|
|
giải đáp
|
Đề thi - đáp án tham khảo - đại học môn Ngữ văn – khối D 2014
|
|
|
|
Câu I: 1. Đoạn thơ thể hiện tâm tư, tình cảm của tác giả - Lời tuyên bố dõng dạc và hùng hồn về chủ quyền dân tộc. - Thể hiện sự tự hào trước chủ quyền dân tộc - Lời thơ là sự khẳng định vẻ đẹp tinh thần, vật chất của đất nước từ những cái hữu hình đến những cái vô hình ở bề sâu và trong thời gian vĩnh viễn đó là hồn đất nước
2. Ý nghĩa tu từ của từ láy “rì rầm” - Từ láy tượng thanh với hai thanh bằng: âm thanh nhỏ nhưng rõ và liên tục có khả năng tạo sự chú ý của người nghe. HS có thể so sánh hai cách dùng: tại sao không dùng từ “thì thầm” mà lại dùng từ “rì rầm” -Thể hiện cái nhìn phát hiện các yếu tố truyền thống qua việc cảm nhận những âm thanh vô hình bằng thính giác (tiếng nói của những người đã khuất: âm thanh không có thật). - Tiếng nói ấy trở thành hồn thiêng sông núi, tiếp sức, nhắc nhở người đời sau.
3. Các dạng của phép điệp - Điệp từ: những, đây - Điệp ngữ: là của chúng ta - Điệp cấu trúc ngữ pháp: câu 1+2 cùng cấu trúc (cụm danh từ + đây là + của chúng ta), câu 3+4+5 cùng cấu trúc (Những + danh từ chỉ sự vật + tính từ) Tác dụng: - Khẳng định chủ quyền lãnh thổ của dân tộc: vùng trời, vùng đất liền, vùng biển là của dân tộc Việt Nam - Niềm tự hào về sự phong phú, giàu có và chủ quyền thiêng liêng của đất nước
Câu II: Thí sinh có thể trình bày những quan điểm, suy nghĩ cá nhân về vấn đề cần nghị luận theo những cách khác nhau song cần đảm bảo những ý cơ bản sau: - Giải thích vấn đề: + Cống hiến và hưởng thụ: Cống hiến là đóng góp cái quý giá của mình cho sự nghiệp chung, cho cộng đồng. Hưởng thụ là được nhận những lợi ích, giá trị từ xã hội. Cống hiến và hưởng thụ là hai thái độ, hai cách hành xử, hai quá trình luôn song hành cùng nhau, cái nọ làm tiền đề cho cái kia. + Hết mình và tối đa: cao nhất trong khả năng có thể. Đề bài đặt ra vấn đề về phương châm sống của người hiện đại (nhất là giới trẻ): sống hết mình, sẵn sàng cống hiến và biết cách hưởng thụ.
- Bình luận, chứng minh: + Biểu hiện của lối sống "cống hiến hết mình, hưởng thụ tối đa": các dẫn chứng trong học tập, chiến đấu, lao động sản xuất, nghiên cứu khoa học, ... + Đó là một quan điểm sống tích cực của người hiện đại vì: * Với mỗi cá nhân: quan điểm ấy giúp con người tự tin, năng động, phát huy tối đa năng lực, sở trường của mỗi người đồng thời biết cách thụ hưởng những giá trị do sức lao động chân chính của mình. * Với cộng đồng: quan điểm ấy giúp tạo ra một xã hội năng động, sản xuất ra nhiều giá trị vật chất, tinh thần khiến đời sống xã hội ngày một nâng cao, phong phú, thúc đẩy sự phát triển xã hội. + Nhưng nó có "luôn phù hợp với mọi hoàn cảnh"? Quan niệm sống ấy dù tích cực nhưng không phải lúc nào, ở đâu và với ai cũng phù hợp. Có những trường hợp, mỗi cá nhân phải biết hi sinh những lợi ích của bản thân, hạn chế sự hưởng thụ để cống hiến vì lợi ích chung của cộng đồng. Quan niệm sống trên chỉ tích cực, phù hợp nếu con người đặt cống hiến làm nền tảng, hưởng thụ sẽ là kết quả của quá trình cống hiến ấy. Cách hưởng thụ, mức độ hưởng thụ ... cũng là những vấn đề cần quan tâm. - Bài học: Thí sinh rút ra bài học về nhận thức và hành động, hướng đến quan niệm sống tiến bộ, lối sống lành mạnh, cao đẹp.
Câu III • Giới thiệu tác giả, tác phẩm: - Tác giả: là một trong số những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. - Tác phẩm: Bài thơ Đàn ghi-ta của Lor-ca rút trong tập Khối vuông ru-bích (1985). Đây là một sáng tác tiêu biểu cho kiểu tư duy thơ của Thanh Thảo: giàu suy tư, cảm xúc mãnh liệt, phóng túng và nhuốm mày sắc siêu thực, tượng trung, được học tập từ chính phong cách thơ hiện đại của Lor-ca.
• Bình luận 2 ý kiến: - Vài nét về con người Lor-ca: Federico Garcia Lor-ca (1898-1936) là một nhà tài năng lớn của văn học nghệ thuật hiện đại Tây Ban Nha với khả năng thiên bẩm ở nhiều lĩnh vực: thơ ca, hội hoạ, âm nhạc, sân khấu...; Lor-ca không chỉ là một nghệ sĩ, một nhà văn hoá vĩ đại với những đóng góp lớn lao cho nền nghệ thuật Tây Ban Nha và công cuộc cách tân nền nghệ thuật già cỗi ấy mà còn là một công dân yêu tự do, một chiến sĩ kiên cường chống lại chế độ độc tài thân phát xít Phrăng-cô, cuối cùng đã anh dũng hi sinh trong cuộc chiến đấu đó. - Bình luận về hai ý kiến: + Ý kiến thứ nhất: Khẳng định 2 vẻ đẹp trong tâm hồn và nhân cách của một Lor-ca “nghệ sĩ – chiến sĩ”; tuy nhiên trong phần diễn giải, ý kiến này chưa làm rõ vẻ đẹp tâm hồn nghệ sĩ mà nghiêng về vai trò chiến sĩ, một nhà hoạt động xã hội khi khẳng định Lor-ca “vì dấn thân tranh đấu cho dân chủ và tự do nên bị bọn phát xít hành hình”. + Ý kiến thứ hai: Có sự phiến diện khi khẳng định “Lor-ca là mẫu nghệ sĩ thuần tuý khi chỉ đam mê cái đẹp và sáng tạo nghệ thuật, nhưng bị giết hại oan khuất”. Ý kiến này tuy tô đậm vẻ đẹp nghệ sĩ trong tâm hồn Lor-ca nhưng đã tách rời Lor-ca với một trong những khát vọng cao cả, tâm huyết nhất của ông đó là tự do dân chủ cho nhân dân và đất nước; cũng có nghĩa là tách rời nghệ thuật và cuộc đời. + Do đó, cần kết hợp cả hai ý kiến trên, xuất phát từ cuộc đời, sự nghiệp và con người Lor-ca, khẳng định vai trò nghệ sĩ-chiến sĩ để thấy được cả vẻ đẹp trong tâm hồn nhân cách và cả bi kịch trong số phận.
