần kề. (1,0 điểm) 2. Tình huống đầy bất ngờ nhưng vẫn hợp lí: Từ lạnh lùng đến vô cảm.... đến ấm áp tình người trong Mĩ, khiến cố thương mình và mình thương người. Đồng thời, thức dậy trong cô sự căm hờn trước những tội ác của nhà thống lí, Mị có thêm sức mạnh để quyết định một hành động vô cùng táo bạo là cởi trói cho A Phủ. (1,0 điểm) 3. Bất ngờ cởi trói cứu người; và cũng bất ngờ thoát nhằm tự cứu mình. ("Ở đây thì chết mất"). " Bất ngờ" nhưng vẫn rất hợp lý với logic tâm lí nhân vật cũng như quy luật khách quan của hiện thực đời sống cách mạng: có áp lực, có đấu tranh. Đó là ý nghĩa cơ bản mà tác giả muốn gửi gắm qua sự kiện quan trọng này. Khát vọng sống bền bỉ mãnh liệt, sức mạnh của bản năng giúp nhân vật - Từ thân phận nô lệ thành người tự do một cách tự phát. Tuổi trẻ, lòng khao khát sống đã chiến thắng ngục tù của chế độ phong kiến táo bạo. (2,0 điểm) 4. Tô Hoài đã thể hiện tài năng của một cây bút văn xuôi tâm lí. Điều đó mang lại sức hấp dẫn, sức sống cho tác phẩm đã ra đời trong những năm văn học kháng chiến còn non trẻ. Đồng thời, tác giả cũng mang lại cho tác phẩm một giá trị hiện thực sâu sắc: con người đi từ bóng tối ra ánh sáng, cùng giá trị nhân đạo cao cả: lòng tin vào khả năng con người. (1,0 điểm) Lưu ý chung: Bài viết phải đạt yêu cầu từ ngữ chính xác, diễn đạt trong sáng, lập luận chặt chẽ. Khuyến khích những bài viết có nhiều sáng tạo. Người chấm có thể xử lí linh hoạt trong từng bài viết của thí sinh.
|
|
|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 29/05/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 28/05/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1156
|
|
|
|
ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC LẦN IV (2011) - TRƯỜNG CHUYÊN ĐẠI HỌC SPHN
PHẦN I: BẮT BUỘC CHO MỌI THÍ SINH Câu I (2 điểm) HS nêu các ý cơ bản sau (trên cơ sở chữ nghĩa rõ ràng, văn phong gãy gọn). - Sau những tìm kiếm, thể nghiệm Nam Cao nhận ra: "Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối . . ." " nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia toát ra từ những lầm than". Chỗ đứng của nhà văn là ở trong lao khổ "mở hồn ra mà đón những vận động của đời".(0,5 điểm) - Nam Cao cho rằng "một tác phẩm có giá trị" phải đạt được giá trị hiện thực và nhân đạo: " không chỉ ta được cái bề ngoài của xã hộ", " nó ca tụng tình thương, tình bác ái, sự công bình . . . Nó làm cho người gần người hơn". Luôn đặt vấn đề "đôi mắt" là một trong những đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa hiện thực - nhân đạo Nam Cao.(0,5 điểm) - Nam Cao ý thức sâu sắc và đòi hỏi rất cao ở sức sáng tạo, tìm tòi. "Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có". Nhà văn phải có lương tâm nghề nghiệp, không được cẩu thả bởi đó là một sự "bất lương". (0,5 điểm) - Trong xuốt cuộc đời cầm bút của Nam Cao luôn trăn trở về vấn đề"sống và viết", ông luôn trủ trương "sống rồi hãy viết". (0,5 điểm) Câu 2 (3 điểm) HS phải bộc lộ kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội (không 600 tiếng/ âm tiết), bộc lộ được quan niệm đúng đắn, những hiểu biết xã hội. Có thể làm bài theo nhieefuc ách, nhưng phải đảm bảo những ý cơ bản sau: * Khái quát về vấn đề - Ngôn ngữ là tài sản vô giá của quốc gia: " Khi một dân tộc rơi vào vòng nô lệ, chừng nào họ vẫn giữ vững tiếng nói của mình thì chẳng khác cầm được chìa khóa chốn lao tù. . .". Vì vậy, tất cả các dân tộc trên thế giới đều có ý thức giữ gìn, bảo vệ tiếng