|
|
giải đáp
|
Bài 1015
|
|
|
|
PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH ($5,0$ điểm) Câu I ($2,0$ điểm) Sự đa dạng mà thống nhất của phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh. $1.$ Sự đa dạng ($1,5$ điểm) Chú ý thể hiện ở sự đa dạng về thể loại, bút pháp và giọng văn - Văn chính luận : lí lẽ sắc bén, lập luận chặt chẽ, đanh thép, giọng điệu đa dạng; giàu tính luận chiến. -
Truyện và kí : Kết hợp linh hoạt cách viết hiện đại với cách kể truyền
thống; lối trào phùng giàu chất trí tuệ, giọng văn khi nghiêm trang khi
hài hước. - Thơ ca : thơ tuyên truyền giản dị, mộc mạc; nghệt thuật thơ thâm trầm, sâu sắc, vừa cổ điển, vừa hiện đại
$2.$ Sự thống nhất ($0,5$ điểm)
Chủ yếu thể hiện ở sự nhất quán về quan điểm sáng tác và tư tưởng, tình
cảm, nhất quán về nghệ thuật: cách viết thường ngắn gọn, trong sáng
giản dị, thường vận dụng linh hoạt nhiều thủ pháp và bút pháp khác nhau.
Câu $2$ ($3,0$ điểm) Tinh thần trách nhiệm và thói vô trách nhiệm của con người trong cuộc sống. $1.$ Giải thích ý kiến ($0,5$ điểm) -
Về nội dung, ý kiến này đề cập đến mối nguy hại ngấm ngần rất cần cảnh
giác của thói vô trách nhiệm; nó xuất phát từ mỗi cá nhân nhưng lại gây
ra hậu quả to lớn đối với toàn xã hội. - Về thực chất, ý kiến này là
sự cảnh báo về một vấn nạn đạo đức mang tính thời sự: thói vô trách
nhiệm và hậu quả khôn lường của nó
$2.$ Luận bàn về tinh thần trách nhiệm và thói quen vô trách nhiệm của con người ($2$ điểm) * Tinh thần trách nhiệm ($1$ điểm) -
tinh thần trách nhiệm là ý thức và nỗ lực nhằm hoàn thành tốt những
phận sự của mình. Nó được thể hiện cụ thể, sống động trong ba mối quan
hệ cơ bản giữa cá nhân với gia đình, cá nhân với toàn xã hội và cá nhân
với bản thân mình. - Tinh thần trách nhiệm là một phẩm chất cao đẹp,
một thước đo giá trị con người, là cơ sở để xây dựng hạnh phúc của mỗi
gia đình; đồng thời tinh thần trách nghiệm cũng góp phần quan trọng tạo
nên quan hệ xã hội tốt đẹp, thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
* Thói vô trách nhiệm ($1,0$ điểm) -
Thói vô trách nhiệm là một biểu hiện của lối sống phi đạo đức, thể hiện
ở ý thức và hành động không làm tròn phận sự của mình đối với xã hội,
gia đình và bản thân, gây nên những hậu quả tiêu cực. Hiện nay, do nhiều
nguyên nhân khác nhau, lối sống ấy đang khá phổ biến, trở thành một vấn
nạn trong xã hội. - Tác hại của thói vô trách nhiệm : làm băng hoại
đạo đức của con người, gây tổn hại hạnh phúc gia đình; gây tổn thất cho
cộng đồng, kìm hãm sự phát triển và tiến bộ xã hội.
$3.$ Bài học nhận thức và hành động ($0,5$ điểm) -
Bản thân cần nhận thức sâu sắc tinh thần trách nhiệm là thước đo phẩm
giá con người, không ngừng nâng cao ý thức trách nhiệm của mình trong
mọi lĩnh vực đời sống. - Cần ý thức rõ tác hại và thái độ kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện của thói vô trách nhiệm trong xã hội.