• Dẫn chứng, chứng minh Có thể làm bài theo hai cách: - Cảm nhận chung về hình tượng Lor-ca trong toàn bộ bài thơ và chứng minh cả vẻ đẹp và thân phận của ông ở hai vai trò: một nghệ sĩ cô đơn trong khao khát cách tân và đổi mới nền nghệ thuật già cỗi TBN; một chiến sĩ kiên cường chiến đấu cho nền tự do dân chủ của đất nước TBN và đã “bị giết hại oan khuất”. - Tách rời từng vai trò của nghệ sĩ và chiến sĩ; dùng các dẫn chứng phù hợp để chứng minh: + Trong vai trò một nghệ sĩ tài hoa và tâm huyết, một nhà văn hoá vĩ đại với những đóng góp lớn lao cho nghệ thuật TBN và công cuộc cách tân nền nghệ thuật già cỗi TBN những năm đầu thế kỉ XX, Lor-ca đã nếm trải bi kịch của một người đi đầu, người luôn cô đơn bởi những bước đi trước thời đại của mình; nhưng tình yêu với nghệ thuật và khát khao đổi mới khiến ông vẫn kiên trì, mạnh mẽ vững bước trên con đường gian truân và cao cả ấy. + Lor-ca còn là người công dân yêu tự do, người chiến sĩ kiên cường trong cuộc chiến đấu không mệt mỏi chống lại chế độ độc tài phản động Phrăng-cô, cuối cùng đã anh dũng hi sinh trong cuộc chiến đấu đó. Trong vai trò thứ hai này, vẻ đẹp bi tráng của hình tượng Lor-ca hiện rõ nhất trong cái chết đau thương, trong cách ra đi thanh thản, nhẹ nhõm, trong thông điệp tha thiết ông gửi lại cuộc đời: “Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn ghi ta! => Kết hợp hai ý kiến trong đề bài, gắn với cuộc đời sự nghiệp và con người Lor-ca, thông qua cảm nhận về những hình tượng thơ cụ thể, khẳng định vẻ đẹp bi tráng của Lor-ca, một vẻ đẹp đã đưa đến cho người đọc đồng thời cả niềm cảm phục và tiếc thương vô hạn.
Lưu ý chung: Thí sinh có thể làm bài theo những cách khác nhau, nhưng phải đảm bảo những yêu cầu về kiến thức. Trên đây chỉ là những ý cơ bản thí sinh cần đáp ứng.
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Đề thi - đáp án tham khảo - đại học môn Ngữ văn – khối C 2014
|
|
|
|
1. Các phương thức biểu đạt sử dụng trong đoạn văn trên Miêu tả Tự sự Biểu cảm
2. Các từ: lảo đảo, thập thững => Khẳng định: đây là hai từ láy tượng hình, có sức biểu cảm cao Lảo đảo: thể hiện những bước nhảy nghiêng ngả dường như không chắc chắn, chứa đựng sự say sưa xuất thần trong điệu múa của cô đồng hoà quyện trong điệu hát văn. Thập thững: thể hiện bước chân khó nhọc: bước cao, bước thấp trên một con đường mấp mô, gập ghềnh trên con đường mưu sinh của người bà.
3. Sự vô tâm của cháu và nỗi cơ cưc của người bà hiện lên qua những hồi ức: Người cháu mải mê với những thú vui, những trò chơi: câu cá ở cống Na, bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật, ăn trộm nhãn chùa Trần, đi đền xem lễ, hát văn, múa đồng. Người bà: nhọc nhằn đi mò cua xúc tép ở đồng Quan, phải đi gánh chè xanh trong những đêm hàn Nỗi niềm của người cháu: Tự trách bản thân vô tâm, chỉ biết ham chơi mà không phụ giúp bà Thương bà khi nhận thức được công việc vất vả mà bà phải làm => Tình yêu thương của người cháu dành cho bà.
Câu 2: Thí sinh có thể trình bày những quan điểm, suy nghĩ cá nhân về vấn đề cần nghị luận theo những cách khác nhau song cần đảm bảo những ý cơ bản sau: a. Giải thích vấn đề: Kẻ mạnh: người có năng lực (thể chất, tinh thần) hoặc có những ưu thế lớn về quyền lực, về vật chất ... so với những người khác. Đề bài nêu định nghĩa về "kẻ mạnh" thông qua hai cách hành xử với những người yếu hơn mình: kẻ mạnh phải dùng sức mạnh, ưu thế của mình để giúp đỡ chứ không phải để chà đạp, đè nén những người yếu hơn mình. Từ đó nêu vấn đề về cội nguồn sức mạnh chân chính của mỗi con người, mỗi quốc gia: lòng chính trực, sự công bằng, tình nhân ái.
b. Bình luận, chứng minh: "Kẻ mạnh không phải là kẻ giẫm đạp lên vai kẻ khác để thỏa mãn lòng ích kỉ" vì Hành động "giẫm đạp lên vai kẻ khác" là hành động dùng sức mạnh của mình để áp chế, để đè nén người khác bằng bạo lực bất chấp đạo lí và công lí. Hành động ấy đáng lên án. Hành động đó lại xuất phát từ động cơ là thỏa mãn lòng ích kỉ, thỏa mãn những lợi ích cá nhân của "kẻ mạnh". Với hành động đó, dù người/quốc gia đó có ưu thế, lớn mạnh đến đâu chắc chắn cũng sẽ bị những người xung quanh và cộng đồng lên án, cô lập và chắc chắn sẽ không đạt được mục đích. Dẫn chứng: những dẫn chứng từ các tác phẩm văn chương và từ lịch sử, từ thực tế cuộc sống (những đội quân hùng mạnh của Tống, Nguyên, Minh, Thanh ... đã bất chấp công lí, nhân nghĩa đem quân xâm lược nước ta nhưng rồi phải chuốc lấy những thất bại thảm hại; sự kiện hành động vô lí của Trung Quốc hạ đặt giàn khoan HD981 trên thềm lục địa của Việt Nam đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế). + "Kẻ mạnh là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai mình" "Giúp đỡ" người khác xuất phát từ lòng nhân ái, vị tha, từ ước muốn chân thành, trong sáng không tư lợi, là hành động cao thượng, nhân văn đáng được ngợi ca, nể phục. Người thực hiện hành động đó sẽ được những người xung quanh và cộng đồng yêu mến, kính trọng, nể phục. Đó mới là hành động thể hiện sức mạnh chân chính của mỗi con người, mỗi quốc gia. Muốn trở thành kẻ mạnh chân chính, bên cạnh lòng nhân ái, vị tha, mỗi người cũng cần phải có quá trình nỗ lực, rèn luyện để có thực lực về thể lực, về vật chất, về tinh thần để có thể giúp đỡ người khác, tránh tình trạng "lực bất tòng tâm". Dẫn chứng: từ tác phẩm văn chương và lịch sử, thực tế cuộc sống. c. Bài học về nhận thức và hành động: hướng đến quan điểm sống nhân ái, vị tha, tôn trọng pháp luật, đạo lí, lẽ công bằng.