nói của mình. - Tiếng Việt đã có một lịch sử lâu đời. Trải qua quá trình hình thành và phát triển, tiếng Việt luôn giữ được bản sắc riêng. Các thế hệ người Việt Nam luôn "yêu vô cùng thứ tiếng . . . đã chia vui sẻ buồn với cha ông" và luôn có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. * Hiện trạng (1,0 điểm) - Kể từ cánh mạng tháng Tám đến nay, tiếng Việt đã chính thức trở thành ngôn ngữ quốc gia. Nó ngày càng hoàn thiện để chính xác, tinh tế, điêu luyện. Mọi công dân, đặc biệt là các nhà văn, nhà thơ đã góp phần làm giàu có phong phú thêm ngôn ngữ dân tộc. - Song, ở một bộ phận người dân, nhất là giới trẻ hiện tượng sử dụng ngôn ngữ lai căng, pha tạp thậm chí xuyên tạc phổ biến. Điều đó khiến cho tiếng Việt mất dần đi swuj trong sáng cần có. Đây là một hiện trạng đáng lo ngại, cần được báo động, điều chỉnh kịp thời * Giải pháp (1,0 điểm) - Giáo dục ý thức giữ gìn vẻ đẹp của ngôn ngữ dân tộc đến mọi người dân đặc biệt là giới trẻ, học sinh sinh viên. Cần phải đưa vấn đề này vào nhà trường như một nội dung của môn học tiếng Việt. - Các phương tiện thông tin đại chúng cần đi tiên phong, gương mẫu trong việc sử dụng tiếng Việt một cách chính sác, trong sáng. - nâng cao "văn hóa đọc", "văn hóa giao tiếp" để mọi người ý thức nói/ viết đúng và hay, có văn hóa. - Những người sử dụng ngôn ngữ một cách tùy tiện, sai nguyên tấc cần bị cộng đồng lên án, tẩy chay. * Bài học về nhận thức và hành động của người viết (0,5 điểm) PHẦN TỰ CHỌN (5 ĐIỂM) Câu 3. a(5 điểm) Kiểu bài nghị luận văn học này nhằm đáng giá kĩ thuật viết văn nghệ thuật và năng lực cảm thụ văn chương của học sinh. Bài viết phải đảm bảo cách thông thường. Có những cách tổ chức khác nhau, nhưng cuối cùng bài viết phải có các ý chính như sau: * Vài nét về "Nhật kí trong tù" và hoàn cảnh ra đời của bài thơ " Chiều tối". (0,5 điểm)
*(2, 5 điểm) Hai câu đầu của bài thơ là bức tranh thiên nhiên chiều tối ở miền sơn cước được vẽ bằng bút pháp chấm phá với những đường nét, chất liệu quen thuộc: áng mây và cánh chim chiều. Qua cảnh người đọc cảm nhận được tâm trạng mệt mỏi, cô đơn của một người tù sau một ngày đầy ải. So sánh đối chiếu bản dịch với nguyên tác khi phân tích các hình ảnh, từ ngữ: "cô vân", "mạn mạn". Hai câu sau, từ thơ có sự vận động, chuyển sang bức tranh sinh hoạt chiều tối với hình ảnh trung tâm là một sơn thôn thiếu nữ. Bác thể hiện sự cảm thông đối với nỗi vất vả của một người lao động Trung Quốc đồng thời chia sẻ niềm vui trong lao động với cô gái. Bài thơ chiều tối kết thúc bằng hơi ấm tình người và sự lạc quan. Tác giả sử dụng thành công bút pháp vẽ mây nẩy trăng, lối điệp liên hoàn câu chữ và nhãn tự "hồng". * (1,5 điểm) Tác phẩm viết lên vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách con người vĩ đại Hồ Chí Minh với trái tim "ôm trọn kiếp người" với tấm lòng nhân ái "nâng niu tất cả để quên mình". Con người ấy là thi sĩ nhưng cũng là chiến sĩ với chất thép về tinh thần trong những vần thơ " không nói chuyện thép, không lên giọng thép" . . "Chiều tối" là bài thơ tứ tuyệt thể hiện những vẻ đẹp đặc trưng của Bác về nghệ thuật: ngắn gọn, súc tích, màu sắc cổ diển và màu sắc hiện đại . .. (0,5 điểm) Đánh giá chung: " Chiều tối" xứng đáng là một trong những bài thơ hay nhất của Hồ Chí Minh Câu 3b (5 điểm) Vài nét về Hoàng Phủ Ngọc Tường và xuất sứ của tùy bút "Ai đã đặt tên cho dòng sông". *(0,5 điểm) Vẻ đẹp của sông Hương từ góc độ tự nhiên: (1,5 điểm) - Ở thượng nguồn sông Hương giống như một bản trường ca của rừng già với những tiết tấu đa dạng khi thì "rầm rộ, mãnh liệt" lúc lại "dịu dàng, đắm say". Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời . . . như một cô gái di gan phóng khoáng và man dại". - Ra khỏi rừng, "sông Hương nhanh chóng mang một vẻ đẹp dịu dàng và trí tuệ" nó chẳng khác nào người con gái đẹp "nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng châu hóa đầy hoa dại". Hành trình về thành phố của sông Hương thật dài, nhiều khúc quanh, ngã rẽ. Vẻ đẹp của sông Hương được miêu tả như một bức tranh nhiều màu sắc "sớm xanh, trưa vàng, chiều tím". - Đoạn miêu tả sông Hương khi chảy vào lòng thành phố thực sự là một đoạn tuyệt bút của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Với cảm nhận tinh tế và một ngòi bút tài hoa, ông đã miêu tả con sông như một mĩ nhân. Đường cong làm cho con sông mềm hẳn đi "như một tiếng vâng không nói ra của tình yêu"; điệu chảy lặng lờ của nó là diệu "Slow tình cảm dành riêng cho Huế". Khi sông Hương đột ngột đổi dòng để gặp lại thành phố, nhà văn đã gọi đó là "nối vần sông Hương đột ngột đổi dòng để gặp lại thành phố, nhà văn đã gọi đó là "nỗi vấn vương, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu". * (1,0 điểm) Vẻ đẹp của sông Hương từ góc độ lịch sử văn hóa: - "Sông Hương đã sống những thế kỉ quang vinh với nhiệm vụ lịch sử của nó". Bằng một lối điểm sử vừa ngẫu hứng, vừa tái họa đậm màu sắc tùy bút, tác giả đã chỉ ra sự song hành của sông Hương với lịch sử thành phố Huế nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung. Sông Hương là "dòng sông của thời gian ngân vang, của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc". - "Có một dòng thi ca về sông Hương", dòng sông ấy không bao giờ lặp lại mình.. Tác giả thiên tùy bút đã tổng kết một cách ngắn gọn và phóng túng những vẻ đẹp khác nhau của sông Hương qua "cái nhìn tinh tế của Tản Đà", "trong khí phách của Cao Bá Quát" và qua thơ Bà Huyện Thanh Quan, Tố Hữu. - Trong tình yêu và cảm nhận rất riêng của Hoàng Phủ Ngọc Tường, sông Hương còn là " một tài nữ đánh đàn lúc đem khuya" nhà văn khẳng định "toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh thành trên mặt nước của dòng sông này". Như vậy, sông Hương là cội nguồn cảm hứng cho thơ và nhạc. * (1,5 điểm) Vẻ đẹp của soogn Hương trong thiên tùy bút" Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường: "Sông Hương vốn đã đjep lại càng đẹp hơn khi nó được cảm nhận bởi một cái tôi uyên bác, tinh tế, tài hoa. Thiên tùy bút có mạch văn phóng thoáng đầy ngẫu hứng, đậm chất trữ tình. Trí tưởng tượng phong phú, khả năng liên tưởng giàu có của tác giả khiến cho con sông hiện lên với những vẻ đẹp đa dạng, đầy biến hóa. Hoàng Phủ Ngọc Tường luôn có cách so sánh, ví von rất sáng tạo, gây bất ngờ . . . Tác phẩm thực sự là một huyền thoại về một dòng sông - một huyền thoại được viết nên bởi tình yêu, sự ham hiểu biết về Huế và một ngòi bút tài hoa hiếm có. * (0,5 điểm) Đánh giá chung "Ai đã đặt tên cho dòng sông" là một trong những tùy bút hay nhất, in đậm phong cách của Hoàng Phủ Ngọc Tường.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1155
|
|
|
|
ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC LẦN II (2011) - TRƯỜNG CHUYÊN ĐẠI HỌC SPHN