Câu $3.$a Cảm nhận về đoạn thơ trong "Đây thôn Vĩ Dạ- Hàn Mặc Tử" và "Tràng Giang- Huy Cận". $1.$ Vài nét về tác giả, tác phẩm ($0,5$ điểm) -
Hàn Mặc Tử là nhà thơ lớn của phong trào thơ mới, cuộc đời bi thương,
hồn thơ phong phú, kì lạ, sức sáng tạo mạnh mẽ, luôn bộc lộ một tình yêu
đau đớn hướng về trần thế. Đây Thôn Vĩ Dạ là thi phẩm xuất sắc thể hiện
tấm lòng thiết tha đến khắc khoải của nhà thơ với thiên nhiên và cuộc
sống. - Huy Cận là nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ mới và sau
cách mạng tháng tám, hồn thơ đậm chất cổ điển, giàu suy tưởng, triết lí,
nổi bật về cảm hứng thiên nhiên, tạo vật. Tràng giang, là một bài thơ
xuất sắc thể hiện nỗi buồn sầu trước tạo vật mênh mông, hoang vắng, đồng
thời bày tỏ một lòng yêu nước kín đáo.
$2.$ Về đoạn thơ trong bài Đây Thôn Vĩ Dạ ($2.$ điểm) - Nội Dung ($1$ điểm) +
Khung cảnh thiên nhiên trời mây- sông nước đang chuyển mình vào đêm
trăng với những chia lìa, phiêu tán, chơ vơ, đượm vẻ huyền ảo và buồn
hiu hắt. + Hiện lên một cái tôi đang khát khao vượt thoát khỏi nỗi cô đơn, với niềm mong mỏi đầy phấp phỏng được gặp gỡ, chia sẻ, gắn bó.
- Nghệ thuật ($1$ điểm) + Hình ảnh thơ vừa thực vừa ảo, có tính tượng trưng, giàu sức gợi. +
Phối hợp tả cảnh ngụ tình với trực tiếp biểu cảm; kết hợp biến đổi nhịp
điệu với biện pháp trùng điệp, dùng cấu trúc đối lập, phép nhân hóa,
câu hỏi tu từ.
$3.$ Về đoạn thơ trong bài "Tràng Giang" ($2$ điểm) - Nội dung ($1$ điểm) + Bức tranh tràng giang vào lúc hoàng hôn tráng lệ mà rợn ngợp, với mây chiều chất ngất hùng vĩ, chim chiều nhỏ bé đơn côi. +
Hiện lên một cái tôi trong tâm trạng bơ vơ, lạc lõng của kẻ lữ thứ,
chẳng cần cơn cớ trực tiếp mà mong ước đoàn tụ vẫn cứ dậy lên như sóng
trong lòng.
- Nghệ thuật ($1$ điểm) + Hình ảnh, ngôn từ, âm hưởng đậm chất cổ điển Đường thi. + Kết hợp thủ pháp đối lập truyền thống với phép đảo ngữ hiện đại, bút pháp cảnh giàu tính tạo hình.
$4.$ Về sự tương đồng và khác biệt giữa hai đoạn thơ ($0,5$ điểm) -
Tương Đồng : cùng miêu tả bức tranh thiên nhiên trời- nước, qua đó bộc
lộ nỗi buồn và tình yêu đối với tạo vật và cuộc sống, sử dụng thể thơ
thất ngôn điêu luyện, kết hợp tả cảnh ngụ tình với trực tiếp biểu cảm. - Khác biệt : đoạn thơ trong Đây Thôn Vĩ Dạ là một nỗi buồn của một người khát khao sống, thiết tha gắn bó với cõi đời nhưng tự cảm thấy mong manh, vô vọng; trội về những thi liệu trực quan từ trải nghiệm của chính mình. Đoạn thơ trong "Tràng Giang" : bộc lộ nỗi buồn rợn ngợp trước tạo vật mênh mông, hoang vắng, cùng mặc cảm lạc loài của người đứng trên quê hương mà thấy thiếu quê hương, trội về những thi liệu cổ điển hấp thu từ Đường thi.