Câu 3: 1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm Hoàng Phủ Ngọc Tường là một gương mặt nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại, cũng là một trí thức yêu nước luôn tích cực tham gia các phong trào đấu tranh chống Mĩ- nguỵ ở miền Nam thời kì trước 1975. Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn có phong cách độc đáo và đặc biệt sở trường về thể bút kí, tuỳ bút. Nét đặc sắc trong sáng tác của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hóa, lịch sử, địa lí... Ai đã đặt tên cho dòng sông? là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách bút kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Qua tác phẩm dòng sông Hương hiện lên với vẻ đẹp đa chiều. Trích dẫn 2 ý kiến
2. Giải quyết vấn đề a. Giải thích qua hai ý kiến: Ý kiến 1: khẳng định vẻ đẹp của sông Hương trong “cảnh sắc thiên nhiên thơ mộng, tình tứ”, đó là vẻ đẹp từ góc nhìn địa lí. Ý kiến 2: khẳng định “vẻ đẹp bề sâu của sông Hương là những trầm tích văn hoá, lịch sử”, đó là vẻ đẹp gắn với con người qua các thời đại. Nhận xét: Cả hai ý kiến này đều đúng nhưng chưa đủ Hai ý kiến này bổ sung cho nhau tạo nên vẻ đẹp toàn vẹn của sông Hương trong cả sự khách quan của bức tranh thiên nhiên và sự chủ quan của cảm nhận con người, sông Hương vì thế vừa đẹp ở nét thơ mộng, trữ tình vừa đẹp ở chiều sâu của những trầm tích văn hoá, lịch sử.
b. Cảm nhận về hình tượng sông Hương Học sinh sẽ cảm nhận vẻ đẹp sông Hương qua hai bình diện: vẻ đẹp của sông Hương dưới góc nhìn địa lí và vẻ đẹp của sông Hương dưới góc nhìn của văn hoá, lịch sử * Sông Hương dưới góc nhìn địa lí: Dòng sông nơi thượng nguồn. Đoạn trích được mở đầu bằng một nhận xét mang đậm tính chủ quan về dòng sông Hương: Trong những dòng sông đẹp ở các nước mà tôi thường nghe nói đến, hình như chỉ sông Hương là thuộc về một thành phố duy nhất. Đặt dòng sông trong mối quan hệ với dãy Trường Sơn, nhà văn đã thể hiện cảm hứng khám phá, cắt nghĩa và lí giải cùng cái nhìn sâu sắc về cội nguồn.Và đó cũng là một cảm giác quen thuộc của tình yêu. Với trí tưởng tượng, niềm say mê và tình yêu mãnh liệt, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã miêu tả dòng sông Hương ở khúc thượng lưu trong những vẻ đẹp hoang dại đầy cá tính. => Những hình ảnh phong phú, ấn tượng, những liên tưởng tài hoa và thủ pháp nhân hoá đặc sắc đã làm hiện lên dòng sông Hương khúc thượng nguồn với vẻ đẹp của một sức sống mãnh liệt đầy cá tính, từ đó cho thấy cách cảm nhận và suy nghĩ có bề sâu trí tuệ của nhà văn. - Sông Hương về tới ngoại vi thành Huế Đoạn văn miêu tả đã cho thấy vẻ đẹp của sông Hương chính là sự hắt bóng kì diệu vẻ đẹp của quần thể thiên nhiên thơ mộng xứ Huế. Thiên nhiên Huế như nguồn phù sa tuyệt vời bồi đắp vẻ đẹp nên thơ cho dòng sông Hương- người con gái dịu dàng của mình. - Sông Hương khi về tới Huế - Dưới con mắt của hội họa, dòng sông hiện ra đẹp thơ mộng bởi những đường nét uốn lượn mềm mại và duyên dáng, những màu sắc hài hòa, bình dị. - Qua cách cảm nhận của âm nhạc, dòng sông Hương trong thành Huế đẹp và êm đềm như một điệu slow chậm rãi, sâu lắng, trữ tình. Những so sánh, nhân hóa đặc sắc, những liên tưởng mang đậm chất trữ tình khiến sông Hương hiện ra thuỷ chung và tình tứ giữa thành phố quê hương, vừa dịu dàng mềm mại như một bức tranh lụa huyền ảo, vừa tha thiết đắm say như một bản nhạc êm đềm. * Sông Hương trong mối quan hệ với lịch sử dân tộc Nhìn từ góc độ địa lí, sông Hương khúc thượng nguồn là bản trường ca của rừng già; về tới Huế, dòng sông mang âm hưởng của bản tình ca ngọt ngào, tình tứ, nhưng nếu đặt trong quan hệ với lịch sử dân tộc, sông Hương lại là bản anh hùng ca hào hùng bi tráng; là chứng nhân nhẫn nại và kiên cường của cuộc đời qua bao thăng trầm lịch sử. * Sông Hương trong mối quan hệ với với văn hóa, âm nhạc và thi ca. - Qua cách cảm nhận độc đáo và lãng mạn, nhà văn coi sông Hương là cội nguồn sinh thành và không gian tồn tại của nền âm nhạc cổ điển xứ Huế. - Nhà văn cho rằng có một dòng thi ca về sông Hương, một dòng thơ không bao giờ lặp lại mình, mỗi thi nhân tìm cho mình một cảm hứng mới mẻ, độc đáo riêng về dòng sông. Với cách nhìn độc đáo mang tính phát hiện, với vốn hiểu biết sâu rộng và những liên tưởng bất ngờ kì thú, nhà văn đã ca ngợi vẻ đẹp lãng mạn và hào hùng của sông Hương khi soi chiếu dòng sông trong các góc độ của lịch sử, văn hóa và thơ ca. c. Đánh giá, khái quát - Vẻ đẹp của sông Hương - Tài năng nghệ thuật của Hoàng Phủ Ngọc Tường - Bồi đắp tình yêu dòng sông quê hương => tình yêu quê hương, đất nước.
Lưu ý chung: Thí sinh có thể làm bài theo những cách khác nhau, nhưng phải đảm bảo những yêu cầu về kiến thức. Trên đây chỉ là những ý cơ bản thí sinh cần đáp ứng.