I. PHẦN BẮC BUỘC (5,0 điểm) Câu 1. (2,0 điểm). Đây là câu hỏi tái hiện kiến thức, yêu cầu học sinh trình bày ngắn gọn, chính xác, mạch lạc. Bài làm cần nêu được ý cơ bản sau: 1. Giai đoạn thứ nhất (từ đầu thế kỉ XX đến khoảng 1920). (0,5 điểm) 2. Giai đoạn thứ hai ( khoảng từ 1920 đến 1930) (0,75 điểm) 3.Giai đoạn thứ ba (khoảng từ 1930 đến 1945). (0, 75 điểm) (Mỗi giai đoạn hiện đại hóa cần nêu rõ: đội ngũ tham gia hiện đại hóa văn học; những thành tựu hiện đại hóa nổi bật, một số hạn chế). Câu 2. (3,0 điểm) Học sinh có thể đưa ra những ý kiến riêng, trình bày và diễn đạt theo những cách khác nhau, song cần đảm bảo những ý chính sau: a) Giải thích ngắn gọn ý kiến (1,0 điểm) - "Chính họ là người làm vườn cho tâm hồn" là cách diễn đạt hình ảnh về khả năng tự giáo dục cũng là trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với quá trình hình thành, hoàn thiện nhân cách của mình. - "Chính họ. . . là đạo diễn cho cuộc đời họ" là cách nói hàm xúc, chính xác về khả năng chỉ đạo tổ chức cuộc đời mình của mỗi cá nhân, cũng là trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với cuộc sống của bản thân trong quá khứ, hiện tại và tương lai. - "Con người sớm hay muộn gì cũng nhận thấy. . ." khẳng định: mỗi con người đều tiềm tàng khả năng tự nhận thức, tự giáo dục bản thân, nhưng với mỗi người, năng lực ấy được bộc lộ ở những thời điểm khác nhau của cuộc đời. Có người, ngya từ khi còn trẻ đã sớm có nhận thức đúng về mình. Nhưng cũng có không ít người phải trải qua chặng đường lâu dài mới có được nhận thức như thế. Mượn cách nói giàu hình ảnh, hàm xúc chính xác, Giêm Alen đã giúp con người nhận ra năng lực tự nhận thức của mình và đặt ra cho mỗi người yêu cầu: không ai khác, mỗi cá nhân phải có trách nhiệm với quá trình rèn luyện nhân cách, bồi dưỡng tâm hồn, và đóng vai trò quyết định trong việc xây dựng tương lai cho mình. b) Bàn luận (1,25 điểm) - Cuộc đời, quá trình hình thành, hoàn thiện nhân cách của mỗi người chịu tác động của nhiều yếu tố. Yếu tố khách quan (môi trường giáo dục trong gia đình, trong nhà trường và ngoài xã hội, xu thế phát triển cảu mọi thời đại, những biến động lịch sử, chính trị . . .) đóng vai trò ảnh hưởng, chi phối. . . Yếu tố chủ quan (Vốn sông, hiểu biết, bản lĩnh, khát vọng, niềm đam mê, năng lực tự nhận thức, tự giáo dục. . .)của mỗi cá nhân đóng vai trò quan trọng có tính quyết định. (0,25 điểm) - Để trở thành "người làm vườn" đích thực của tâm hồn mình, là "đạo diễn của cuộc đời mình, mỗi cá nhân phải chủ động trang bị cho mình những hành trang cần thiết (xác định nghiêm túc, đúng đắn mình muốn trở thành con người như thế nào? Tự bồi dưỡng, rèn luyện những phẩm chất, tính cách phù hợp, nói cách khác: từ mài sắc trí tuệ và luôn làm giàu tâm hồn) (liên hệ bản thân).. (0,5 điểm) - Câu nói có giá trị như một bài học sâu sắc, đúng đắn về cách sống (0,5 điểm) * Con người khi trở thành " người làm vườn" đích thực của tâm hồn mình, là "đạo diễn" đích thực cảu cuộc đời mình, cũng có nghĩa là đã thực sự làm chủ được mình. Khi ấy, con người không còn bị lệ thuộc vào sự "rủi may" của cái gọi là "số phận" hay "định mệnh". * Cần thấy rằng, làm chủ cuộc đời mình là một trong những năng lực vô cùng quan trọng giúp con người, nhất là những người trẻ tuổi hòa nhập và đứng vững để đi đến thành công, có được hạnh phúc trong thời đại hội nhập toàn cầu hiện nay. c) Liên hệ bản thân (0,75 điểm) II. PHẦN TỰ CHỌN (0,5 điểm) Câu IIIa (5 điểm) Học sinh có thể trình bày và diễn đạt theo những cách khác nhau, song cần đảm bảo những ý chính sau: a) Giới thiệu chung (0,5 điểm) - Nguyễn Tuân