Câu $3$.b Cảm nhận hai đoạn văn trong Người lái đó sông Đà- Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng sông ?- Hoàng Phủ Ngọc Tường. $1.$ Vài nét về tác giả, tác phẩm ($0,5$ điểm) - Nguyễn Tuân là một nghệ sĩ lớn, với phong cách nghệ thuật độc đáo, nổi bật là nét tài hoa, uyên bác, đặc biệt sở trường về tùy bút. Người lái đò sông Đà là một tùy bút đặc sắc, kết tinh nhiều mặt của phong cách Nguyễn Tuân, viết về vẻ đẹp tiềm năng của thiên nhiên và con người Tây Bắc. - Hoàng Phủ Ngọc Tường là một nghệ sĩ tài hoa, mang đậm chất Huế, có nhiều thành tựu về thể kí. Ai đã đặt tên cho dòng sông? là một tùy bút giàu chất trữ tình viết về vẻ đẹp sông Hương về bề dày lịch sử và văn hóa Huế, rất tiêu biểu cho phong cách của ông.
$2.$ Về đoạn văn trong tác phẩm Người lái đò sông Đà ($2,0$ điểm ) - Nội dung ($1,0$ điểm) + Đoạn văn tập trung miêu tả vẻ đẹp đầy chất tạo hình của sông Đà với hình dáng thơ mộng, đường nét mềm mại, ẩn hiện; màu sắc dòng nước biến đổi tương phản theo mùa, gây ấn tượng mạnh. + hiện tượng một cái tôi Nguyễn Tuân say đắm, nồng nhiệt với cảnh sắc thiên nhiên, tinh tế và độc đáo trong cảm nhận cái đẹp.
- Nghệ thuật ($1$ điểm) + hình ảnh, ngôn từ mới lạ, câu văn căng tràn, trùng điệp mà vẫn nhịp nhàng về âm thanh và nhịp điệu. + Cách so sánh, nhân hóa táo bạo mà kì thú; lối tạo hình giàu tính mĩ thuật phối hợp nhiều góc nhìn theo kiểu điện ảnh.
$3.$ Về đoạn văn trong tac phẩm "Ai đã đặt tên cho dòng sông?" ($2$ điểm) - Nội dung ($1$ điểm) + Đoạn văn miêu tả vẻ đẹp sông Hương theo quy trình của nó, với những vẻ uyển chuyển, linh hoạt của dòng chảy, vẻ biến ảo của màu sắc, vẻ uy nghi trầm mặc của cảnh quan đôi bờ. + Toát lên một tình yêu xứ sở sâu nặng, đằm thắm, một cách cảm nhận bình dị mà tinh thế của Hoàng Phủ Ngọc Tường
- Nghệ thuật ($1$ điểm) + Hình ảnh chân thực mà gợi cảm, câu văn kéo dài mà khúc triết, thanh điệu hài hòa, tiết tấu nhịp nhàng. + Lối so sánh gần gũi và xác thực, sử dụng nhuần nhuyễn các địa danh và cách nói của người Huế.
$4.$ Về sự tương đồng và khác biệt giữa hai đoạn văn ($0,5$ điểm) - Tương đồng : Cùng miêu tả vẻ đẹp phong phú, và biển ảo của sông nước, cùng bộc lộ tình yêu mãnh liệt dành cho thiên nhiên xứ sở với một mĩ cảm tinh tế, dồi dào; cùng bao quát sông nước trên nền cảnh khoáng đạt của không gian và thời gian, cùng được viết bằng một thứ văn xuôi đậm chất trữ tình, giàu hình ảnh, âm thanh và nhịp điệu. -
Khác biệt : đoạn văn của Nguyễn Tuân : trội về cảm xúc nồng nàn, cảm
giác sắc cạnh, liên tưởng phóng túng, so sánh táo bạo, cảnh sắc được bao
quát từ nhiều góc nhìn khác nhau, theo nhiều mùa trong năm. Đoạn văn
của Hoàng Phủ Ngọc Tường: trội về cảm xúc sâu lắng, cảm giác gắn với suy
tư; cảnh sắc được bao quát từ cùng một góc nhìn mà nương theo thủy
trình để nắm bắt sự biến đổi của sông nước qua từng chặng, từng buổi
trong ngày.
Lưu ý chung : Thí sinh có thể làm bài
theo cách khác nhau, nhưng phải đảm bảo những yêu cầu về kiến thức. Trên
đây chỉ là những ý cơ bản thí sinh cần đáp ứng; việc cho điểm cụ thể
từng câu cần dựa vào bản hướng dẫn chấm kèm theo.