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
ĐỀ THI TỐT NGHIỆP MÔN VĂN 2014
|
|
|
|
Hướng dẫn, gợi ý giải môn Ngữ văn kì thi tốt nghiệp THPT 2014 I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) 1. Những ý chính của văn bản - Thông tin về vụ Trung Quốc hạ giàn khoan trái phép trên vùng biển của Việt Nam. - Tình cảm, thái độ và của người dân Việt Nam trong và ngoài nước trước vụ việc - Lời khuyên dành cho mọi người khi thể hiện tinh thần yêu nước với những hành động phù hợp. 2. Đoạn văn thuộc phong cách ngôn ngữ báo chí - Việc dùng các từ gạch chân để lên án hành động trái pháp luật, vi phạm chủ quyền lãnh thổ và luật biển năm 1982 của Trung Quốc đồng thời cũng thể hiện sự phẫn nộ của người viết. 3. Viết đoạn văn Học sinh cần thể hiện được một số ý chính sau đây: + Nêu được tính nóng hổi và nghiêm trọng của sự việc + Thể hiện thái độ của bản thân + Hành động sáng suốt tránh bị kẻ xấu lợi dụng…
II. LÀM VĂN (7,0 điểm) a. Giới thiệu tác giả, tác phẩm - Lưu Quang Vũ là nhà viết kịch nổi tiếng - Vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt là một trong những vở kịch nổi tiếng và thành công của ông - Đoạn trích: “…” thể hiện khát vọng của nhân vật Hồn Trương Ba được sống là chính mính
b. Phân tích - Giới thiệu qua về nhân vật Hồn Trương Ba - Vị trí của đoạn trích: ở phần sau của văn bản: cuộc đối thoại giữa nhân vật Hồn Trương Ba và Đế Thích * Khát vọng của nhân vật Hồn Trương Ba - Trước đó: bi kịch của nhân vật Hồn Trương Ba trong thân xác anh hàng thịt: + Sống bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo + Bị gia đình, người thân lạnh nhạt, không chấp nhận. Và cuối cùng sau nhiều ngày đấu tranh ông đã vươn lên để hoàn thiện mình và đã chiến thắng => cuộc nói chuyện với Đế Thích thể hiện khát vọng: “ Tôi muốn được là tôi toàn vẹn” => Thể hiện sự thay đổi trong nhận thức hết sức lớn lao của nhân vật Hồn Trương Ba để rồi sau đó, ông từ chối việc nhập vào xác cu Tị để được tiếp tục tồn tại.
c. Trình bày suy nghĩ của bản thân Lưu ý chung: Thí sinh có thể làm bài theo những cách khác nhau, nhưng phải đảm bảo những yêu cầu về
kiến thức. Trên đây chỉ là những ý cơ bản thí sinh cần đáp ứng.
Nguồn : Hocmai.vn
|
|
|
|
đặt câu hỏi
|
ĐỀ THI TỐT NGHIỆP MÔN VĂN 2014
|
|
|
|
I. Đọc Hiểu ($3,0$ điểm) Những ngày đầu tháng $5/2014$, Trung Quốc ngang nhiên xâm phạm và hạ đặt giàn khoan $HD 981$ trái phép ở vùng đặc quyền kinh tế và quyền tài phán của Việt Nam có những hành độg hung hăng cán phá lực lượng thực thi pháp luật Việt Nam,, vi phạm nghiệm trọng chủ quyền của Việt Nam theo Công ước Liên hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm $1982$. Trước tình hình đó, trái tim của hơn $90$ triệu người dân Viêt Nam ở trong nước, hơn $4$ triệu kiều bào Việt Nam ở nước ngoài nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hoà bình trên thế giới luôn nóng bỏng hướng về biển Đông, hướng về Hoàng Sa và Trường Sa, dõi theo từng tin tức được truyền đi từ hiện trường vụ việc. Những ngày qua, chúng ta đã lại một lần nữa chứng kiến tinh thần yêu nước trong mỗi một người dân Việt Nam, kiều bào ta ở nước ngoài, thể hiện sự đoàn kết trong quyết tâm bảo vệ vùng biển, đảo, chủ tuyền thiêng liêng của tổ quốc, lên án mạnh mẽ những hành động sai trái, phi lý của Trung Quốc. Tuy nhiên, trước tình hình hiện nay chúng ta phải bình tĩnh sáng suốt nhận định những sự kiện đang diễ ra trên biển Đông để có hành động phù hợp. (Bình tĩnh, sáng suốt thể hiện lòng yêu nước - Nguyễn Thế Hanh, Báo Giáo dục $\&$ Thời đại số $116$ ra ngày $15- 5- 2014$) Đọc văn bản trên và thực hiện các yêu cầu sau : $1.$ Nêu những ý chính của văn bản. $2.$ Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản. Việc dùng các từ được gạch dưới trong câu : " Những ngày đầu tháng $5/2014$, Trung Quốc ngang nhiên xâm phạm và hạ đặt giàn khoan $HD 981$ trái phép ở vùng đặc quyền kinh tế và quyền tài phán của Việt Nam có những hành động hung hăng cán phá lực lượng thực thi pháp luật Việt Nam,, vi phạm nghiệm trọng chủ quyền của Việt Nam theo Công ước Liên hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm $1982$." có hiệu quả diễn đạt như thế nào ? $3.$ Viết một đoạn văn ngắn bày tỏ thái độ của anh/ chị về sự kiện trên. II. LÀM VĂN ($7,0$ điểm) Trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ có đoạn : Hồn Trương Ba : Ông Đế Thích ạ, tôi không thể tiếp tục mang thân anh hàng thịt được nữa, không thể được ! Đế Thích : Sao thế ? có gì không ổn đâu ! Hồn Trương Ba : Không theer bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn. Đế Thích : Thê ông ngỡ tất cả mọi người đều được là mình toàn vẹn cả ư ? Ngay cả tôi đây. Ở bên ngoài tôi đâu có được sống theo những điều tôi nghĩ bên trong. Mà cả Ngọc Hoàng nữa, chính người lắm khi cũng phải khuôn ép mình cho xứng với danh vị Ngọc Hoàng. Dưới đất, trên trời đều thế cả, nữa là ông. Ông đã bị gạch tên ra khỏi sổ Nam Tào. Thân thể thật của ông đã tan rữa trong bùn đất, còn chút hình thù gì của ông đâu ! Hồn Trương Ba : Sống nhờ vào đồ đạc, của cải của người khác, đã là chuyện không nên đằng này đến cái thân tôi cũng phải sống nhờ anh hàng thịt. Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết ! (Ngữ văn $12$, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, $2013$, tr. $149$) Phân tích khát vọng của nhân vật Hồn Trương Ba trong đoạn trích trên. Từ đó, trình bày suy nghĩ của anh/ chị về vấn đề con người cần được sống là chính mình.
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Đề thi môn Ngữ văn Tốt nghiệp THPT 2009
|
|
|
|
I. Giới thiệu: tác giả, tác phẩm, vẻ đẹp hình tượng dòng sông qua bút pháp tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường. II. NỘI DUNG CHÍNH: (thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách, nhưng phải đảm bảo những ý chính sau đây) Tác
phẩm ca ngợi vẻ đẹp sông hương ở nhiều góc độ: từ thượng nguồn tới khi
qua kinh thành Huế; từ tự nhiên, lịch sử văn hoá, nghệ thuật. 1. Vẻ đẹp sông Hương ở thương nguồn: -
Ở đấy ta gặp một dòng sông đẹp, mạnh mẽ được ví như “cô gái Digan phóng
khoáng và man dại”, sông như bản trường ca; sông như cơn lốc, sông như
cô gái Di gan và nâng lên thành vẻ đẹp cao cả: “người mẹ phù sa” - Tác giả tăng vẻ đẹp cho dòng sông bằng nghệ thuật nhân hoá. 2. Vẻ đẹp sông Hương trước khi về kinh thành Huế: - Hương giang như “người gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hoá đầy hoa dại” - Dòng sông mềm như tấm lụa (hình dáng) - Sớm xanh, trưa vàng, chiều tím (màu sắc) - Trôi chậm như mặt hồ yên tĩnh (dòng chảy) Tất cả đều đó tạo nên một vẻ đẹp trầm mặc, như triết lí như cổ thi. Khi dòng sông chảy vào thành phố, tác giả đã có những phát hiện độc đáo về sông Hương. 3. Vẻ đẹp sông Hương chảy về đồng bằng và ngoại vi thành phố Nó mang vẻ đẹp như chiều sâu hồn người: Như
xa lâu ngày gặp lại cố nhân kinh thành thân yêu nên sông Hương “vui
tươi hẳn lên giữa những biền bãi xanh biếc của cùng ngoại ô Kim Long”. + Cảm xúc như trào dâng, dòng sông chợt mềm hẳn đi, say đắm lạ thường “như tiếng vâng không nói ra của tình yêu” + Dòng sông như lưu luyến lúc rời xa kinh thành, Nó tựa như một “nỗi vấn vương” và cả “một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu”. Lối
so sánh tài tình và nhân cách hoá độc đáo làm người đọc ngây ngất và
tâm hồn thăng hoa theo dòng sông đa tình như một khách hào hoa phong nhã
. 4. Vẻ đẹp khác của sông Hương: - Dòng chảy lịch sử. - Dòng chảy của văn hoá và thi ca. - Dòng sông đi vào đời thường “nó trở về với cuộc sống bình thường, làm một cô gái dịu dàng của đất nước”. III. Kết luận: -
Sông Hương được cảm nhận với nhiều góc độ, bằng bút pháp tài hoa và văn
phong mềm mại, tạo nên đường nét thật tinh tế làm nên vẻ đẹp cổ kính
của kinh thành. - Đó là những phát hiện thú vị của tác giả, giúp chúng ta thêm tự hào và yêu đất nước.