là nghệ sĩ "suốt đời đi tìm cái Đẹp" cũng là cây bút rất mực tài hoa, uyên bác. - " Chữ người tử tù" được khẳng định là một kiệc tác kết tinh những đặc sắc nổi bất nhất trong phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân. - Cảnh cho chữ cuối thiên truyện này đã được chính tác giả đánh giá là " một cảnh tượng xưa nay chưa từng có". b) Phân tích (4,0 điểm) * Lí do cảnh cho chữ (1,0 điểm) - Cảnh cho chữ cuối tác phẩm là kết quả của cái nhìn "biệt nhỡn" cùng quá trình biệt đãi tử tù đầy dụng công và khổ tâm của viên quản ngục. Khổ tâm là vì, càng nỗ lực thực hiện "sở nguyện cao quý" ấy, quản ngục cành bị Huấn Cao lĩnh án không xin được "vật báu ở đời" là những con chữ của Huấn Cao thì sẽ"ân hận suốt đời". - Cảnh cho chữ có được còn do sự súc động mãnh liệt của tử tù Huấn Cao khi nhận ra "một tấm lòng trong thiên hạ" nơi quản ngục ngay ở chốn ngục tù tăm tối và chuyển thành hành động để đền đáp tấm lòng ấy. * Lí giải và sao Nguyễn Tuân gọi cảnh cho chữ là "một cảnh tượng xưa nay chưa từng có". (3 điểm) - Cảnh cho chữ diễn ra trong một không gian đặc biệt, vào một thời điểm đặc biệt ( dẫn chứng và phân tích) - Tính chất "xưa nay chưa từng có' của cảnh cho chữ thể hiện sâu sắc ở sự đảo lộn vị thế, quan hệ giữa người tử tù và quản ngục.( dẫn chứng và phân tích) - Lí do quan trọng chính ở cảnh cho chữ Nguyễn Tuân mới khắc họa hoàn chỉnh chân dung mang vẻ đẹp lí tưởng, lãng mạn như các nhân vật như Huấn Cao, quản ngục ( dẫn chứng và phân tích). - Cảnh cho chữ còn tập trung ý nghĩa thể hiện ý nghĩa nhan đề, chiều sâu, giá trị nhân văn đẹp đẽ, mới mẻ của tác phẩm cũng như toàn bộ văn văn nghiệp Nguyễn Tuân. - Cảnh cho chữ cũng hội tụ sự tài hoa, uyên bác của ngòi bút tác giả trong cách dựng cảnh ( dẫn chứng và phân tích) c) Đánh giá chung (0,5 điểm) Cảnh cho chữ trong " Chữ người tử tù" là khúc vĩ thanh đầy ám ảnh và ý nghĩa mà Nguyễn Tuân đã sáng tạo thành công trong tác phẩm. Câu IIIb (5 điểm) Học sinh có thể trình bày và diễn đạt theo những cách khác nhau, song cần đảm bảo những ý chính sau: a) Giới thiệu chung (0,5 điểm) - Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ trí thức - nghệ sĩ cách mạng trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. Thơ ông giàu chất suy tư, chính trị có sức khái quát, thể hiện cảm xúc dồn nén và tâm tư của một thanh niên trí thức tích cực tham gia cuộc chiến đấu chung của nhân dân, dân tộc. Đến với thơ Nguyễn Khoa Điềm, người đọc rất hứng thú với những trang viết có nhiều khám phá, thể hiện sâu sắc, bất ngờ về hiện thực cuộc sống, đất nước, con người. - Trường ca "Mặt đường khát vọng" (1971) thể hiện sâu sắc sự thức tỉnh của tuổi trẻ vùng bị tạm chiếm miền Nam, nhận rõ bộ mặt bộ mặt xâm lược của kẻ thù, hướng về nhân dân, sawxnsafng tự gánh vác sứ mệnh đấu tranh, giải phóng đất nước. Chương V "Đất nước" là trụ cột tư tưởng của toàn tác phẩm. Đoạn trích thuộc chương V, tập trung thể hiện tư tưởng "Đất Nước của nhân dân, Đất Nước của ca dao, thần thoại". Đây cũng là tư tưởng chủ đạo của chương V cũng như toàn bộ tác phẩm. b) Sự thể hiện tư tưởng "Đất Nước của nhân dân, Đất Nước của ca dao, thần thoại" qua đoạn thơ (4,5 điểm) * Qua đoạn thơ, tác giả biểu dương, ngợi ca vai trò lịch sử, sức mạnh lớn lao và kì diệu của nhân dân trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. (2,5 điểm) - Trong sự nghiệp dựng nước, nhân dân là những người kiến tạo, bảo tồn những giá trị văn hóa, tinh thần