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1014
|
|
|
|
PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH ($5,0$ điểm) Câu I ($2,0$ điểm) Nguyên nhân nào dẫn đến cái chết bất ngờ của nhân vật Trương Ba? Hồn Trương Ba đã quyết định về sự sống, chết của chính mình như thế nào? Nêu ngắn gọn ý nghĩa nội dung lời thoại của nhân vật Hồn Trương Ba: "Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn".
$1.$ Nguyên nhân dẫn đến cái chết bất ngờ của Trương Ba ($0,5$ điểm) Do sự nhầm lẫn, tắc trách của quan Thiên đình. (Nếu gọi tên nhân vật quan Thiên Đình là Nam Tào, hoặc Nam Tào, Bắc Đẩu đều được chấp nhận)
$2.$ Hồn Trương Ba đã tự quyết định về sự sống, chết của chính mình ($0,5$ điểm) - Hồn Trương Ba quyết định trả xác cho anh hàng thịt, từ chối nhập hồn vào xác cu Tị và xin cho cậu bé được sống lại. - Với bản thân, Hồn Trương Ba quyết định chết hẳn.
$3.$ Ý nghĩa của lời thoại ($1,0$ điểm) - Thể hiện khát vọng được sống là chính mình, không thể sống giả dối. ($0,5$ điểm) - Sự sống chỉ thật sự có ý nghĩa khi con người được sống trong sự hài hòa tự nhiên giữa thể xác và tâm hồn. ($0,5$ điểm) (Ở ý này, nếu thí sinh giải thích bằng một số ý nghĩa khác mà hợp lí, thuyết phục thì vẫn được $0,5$ điểm)
Câu $2$ ($3,0$ điểm) Trình bày suy nghĩ về ý kiến : Khi thói ích kỉ trở thành lối sống của con người thì tinh thần hi sinh vì cộng đồng, tình thương yêu đồng loại, sự sẻ chia với mọi người chỉ còn là những giá trị lạc lõng.
$1.$ Giải thích ý kiến ($0,5$ điểm) - Với người có lối sống ích kỉ thì những chuẩn mực đạo đức xã hội (tinh thần hi sinh, lòng nhân ái....) chỉ là những giá trị xa lạ hoặc không có ý nghĩa gì. Thực chất câu nói nhằm nêu lên những tác hại của lối sống ích kỉ và cảnh báo về một hiện tượng đời sống : thói ích kỉ đang trở thành lối sống của khá nhiều người trong xã hội.
$2.$ Bàn luận về lối sống ích kỉ ($2,0$ điểm) - Ích kỉ là chỉ biết vì lợi ích riêng của mình. Người sống ích kỉ luôn nghĩ về bản thân, lấy lợi ích cá nhân làm thước đo mọi giá trị, bất chấp quyền lợi của người khác. ($0,5$ điểm) - Khi thói ích kỉ trở thành lối sống của con người thì sẽ dẫn đến sự tha hóa về nhân cách. Khi lối sống ích kỉ trở nên phổ biến trong đời sống thì những giá trị đạo đức truyền thống sẽ trở nên xa lạ, lạc lõng. ($0,5$ điểm) - Người có lối sống ích kỉ thường xem nhẹ trách nhiệm của mình đối với xã hội, thờ ơ trước niềm vui, nỗi buồn của những người xung quanh, đồng thời, họ cũng không coi trọng tinh thần hi sinh vì cộng đồng, tình thương yêu đồng loại, sự sẻ chia của người khác. ($0,5$ điểm) - Lối sống ích kỉ đang tồn tại trong một bộ phận của đời sống xã hội và đôi khi được che đậy bằng nhiều hình thức bóng bẩy, giả tạo. Khi con người không dám đấu tranh với nó nghĩa là đang dung túng, tạo môi trưởng và điều kiện cho lối sống đó lên ngôi. ($0,5$ điểm)
$3.$ Bài học nhận thức và hành động ($0,5$ điểm) - Cần lên án và đấu tranh chống lại lối sống ích kỉ. - Phải biết sống vị tha, có tinh thần trách nhiệm, kết hợp hài hòa giữa quyền lợi cá nhân và lợi ích cộng đồng.