|
|
|
|
giải đáp
|
Giải giúp tớ đề này vớ cả nhà ơi!
|
|
|
|
I. Giới thiệu: tác giả, tác phẩm, vẻ đẹp hình tượng dòng sông qua bút pháp tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường. II. NỘI DUNG CHÍNH: (thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách, nhưng phải đảm bảo những ý chính sau đây) Tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp sông hương ở nhiều góc độ: từ thượng nguồn tới khi qua kinh thành Huế; từ tự nhiên, lịch sử văn hoá, nghệ thuật. 1. Vẻ đẹp sông Hương ở thương nguồn: - Ở đấy ta gặp một dòng sông đẹp, mạnh mẽ được ví như “cô gái Digan phóng khoáng và man dại”, sông như bản trường ca; sông như cơn lốc, sông như cô gái Di gan và nâng lên thành vẻ đẹp cao cả: “người mẹ phù sa” - Tác giả tăng vẻ đẹp cho dòng sông bằng nghệ thuật nhân hoá. 2. Vẻ đẹp sông Hương trước khi về kinh thành Huế: - Hương giang như “người gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hoá đầy hoa dại” - Dòng sông mềm như tấm lụa (hình dáng) - Sớm xanh, trưa vàng, chiều tím (màu sắc) - Trôi chậm như mặt hồ yên tĩnh (dòng chảy) Tất cả đều đó tạo nên một vẻ đẹp trầm mặc, như triết lí như cổ thi. Khi dòng sông chảy vào thành phố, tác giả đã có những phát hiện độc đáo về sông Hương. 3. Vẻ đẹp sông Hương chảy về đồng bằng và ngoại vi thành phố Nó mang vẻ đẹp như chiều sâu hồn người: Như xa lâu ngày gặp lại cố nhân kinh thành thân yêu nên sông Hương “vui tươi hẳn lên giữa những biền bãi xanh biếc của cùng ngoại ô Kim Long”. + Cảm xúc như trào dâng, dòng sông chợt mềm hẳn đi, say đắm lạ thường “như tiếng vâng không nói ra của tình yêu” + Dòng sông như lưu luyến lúc rời xa kinh thành, Nó tựa như một “nỗi vấn vương” và cả “một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu”. Lối so sánh tài tình và nhân cách hoá độc đáo làm người đọc ngây ngất và tâm hồn thăng hoa theo dòng sông đa tình như một khách hào hoa phong nhã . 4. Vẻ đẹp khác của sông Hương: - Dòng chảy lịch sử. - Dòng chảy của văn hoá và thi ca. - Dòng sông đi vào đời thường “nó trở về với cuộc sống bình thường, làm một cô gái dịu dàng của đất nước”. III. Kết luận: - Sông Hương được cảm nhận với nhiều góc độ, bằng bút pháp tài hoa và văn phong mềm mại, tạo nên đường nét thật tinh tế làm nên vẻ đẹp cổ kính của kinh thành. - Đó là những phát hiện thú vị của tác giả, giúp chúng ta thêm tự hào và yêu đất nước.
|
|
|
|
giải đáp
|
Đề nghị luận này nữa nhé!
|
|
|
|
Gợi ý
- Vai trò của sách trong thời đại thông tin
nghe – nhìn: khẳng định các phương tiện thông
tin nghe – nhìn đang phát triển ngày nay không
thể thay thế được hoàn toàn cho việc đọc sách.- Tác dụng của việc đọc sách:+ Cung cấp thông tin, tri thức mọi mặt.
+ Bồi dưỡng giáo dục, nâng cao khiếu thẩm mĩ.
+ Giáo dục đạo đức, tình cảm, hoàn thiện bản
thân.
+ Đọc sách là cái đích hướng đến của tất cả mọi
người trong khát vọng chinh phục tri thức.
|
|
|
|
giải đáp
|
Giải giúp tớ đề này vớ cả nhà ơi!