truyền thống dân tộc ( dẫn chứng và phân tích) - Trong cuộc đấu tranh giữ nước, cũng lại nhân dân chứ không ai khác đã viết lên những trang sử bi tráng của dân tộc ( dẫn chứng và phân tích). * Tư tưởng "Đất Nước của nhân dân, Đất Nước của ca dao, thần thoại" được kết tinh trong hai dòng thơ: " Để Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân Đất Nước của nhân dân, Đất Nước của ca dao, thần thoại." Vừa xác định tính chất dân chủ của thể chế chính quyền Nhà nước, vừa khẳng định nhân dân mới thực sự là chủ nhân của đất nước: nhân dân là người có trách nhiệm xây dựng, bảo vệ đất nước nên cũng xứng đáng là người đầu tiên được hưởng thành quả ngọt nào từ sự nghiệp đó. * Cũng ở đoạn thơ, để chuyển tải tư tưởng "Đất Nước của nhân dân" người viết đã tìm đến nguồn chất liệu dồi dào và vô cùng thích hợp là nguồn chất liệu văn hóa, văn học dân gian. (1,0 điểm) - Đoạn thơ có sự đan dệt của những câu ca dao, tục ngữ, hàng loạt truyện cổ, vô vàn những tập quán phong tục một cách sáng tạo. - Điều có ý nghĩa là, chất liệu này được nhà thơ tái sinh bằng cảm xúc mãnh liệt của người nghệ sĩ không chỉ am tường mà xiết bao trân trọng kho tàng văn hóa, văn học do chính nhân dân tạo nên và trong nguồn ánh sáng mới của tư tưởng " Quần chúng nhân dân là người làm nên lịch sử". - Trong đoạn thơ và cả chương V, từ Đất Nước, Nhân dân luôn được viết hoa ở mọi vị trí xuốt hiện như một cách biểu đạt thái độ trân trọng, tình yêu sâu sắc của nhà thơ cho đất nước, nhân dân. c) Đánh giá chung (0,5 điểm) - Đoạn thơ đã tập trung biểu dương, tôn vinh vai trò lịch sử lớn lao, sức mạnh kì diệu cảu nhân dân trong trường kì lịch sử của dân tộc. Bằng những việc làm bình dị, họ đã, đang và xẽ mãi âm thầm, lặng lẽ "làm nên Đất Nước muôn đời". - Trong những ca khúc trữ tình - chính trị về đất nước của thơ ca Việt Nam, với đoan thơ này, Nguyễn Khoa Điềm đã thực sự đóng góp được tiếng nói riêng độc đáo.
|
|
|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 27/05/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1133
|
|
|
|
ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC LẦN THỨ V (2011) - TRƯỜNG CHUYÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
PHẦN I: BẮT BUỘC CHO MỌI THÍ SINH Câu 1 (2 điểm) Thí sinh cần có các ý cơ bản sau: - Xác định rõ "viết cho ai" và "viết làm gì", Hồ Chí Minh đã chọn một cách "viết như thế nào" hết sức hợp lí. Người trang trọng trích dẫn những câu nói nổi tiếng trong hai bản tuyên ngôn nổi tiếng của Pháp và Mĩ sẽ chứng tỏ mình tôn trọng, thấu hiểu đối thủ. Điều này buộc đối thủ phải có thái độ đúng đắn với mình, dân tộc mình (0,5 điểm) - Từ "lẽ phải không ai chối được" về nhân quyền, người đã viết "suy rộng ra" về quyền dân tộc. Gắn quyền con người với quyền dân tộc là một vận dụng khôn khéo, linh hoạt của Bác. (0,5 điểm) - Quan trọng hơn, Hồ Chí Minh tạo một cơ sở pháp lí vững chắc để tranh luận. Người đã sử dụng chính lí lẽ của kẻ thù để khóa họng chúng, buộc chúng phải mặc nhiên thừa nhận quyền độc, lập tự do, bình đẳng của dân tộc, nhân dân Việt Nam. Cơ sở pháp lí này chi phối toàn bộ hệ thống luận điểm, lí lẽ trong văn bản. Đồng thời, đây cũng là cách nâng cao vị thế của chính dân tộc với kẻ thù. . . - Giọng văn trịnh trọng, cứng cỏi, tự tin (vào chân lí, chính nghĩa, nhân nghĩa. . .) cũng góp phần quan trọng tạo nên hiệu quả đấu tranh. Câu 2 (3 điểm) Học sinh có thể làm bằng nhiều cách khác nhau, nhưng phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản của một bài văn nghị luận xã hội. Ý chính cần có: 1. Những " lời đồn về ngày diệt vong trái đất" đang lan truyền bằng lời, qua các thông tin đại chúng, mạng xã hội. . . Gọi là "lời đồn" vì đây là những nguồn thông tin không chính thức, chưa có sở trường rõ ràng, lại về những điều chưa sảy ra. Tuy nhiên "lời đồn" này vẫn gây chú ý vì chạm tới một vấn đề không hề nhỏ đối với nhân loại, đó là ngày trái đất bị hủy diệt, tính mạng con người bị đe dọa. (0,5 điểm) 2. Trước lời đồn này, con người có những thái độ khác nhau: có người tin chắc chắn đó là sự thực sống trong tâm trạng hoang mang, lo sợ; có người không tin và cho rằng đây là lời đồn nhảm; có người bán tín bán nghi; tất nhiên có người không hề quan tâm . . . Lời đồn đoán này có nhiều nguyên nhân: sự tò mò, sự duy tâm,tinh thần trách nhiệm với tương lai, với môi trường trái đất, cũng có khi là yếu tố thương mại (bán sách/ báo) (1,0 điểm) 3. Chúng ta rút ra được nhiều điều từ những lời đồn đoán này về ngày diệt vong của trái đất: - Khả năng của con người là vô tận, có những điều bí ẩn không thể giải thích được ngay . . . - Không nên hoang mang, nhưng cũng không nên thờ ơ trước số phận của trái đất - ngôi nhà chung. Hãy coi đây là lời cảnh tình để mỗi cá nhân, tổ chức, quốc gia cùng nhận thức về những tác động do chính con người gây ra cho trái đất, tuyên truyền và hành động khẩn trương để bảo vệ rừng, nguồn nước, khí quyển . . . - Nghiên cứu để tìm ra giải pháp bảo vệ con người trước những tai họa từ thiên nhiên một cách hợp lí nhất . . . Lưu ý: Trong quá trình viết bài, thí sinh phải có những linh hoạt hợp lý, có thể là từ văn học, nghệ thuật, nhưng nên là những dẫn chứng thực tế và bản thân. Bài viết hay, ngoài việc đảm bảo hình thức, phải có sự chân thành, sâu sắc, xúc động . . . Nếu viết quá ngắn hoặc quá dài so với yêu cầu của đề bài, giám khảo có thể trừ điểm. PHẦN II: THÍ SINH CÓ THỂ CHỌN MỘT TRONG HAI CÂU SAU ĐÂY: Câu III.a (5 điểm) 1. Giới thiệu khái quát về tác giả , tác phẩm Chỉ ra những điểm chung: (1,0 điểm) - Hai nhà văn đều là những người có trải nhiệm sâu sắc về hiện thực cuộc chiến đấu chống Mĩ, ác liệt của nhân dân Nam Bộ. - Trong hai tác phẩm, hai nhân vật có điểm chung là: * Những con người có tình yêu gia đình, quê hương, đất nước. . . * Những con người có "Thù nhà, nợ nước " * Vượt lên nỗi đau, họ tự nguyện chiến đấu anh dũng kiên cường, xứng đáng là những người anh hùng ưu tú . . . Các nhân vật này góp phần tạo nên chất sử thi ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong giai đoạn nóng bỏng và hào hùng. 2. Những nét riêng (1,5 điểm) a) Nhân vật Việt: hiện lên vừa gần gũi, vừa bình thường, vừa có những nét phi thường, được đặt trong truyền thống gia đình vùng sống nước Nam Bộ. - Có những nét hồn nhiên, vô tư, "lộc ngộc", giàu tình cảm, rất đáng yêu, dường như sinh ra để đối mặt với đau thương, súng đạn ( cách yêu quý chị, tranh giành với chị, mang ná cao su ra trận, sợ ma . . .) - Mang phẩm chất của một người anh hùng nhỏ tuổi. Việt chiến đấu với kẻ thù bằng pháo - diệt một xe bọc thép của chúng; đến khi bị thương, lạc đồng đội, cậu đối mặt với đói khát, tuyệt vọng. . . nhưng vẫn kiên cường vượt qua tất cả. - Việc được đặt vào tình huống truyện độc đáo, ngôn ngữ riêng để khai thức dòng tâm lí, tính cách sống động, đậm chất Nam Bộ. Truyện giàu chất trữ tình và màu sắc triết lý dung dị của cuộc sống. . . -> Việt là hình tượng