PHẦN RIÊNG ($5,0$ điểm) Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (câu III.a hoặc III.b) Câu III.a Theo chương trình chuẩn ($5,0$ điểm) Phân tích hình tượng rừng xà nu trong đoạn trích
$1.$ Vài nét về tác giả, tác phẩm ($0,5$ điểm) - Nguyễn Trung Thành là nhà văn trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến, gắn bó mật thiết với vùng đất Tây Nguyên. - Rừng Xà Nu $(1965)$ là tác phẩm văn xuôi tiêu biểu cho những sáng tác thời kì chống Mĩ cứu nước của tác giả.
$2.$ Hình tượng rừng xà nu ($4,0$ điểm) a. Về nội dung ($3,0$ điểm) - Rừng xà nu tiêu biểu cho vẻ đẹp của núi rừng Tây Nguyên (qua dáng vóc, hình khối, màu sắc, hương thơm....) ($0,5$ điểm) - Hình ảnh cánh rừng xà nu bị tàn phá là biểu tượng cho nỗi đau thương, mất mát của người dân Tây Nguyên trong chiến tranh. + Rừng xà nu là đối tượng của sự hủy diệt, mọi sự sinh tồn đang đứng trước mỗi đe dọa của diệt vong (Làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc; hầu hết đạn đại bác đều rơi vào ngọn đồi xà nu) ($0,5$ điểm). + Nỗi đau thương hiện ra trong nhiều vẻ : có cái xót xa của những cây con (nhựa còn trong, chất dầu còn loãng....), có cái đau dữ dội trên những thân cây đang trưởng thành (hàng vạn cây không có cây nào không bị thương....) ($0,5$ điểm) - Rừng Xà Nu mang sức sống mãnh liệt tượng trưng cho tinh thần kiên cường bất khuất của con người Tây Nguyên. + Là loại cây khao khát sống, khao khát tự do, luôn vươn kên cao để tiếp nhận ánh sáng mặt trời (phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh sáng). ($0,5$ điểm) + Rừng xà nu bất khuất trước bom đạn: các thế hệ cây xà nu vẫn cường tráng vươn lên mạnh mẽ, nối tiếp nhau thách thức kẻ thù (cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời, ưỡn tâm ngực lớn che chở cho làng; những đồi xà nu nối tiếp tới chân trời....) ($1,0$ điểm)
b. Nghệ thuật ($1,0$ điểm) - Các biện pháp tu từ nhân hóa, so sánh, ẩn dụ. - Lời văn giàu sức tạo hình, giàu nhạc điệu. - Sự hài hòa về màu sắc, đường nét, hình khối trong bút pháp miêu tả hình tượng góp phần làm cho đoạn văn mang âm hưởng sử thi.
$3.$ Đánh giá chung ($0,5$ điểm) - Hình tượng rừng xà nu nổi bật trong đoạn trích và xuyên suốt tác phẩm, tạo nên một không gian nghệ thuật đặc sắc, vừa bi tráng vừa giàu chất thơ. - Đoạn trích tiêu biểu cho phong cách văn xuôi Nguyễn Trung Thành.
Câu III.b Theo chương trình nâng cao ($5,0$ điểm) "Đây Thôn Vĩ Dạ" là bức tranh đẹp về một miền quê đất nước : là tiếng lòng của một thi sĩ tha thiết yêu đời, yêu người.
$1.$ Vài nét về tác giả, tác phẩm ($0,5$ điểm) - Hàn Mặc Tử được xem là hiện tượng thơ kì lạ vào bậc nhất của phong trào thơ mới. - Đây Thôn Vĩ Dạ (in trong tập Đau Thương xuất bản năm $1938$) là một bài thơ nổi tiếng của Hàn Mặc Tử, cũng là một thi phẩm xuất sắc của thơ ca Việt Nam hiện đại.