|
|
|
|
I .Mở bài Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trí thức yêu nước, có vốn hiểu biết sâu rộng trên nhiều hình vực. Ông chuyện về thể loại bút kí. Nét đặc sắc trong sáng tác của Hoàng Phủ Ngọc Tường là ở sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và tính trữ tình, giữa nghị luận sắc bén vời suy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức sâu rộng về triết học, văn hoá, lịch sử, địa lí , lối hành văn hướng nội súc tích, mê đắm và tài hoa. Ai đã đặt tên cho dòng sông? là bài bút kí xuất sắc, viết tại Huế 1981, in trong tập sách cùng tên của ông . Tác phẩm đã miêu tả cảnh quan thiên nhiên sông Hương, sự gắn bó của con sông với lịch sử và văn hoá của xứ Huế, của đất nước. Qua đó nhà văn bộc lộ Niềm tự hào tha thiết, sâu lắng dành cho dòng sông Hương, cho Xứ Huế thân yêu và cũng là cho đất nước. II . Thân bài Sông Hương nhìn từ cội nguồn là dòng chảy có mối quan hệ sâu sắc vời dãy Trường Sơn. Trong mối quan hệ đặc biệt này, sông Hương tựa như một bản trường ca của rừng già với nhiều tiết tấu hùng tráng, dữ dội: khi rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, lúc mãnh liệt vượt qua ghềnh thác, khi cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực sâu,, lúc dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng. Vời cái nhìn được nhân hoá, sông Hương tựa cô gái Di-gan phóng khoáng và man đại vời một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng. Theo tác giả, nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành mà không chú ý tìm hiểu sông Hương từ nguồn cội, người ta khó mà hiểu hết các vê đẹp trong phần tâm hồn sâu thẳm của dòng sông mà chính nó đã không muốn bộc lộ. Như vậy , ở thượng nguồn , sông Hương có thể chất mạnh, toát lên về đẹp của một sức sống mãnh liệt, hoang dại, đầy cá tính. Sông Hương khi chảy về kinh thành Huế lại mang nhiều vẻ đẹp đa dạng , gắn bó với đặc trưng văn hoá , không gian kinh thành Huế .Trước khi trở thành người tình dịu dàng và chung thuỷ của cố đô, sông Hương đã trải qua một hành trình đầy gian truân và nhiều thử thách. Trong cái nhìn tinh tế và lãng mạn của tác giả, toàn bộ thuỷ trình của dòng sông tựa như một cuộc tìm kiếm có ý thức người tình nhân đích thực của người con gái trong một câu chuyện tình yêu nhuốm màu cổ tích. Đoạn tả sông Hương chảy xuôi về đồng bằng và ngoại vi thành phố bộc lộ nét lịch lãm và tài hoa trong lối hành văn của tác giả. Độc giả khó cưỡng một sức hấp dẫn toát lên từ hàng loạt động từ diễn tả cái dòng chảy sống động qua những địa danh khác nhau của xứ Huế. Giữa cánh đồng Châu Hoá đầy hoa dại, sông Hương là “cô gái đẹp ngủ mơ màng”; nhưng ngay sau khi ra khỏi vùng núi, thì cũng như nàng tiên được đánh thức, sông Hương bỗng bừng lên sức trẻ và niềm khao khát của tuổi thanh xuân trong sự “chuyển dòng liên tục”, “rồi vòng những khúc quanh đột ngột”, vẽ một hình cung thật tròn, ôm lấy chân đồi Thiên Mụ, rồi “vượt Qua”, “đi giữa âm vang”, “trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách”… Vừa mạnh mê vừa dịu dàng, sông Hương có lúc “mềm như tấm lụa” khi qua Vọng Cảnh. Tam Thai, Lựu Bảo; có khi ánh lên “những phản quang nhiều màu sắc sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” lúc qua những dãy đồi núi phía tây nam thành phố và mang vẻ đẹp trầm mặc khi qua bao lăng tẩm, đền đài mang niềm kiêu hãnh âm u được phong kín trong những rừng thông u tịch cho đến lúc bừng sáng, tươi tắn và trẻ trung khi gặp “tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga tận bờ bên kia, giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà”… Hai bút pháp kể và tả được kết hợp nhuần nhuyễn và tài hoa trong.đoạn văn đã làm nổi bật một sông Hương đẹp bởi phối cảnh kì thú giữa nó với thiên nhiên xứ Huế phong phú mà hài hoà. Sông Hương khi chảy trong Huế , như đã tìm thấy chính mình khi gặp thành phố thân yêu, sông Hương “vui tươi hắn lên giữa những biến bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long”, dòng sông “kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng tây nam – đông bắc”, rồi “uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến Cồn Hến” khiến dòng sông mềm hẳn đi, như một tiếng “vâng” không nói là của tình yêu”. Nằm ngay giữa lòng thành phố yêu quý của mình, sông Hương cũng giống sông Xen của Pa-ri, sông Đa-nuýp của Bu-đa-pét,… nhưng trong cách biểu đạt tài hoa của tác giả, sông Hương được cảm nhận với nhiều góc độ: nhìn bằng con mắt của hội hoạ, sông Hương và những chi lưu của nó tạo những đường nét thật tinh tế làm nên về đẹp cổ kính của có đô; qua cách cảm nhận âm nhạc, sông Hương “đẹp như điệu Slow” chậm rãi, sâu lắng, trữ tình và, vời cái nhìn đắm say của một trái tim đa tình, sông Hương là người tình dịu dàng và chung thuỷ. Điều này được diễn tả trong một phát hiện thú vị của tác giả: “Rời khỏi kinh thành, sông Hương chếch về hương chính bắc, ôm lấy đảo Cồn Hến quanh năm mơ màng trong sương khói, đang xa dần thành phố để lưu luyến ra đi giữa màu xanh biếc của tre trúc và của những vườn cau vừng ngoại ô Vĩ Dạ. Và rồi, như sực nhờ lại một điều gì chưa kíp nói, nó đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông tây để gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bao Vinh xưa cổ”. Cũng theo tác giả khúc quanh thật bất ngờ đó, tựa như một “nỗi vương vấn”, và dường như còn có cả “một chút lẳng lơ kín đáo” của tình yêu… Sông Hương trong mối quan hệ với lịch sử dân tộc lại mang vẻ đẹp của một bản hùng ca ghi dấu những thế kỉ vinh quang từ thuở còn là một dòng sông biên thuỳ xa xôi của đất nước các vua Hùng, thủa nó mang tên là Linh Giang (dòng sông thiêng) trong sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi, là “dòng sông viễn châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của Tổ quốc Đại Việt qua những thế kỉ trung đại”, “nó vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ” vào thế kỉ mười tám; “nó sống hết lịch sử bi tráng của thế kỉ mười chín với máu của những cuộc khởi nghĩa”, nó chứng kiến thời đại mới với cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 và bao chiến công rung chuyển qua hai cuộc chiến tranh vệ quốc sau này… Sông Hương với cuộc đời và thi ca là một nhân chứng nhẫn nại và kiên cường qua những thăng trầm của cuộc đời. Tuy nhiên, điều làm nên về đẹp giản dị mà khác thường của dòng sông là ở chỗ: khi nghe lời gọi, nó biết cách tự hiến mình làm một chiến công, để rồi nó trở về với cuộc sống bình thường, làm một người con gái dịu dàng của đất nước. Có lẽ chính điều đó đã làm cho sông Hương không bao giờ tự lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ. Có thể nói, nét đặc sắc làm nên sức hấp dẫn đặc biệt của đoạn văn là tình yêu say đắm với dòng sông được thể hiện bằng tài năng của một cây bút giàu trí tuệ, tổng hợp từ một vốn hiểu biết sâu rộng về văn hoá, lịch sử, địa lí và văn chương cùng một văn phong tao nhã, hướng nội, tinh tế và tài hoa.
III. Kết bài Trích đoạn bài kí Ai đã đặt tên cho dòng sông đã gợi ra vẻ đẹp của Huế, của tâm hốn người Huế qua sự quan sát sắc sảo của HPNT về dòng sông Hương. HPNT xứng đáng là một thi sĩ của thiên nhiên, một cuốn từ điển sống về Huế, một cây bút giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Bài kí góp phần bồi dưỡng tình yêu, niềm tự hào đối với dòng sông và cũng là với quê hương đất nước.