tiêu biểu cho người Nam Bộ bộc trực, dù tuổi nhỏ nhưng chí lớn, vượt nên nỗi đau thương mất mát để chiến đấu. Nhân vật vừa gần gũi đáng mến, lại vừa lớn lao, đáng trọng. b) Nhân vật Tnú: Được xây dựng theo bút pháp lí tưởng hóa. Tnú như bước ra từ những trang sử thi đậm chất Tây Nguyên, gắn liền với truyền thống con người Tây Nguyên anh hùng: - Sinh ra rồi lớn lên, Tnú như cây xà nu chịu nhiều vết thương cả thân thể và tâm hồn: mồ côi cha mẹ từ xớm, bản thân bị địch bắt và tra tấn nhiều lần, vợ và con bị giặc giết chết. . . - Cũng giống cây xà nu, bất diệt bất khuất, Tnú đã luôn ý thức phấn đấu để đến với cách mạng. Tình yêu gia đình, quê hương, lòng căm hận với kẻ thù đã thôi thúc anh trở thành thủ lĩnh của dân làng, chiến đấu chống lại Mĩ - Ngụy giải phóng quê hương, thống nhất đất nước. - Tnú được khắc họa hầu hết qua câu truyện của cụ Mết, qua lời kể ồ ồ trong ánh lửa bập bùng, trong sự song hành với câu xà nu và số phận, phẩm chất người Strá, người Tây Nguyên. Hình ảnh chi tiết, giọng điệu, ngôn ngữ. . . tác phẩm mang đậm chất Tây Nguyên và màu sắc sử thi. -> Tnú là đại diện của người Tây Nguyên bất khuất, kiên cường viết tiếp những trang sử thi hào hùng của dân tộc mình. 3. Đánh giá khái quát (1,0 điểm) - Những điểm gặp gỡ của hai nhâ vật đã tạo nên âm hưởng chung, có tình thống nhất cao của văn học kháng chiến với những nhiệm vụ lớn của đất nước. - Những nét riêng lại tạo nên sự phong phú, đa dạng: phản ánh được hiện thực rộng lớn và cũng khẳng định được những sức sáng tạo độc đáo của mỗi nhà văn. Vì thế đến hôm nay, đây vẫn là hai trong số không nhiều tác phẩm viết trong chiến tranh vẫn được các bạn đọc yêu mến. Câu III.b (5 điểm) 1. Giới thiệu khái quát về số phận, con người và thơ ca Hàn Mặc Tử; hoàn cảnh sáng tác bài thơ :Đây thôn Vĩ Dạ". Khẳng định bài thơ toát lên nhiều vẻ đẹp (ở cả hai phương diện nội dung và hình thức) (0,5 điểm) 2. Vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên và con người: a) Cảnh: - Thôn vĩ hài hòa, thanh khiết, tràn đầy sức sống trong buổi sớm mai - Cảnh dòng sống, bến nước con đò . . . tràn ngập trong ánh nắng huyền hoặc . . . b) Con người: - Nét phúc hậu khỏa lhoawsn, ý nhị, duyên dáng của gương mặt "chữ điền" thấp toáng trong bóng tre trúc . . . - Nét mơ hồ, hư ảo của dáng áo trắng tinh khiết của "khách", cuae "em". c) Vẻ đẹp tâm hồn trữ tình: (1,5 điểm) - Nỗi buồn, băn khoăn, phấp phỏng, . . . về sự xa cách chia li, về "tình ai có đậm đà". - Ẩn đằng sau nỗi buồn ấy là tâm hồn nhạy cảm tha thiết yêu cái đẹp, khao khát cháy bỏng được "về chơi thôn Vĩ", về với cuộc đời tươi đẹp, khỏe khoắn, được yêu thương, sẻ chia. d) Vẻ đẹp bút pháp bài thơ: vừa cổ điển, lại mang màu sắc tượng trưng và hơi hướng siêu thực rất hiện đại. Giàu chất họa, chất nhạc; câu hỏi tu từ, điệp từ "ai" giàu ý nghĩa. Bài thơ tạo được mạch ngầm cảm xúc, chân thực trôi chảy sau những khổ thơ có bức tranh rạn cỡ, siêu thực . . . (1,0 điểm) 3. Đánh giá khái quát (0,5 điểm) - Bài thơ đánh thức những rung động thẩm mĩ, khơi dậy tình yêu cuộc sống, đậm chất nhân văn. - Góp phần làm mới và phong phú cho phong trào Thơ mới.
Lưu ý: - Trong bài NLVH, thí sinh phải thể hiện được kỹ năng tổ chức bài văn, viết câu, dùng từ cơ bản, chuẩn xác, tinh tế. - Qua bài viết, thí sinh bộc lộ được năng lực cảm thụ vẻ đẹp nghệ thuật và tư tưởng của nhà văn. - Khuyến khích những bài viết có sáng tạo, phát hiện mới mẻ . . . trừ điểm những lỗi cơ bản.
|
|