|
|
|
|
giải đáp
|
Đề thi - Đáp án - đại học khối C năm 2013- môn Văn
|
|
|
|
Gợi ý đáp án: Câu 1: Hai đứa trẻ - Giới thiệu về Thạch Lam- tác phẩm Hai đứa trẻ - Nhân vật Liên với những ấn tượng về Hà Nội + Gắn với những kí ức về Hà Nội của gia đình: được ăn những thức quả ngon lạ, được đi chơi bờ hồ, uống những cốc nước xanh đỏ, Hà Nội nhiều đèn. + Hình ảnh đoàn tàu mang đến cho Liên không gian Hà Nội: Hà Nội xa xăm, sáng rực, vui vẻ và huyên náo. - Ý nghĩa của hình ảnh Hà Nội với đời sống tâm hồn Liên + Hà Nội gắn với những kí ức tuổi thơ Liên, hình ảnh tài đi qua đã gợi lại trong Liên những kí ức ấy, quá khứ với những kỉ niệm không thể nào quên của Liên và cả nhà. $\Rightarrow $ Hiện tại cuộc sống phố huyện buồn tẻ, quẩn quanh đối lập hoàn toàn với quá khứ rộn rã, vui vẻ khi gia đình còn sống ở Hà Nội $\Rightarrow $ Tâm hôn, tinh tế, nhạy cảm của Liên-ước mong trở về với quá khứ của một đứa trẻ.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1429
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
1. Hoàn cảnh ra đời bài thơ Việt Bắc a. "Việt Bắc" là tác phẩm xuất sắc của Tố Hữu nói riêng và thơ Việt Nam hiện địa nói chung. b. Bài thơ được sáng tác vào tháng 10 năm 1954. Đây là thời điểm các cơ quan của trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc trở về thủ đô Hà Nội, sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc vẻ vang với chiến thắng Điện Biên phủ và hòa bình lập lại ở miền Bắc. c. Nhân sự kiện lịch sử có ý nghĩa này, Tố Hữu viết bài thơ để ôn lại một thời kháng chiến gian khổ mà hào hùng, thể hiện nghĩa tình sâu nặng của những người con kháng chiến đối với nhân dân Việt Bắc, với quê hương cách mạng. 2. Những đặc sắc nghệ thuật của bài thơ Việt Bắc Bài thơ "Việt Bắc" (đoạn trích được học) có nghệ thuật đậm đà tính dân tộc. a. Thể thơ quen thuộc của dân tộc đã được sử dụng thành công. b. Kết cấu đối đáp thường thấy trong ca dao, dân ca truyền thống được dùng một cách sáng tạo để diễn tả nội dung, tình cảm phong phú về quê hương, con người, tổ quốc và cách mạng. c. Các đại từ nhân xưng "Mình - ta" với sự biến hóa linh hoạt và những sắc thái ngữ nghĩa - biểu cảm phong phú vốn có của nó được khai thác rất hiệu quả. d. Những biện pháp tu từ (so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, tượng trưng . . .) quen thuộc với cách cảm, cách nghĩ của quần chúng được dùng nhuần nhuyễn.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1428
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
I. Giới thiệu vài nét về bài thơ, đoạn thơ 1. Bài thơ ra đời ở một thời điểm đặc biệt: tháng 10 năm 1954, khi trưng ương Đảng, Chính phủ, Bác Hồ và cán bộ chiến giã từ Việt Bắc về với Thủ đô Hà Nội, bài thơ "Việt Bắc" trở thành bản anh hùng ca, bản tình ca về "Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng" của cách mạng và cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong từng chặng đường phát triển của Cách mạng và cuộc kháng chiến, Tố Hữu đã viết nên nhiều đoạn thơ hùng tráng mang đậm chất sử thi, cảm hứng lãng mạn. 2. Đoạn thơ này nằm ở phần gần cuối của đoạn trích trong sách giáo khoa lớp 12. Ý bao trùm cả đoạn thơ là cảm hứng hào hùng về đất nước và con người Việt Nam ra trận vơi skhí thế và sức mạnh vô địch của cuộc chiến tranh nhân dân vĩ địa. II: Phân tích, bình giảng đoạn thơ 1. Niềm tự hào về không khí hùng tráng của cả nước đang ra trận Bức tranh là cả một đất nước đang ra trận thể hiện qua hình ảnh những nẻo đường trên chiến khu Việt Bắc.Cảm hứng về sức mạnh tấn công được thể hiện qua nhón từ "Những đường Việt Bắc" và cảm hứng làm chủ được xác định bằng từ "của ta"; không khí sôi động qua từ láy "rầm rập" và biện pháp so sánh cho phần cường điệu: "Như là đất rung". 1. Cảm hứng hào hùng về sức manh vô địch của khối đoàn kết toàn dân trong kháng chiến. - Hình ảnh về sự trưởng thành lớn mạnh, về lực lượng hùng hậu của quân đội ta trong kháng chiến. Chú ý phân tích từ láy "điệp điệp trùng trùng". Nó gợi cho người đọc đoàn quân ra trận nối dài vô tận và hùng vĩ như thiên nhiên sống núi. Hình ảnh đầu súng nhấp nhô, lấp lánh sao trời,"bạn cùng mũ nan" rất giàu màu sắc tạo hình, vừa có ý nghĩa cụ thể, vừa có tính chất tượng trưng . .. - Hình ảnh những đàon dân công ngày đêm bền bỉ tiếp lương, tải đạn ra chiến trường cũng tràn ngập niềm vui như quang cảnh một đêm hội hoa đăng "Dân công đỏ đuộc từng đoàn", "Bước chân nát đá", cái khí phách này chỉ tìm thấy trong các truyện thần thoại như Thánh Gióng, Sơn Tinh, Thủy Tinh . . . Với một đoạn thơ ngắn mà tác giả đã dùng hàng loạt điệp từ, từ láy gợi nên những hình ảnh, âm thanh đầy ấn tượng, khiến cho độc giả chúng ta như tận mắt trông thấy được khí thế hành quân hối hả, không ngừng của những đoàn người tiến ra mặt trận. Đặc biệt, nhịp thơ 2/2 như những bước chân mạnh mẽ oai hùng của cả một dân tộc đang tiến công với sức mạnh, khí thế như "trúc chẻ tro bay". 3. Cảm hứng tự hào về tương lai tất thắng của cuộc kháng chiến trường kì gian khổ. Chú ý cách xây dựng hình ảnh đối lập (giữa "Nghìn đêm thăm thẳm sương dày" với "Đèn pha bật sáng như ngày mai lên") đã làm nổi bật được sự trưởng thành vượt bậc của quân ta và niềm tin tất thắng của những người ra trận hôm nay. 4. Về nghệ thuật đặc sắc của đoạn thơ: Ngoài những điều đã phân tích ở trên chúng ta thấy nét độc đáo về nghệ thuật của đoạn thơ còn được thể hiện ở sự quan sát đi từ cái chung, cái khái quát đến cái cụ thể, bằng các giác quan: thính giác, thị giác. III Kết luận Đoạn thơ là bức tranh hoành tráng về khí thế của một dân tộc anh hùng, về sức mạnh vô xong của cuộc chiến tranh nhân dân vĩ đại. Trong cảm hứng hào hùng, Tố Hữu đã tái hiện lại thành công một thời kìđáng ghi nhớ của lịch sử dân tộc.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1427
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
Những ý chính cần có: 1. Cách phân tích - bình giảng đoạn thơ Đối với cấu trúc cụ thể của đoạn thơ này, chúng ta có thể làm theo hai cách: Bình giảng vẻ đẹp riêng của bức tranh thiên nhiên Việt Bắc và vẻ đẹp của con người với công việc của họ; hoặc bình giảng từng cặp lục bát. Dù làm theo cách nào thì bài làm cũng phải nêu bật được nội dung cảm xúc và thành công nghệ thuật, những nét đặc sắc trong cấu trúc, cách dùng từ, tiết tấu, nhịp điệu . . . của tác giả. Ở đây chúng ta bình giảng theo cách thứ hai. II Giới thiệu khái quát bài thơ Việt Bắc và vị trí của đoạn trích - Bài thơ "Việt Bắc" được sáng tác vào tháng 10 năm 1954, khi Trung ương Đảng, Chính phủ, Bác Hồ và cán bộ kháng chiến giã từ chiến khu Việt Bắc về thủ đô Hà Nội. - Thông qua cuộc đối đáp có tính chất tưởng tượng giữa đồng bào Việt Bắc và người cán bộ kháng chiến về xuôi, mà thực chất là lời độc thoại nội tâm của chính tác giả như thể người yêu đưa tiễn người yêu đầy lưu luyến, vấn vương, Tố Hữu đã tái hiện lại được bức tranh kháng chiến và tình cảm gắn bó ân tình giữa miền ngược với miền xuôi, giữa nhân dân với cách mạng. - Đoạn thơ bình giảng nằm ở phần một bài thơ, là lời người ra đi nói với người ở lại về tấm lòng mình với cảnh và người Việt Bắc. Đoạn thơ đã kết tinh được những nét đặc sắc của bài thơ và phong cách nghệ thuậ thơ Tố Hữu. III Bình giảng đoạn thơ 1. Bình giảng hai câu đầu - Thể hiện khái quát nội dung cảm xúc của cả đoạn thơ: nhớ cảnh đi liền với nhớ người (Hoa tượng trưng cho vẻ đẹp thiên nhiên Việt Bắc). - Câu thơ là câu hỏi nhưng đồng thời cũng là lời đối thoại. Hỏi đã trở thành cái cớ để bày tỏ tâm trạng, nỗi niềm. - Chính nỗi nhớ "Những hoa cùng người" đã chi phối cấu trúc đoạn thơ còn lại: 8 câu thành 4 cặp lục bát cân đối hài hòa. Cứ một câu sáu tả hoa, tả cảnh, thì lại xem vào 1 câu 8 tả người. Cảnh hiện lên với những vẻ đẹp đa dạng trong không gian, thời gian, thay đổi tạo thành một bộ tứ bình đặc sắc: Xuân, hạ thu, đông. Mỗi mùa có những đường nét, màu sắc, âm thanh, ánh sáng chủ đạo, tất cả thấm đậm trong tình cảm nhớ thương tha thiết của tác giả. Con người qua ngòi bút của Tố Hữu trở nên bình dị, giàu lòng thủy chung, ân tình với cách mạng, với kháng chiến; vẻ đẹp của cảnh hòa quyện với vẻ đẹp của người làm và cùng tôn nhau lên: Việt Bắc đâu cũng có cảnh đẹp, đâu cũng có con người ân tình, chăm chỉ. 2. Bình giảng 8 câu thơ còn lại: Câu 3,4: Đông về với màu xanh trầm mặc bát ngát bao la của rừng, có điểm những bông chuối đỏ tươi như son, tạo thành một bức tranh với đường nét, màu sắc vừa đối lập, vừa hài hòa, vừa cổ điển, vừa hiện đại. - Gam màu "đỏ tươi" của hao chuối là gam màu ấm nóng và tiềm ẩn một sức sống bên trong dường như để làm vơi đi hoang sơ, hiu hắt, lạnh giá vốn có của núi rừng. - Con người: trước thiên nhiên bao la dường như trở nên vững chãi, tự tin hơn, bởi cái tư thế làm chủ đầy kiêu hãnh của họ trong cuộc sống lao động: lên núi làm nương, sản xuất ra nhiều lúa, ngô phục vụ cho kháng chiến. Con người ở đây xuất hiện trong một vị trí, tư thế đẹp nhất. Câu 5,6: Đông qua xuân lại về. Bao trùm lên cảnh vật là màu trắng dịu dàng, trong trẻo, tinh khiết của hoa mơ nở khắp rừng "mơ nở trắng rừng". Chú ý từ "trắng" được tác giả sử dụng như một động từ gợi cho người đọc cảm giác màu trắng ấy đã làm bừg sáng cả khu rừng (có thể liên hệ thêm câu thơ Tố Hữu viết sau này: "Trắng rừng biên giới nở hoa mơ"). - Hình ảnh con người với công việc của mùa xuân: "Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang". Hình ảnh thơ đã nói lên được bàn tay khéo léo, tài hoa, nhanh nhẹn, chăm chút và phẩm chất tần tảo cần cù của con gnười Việt Bắc. Câu 7,8: Bức tranh mùa hè với màu sắc rực rỡ, âm thanh rộn rã: "Ve kêu rừng phách đổ vàng". Chú ý phân tích bình giá ý nghĩa thẩm mĩ của từ ''đổ vàng". Chỉ trong một câu thơ mà ta như thấy được cả thời gian luân chuyển sống động: tiếng ve kêu báo hiệu mùa hè đến và cây phách ngả sang màu vàng rực rỡ. Đây chính là biểu hiện đặc sắc của tính dân tộc trong thơ Tố Hữu. - Hình ảnh con người: "Nhớ cô em gái hái măng một mình". Nhờ cách xưng hô gần gũi, thân thương của tác giả mà hình ảnh cô gái hái măng hiện ra thật đẹp và đáng yêu. Đó là hình ảnh cô gái mang vẻ đẹp ở nét chịu thương chịu khó và rất can đảm. Đằng sau hình ảnh đó, ẩn chứa biết bao tình yêu thương, trân trọng, cảm phục của tác giả. Câu 9,10: Thu sang, khung cảnh núi rừn chiến khu như được tắm trong ánh trăng xanh huyền ảo "Rừng thu trăng rọi hòa bình". Ánh trăng chiếu sáng không khí thanh bình nơi chiến khu gợi cảm giác về cuộc sống yên ấm, hạnh phúc, tươi vui. Ai đã từng trải qua những tháng ngày mưa bom " máu trộn bùn non", "sống chết từng giây mưa bom bao đạn" mới thấm thía hết sự xúc động của lòng người trong những đêm trăng hòa bình đó. Vì vậy, tác giả tả cảnh trăng rừng mà vẫn gợi được không khí rạo rực đắm say, bởi giữa ánh trăng rừng đó đã vang lên tiếng hát mang đậm ân tình chung thủy của người dân Việt Bắc, những người đã hi sinh tất cả cho kháng chiến, cách mạng để "Chín năm làm một Điện Biên; Nên vành hoa đỏ lên thiên sử vàng". Vì thế, những con người ấy đã trở thành điểm sáng ngời nhất của bức tranh chiến khu Việt Bắc. 3. Tiểu kết: - Đây là đoạn thơ tiêu biểu nhất cho nội dung và nghệ thuật của bài " Việt Bắc" - Những câu thơ lục bát đậm đà âm hưởng ca dao, có nhạc điệu dịu dàng, trầm bổng mang cảm xúc êm ái như một khúc hát ru kỉ niệm. - Cách xưng hô "mình - ta", một lối xưng hô truyền thống, đậm đà tình nghĩa, đặc biệt là điệp từ "nhớ" có tác dụng khắc sâu và cụ thể hóa tâm tình của người ra đi với cảnh và người Việt Bắc.
|
|