$2.$ Phân tích bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ để làm sáng tỏ nhận định ($4,0$ điểm) a. Bức tranh đẹp về một miền quê đất nước ($2,0$ điểm) Thôn Vĩ nên thơ và căng tràn sức sống, thiên nhiên hài hòa trong vẻ đẹp duyên dáng và kín đáo. Vĩ Dạ tinh khôi trong khoảnh khắc hừng đông hiện lên với vườn cây xanh như ngọc, ánh nắng ban mai tinh khiết, trong sương khói mong manh, mộng ảo. ($1,0$ điểm) - Xứ Huế thơ mộng giữa không gian bao la với hình ảnh gió mây chia lìa, dòng nước lững lờ, hoa bắp phất phơ gợi nỗi buồn hiu hắt; sông Hương trong đêm trăng lung linh, huyền ảo, vừa thực vừa mộng: ánh trăng vàng, con thuyền đậu bến sông trăng, có chở trăng về,.... ($1,0$ điểm)
b. Tiếng lòng tha thiết yêu đời, yêu người ($1,0$ điểm) - Bức tranh trong trẻo, thơ mộng về thôn Vĩ, về con người xứ Huế được viết ra trong những giờ khắc đau thương nhất, vào lúc Hàn Mặc Tử phải đối diện với căn bệnh hiểm nghèo. Thi sĩ đã vượt lên nỗi đau thể xác, sự cô đơn đến tuyệt vọng của tâm hồn để viết nên những câu thơ tuyệt đẹp về tình yêu thiết tha với cuộc sống và con người. - Tiếng lòng của Hàn Mặc Tử với con người xứ Huế được thể hiện qua những hình ảnh có nhiều tầng nghĩa: vẻ đẹp phúc hậu của khuôn mặt chữ tiền thấp thoáng; con người giữa cõi mộng đêm trăng hay đang nhạt nhòa giữa khói sương mờ ảo.... Ba khổ thơ, ba câu hỏi không hướng tới đối tượng cụ thể nào mà chỉ để thể hiện những cung bậc cảm xúc khác nhau của một tâm hồn vừa đau đớn, khắc khoải vừa khao khát cháy bỏng tình yêu đời, yêu người.
c. Nghệ thuật ($1,0$ điểm) - Sử dụng linh hoạt các biện pháp nghệ thuật tu từ so sánh, nhân hóa, câu hỏi tu từ,... - Trí tưởng tượng phong phú, tạo nhiều liên tưởng. - Hình ảnh sáng tạo, có sự hòa quyện giữa thực và ảo
$3.$ Đánh giá chung ($0,5$ điểm) - Đây Thôn Vĩ Dạ là một kiệt tác, là bức tranh thơ về quê hương, đất nước. - Là bài thơ tiêu biểu của hồn thơ Hàn Mặc Tử: yêu đời, yêu người mãnh liệt mà cũng đầy uẩn khúc, ưu tư.
Lưu ý chung : Thí sinh có thể làm bài theo những cách khác nhau, nhưng phải đảm bảo những yêu cầu về kiến thức. Trên đây chỉ là những ý cơ bản thí sinh cần đáp ứng, việc cho điểm cụ thể của từng câu cần dựa vào bản hướng dẫn chấm.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 978
|
|
|
|
Câu I ($2,0$ điểm) Trong đoạn trích bài thơ Việt Bắc (Ngữ văn $12$, Tập một, NXB Giáo dục, $2009$), Tố Hữu đã sử dụng những phương tiện nghệ thuật giàu tính dân tộc nào? Những phương tiện đó phù hợp với việc diễn tả tình cảm gì của người cán bộ kháng chiến và nhân dân Việt Bắc?
$1.$ Những phương tiện nghệ thuật giàu tính dân tộc ($1,0$ điểm) - Thể thơ lục bát, kết cấu đối đáp, lối xưng hô mình- ta của ca dao- dân ca. ($0,5$ điểm) - Ngôn ngữ thơ dân dã, mộc mạc, các cách chuyển nghĩa của thơ ca truyền thống, giọng thơ mang âm hưởng ngọt ngào của những câu hát tình nghĩa trong dân gian. ($0,5$ điểm)
$2.$ Sự phù hợp của những phương tiện đó với việc diễn tả tình cảm ( $1,0$ điểm) - Thể hiện tình cảm ân tình, thủy chung sâu sắc của người cán bộ kháng chiến và nhân dân Việt Bắc gắn với đạo lí truyền thống của dân tộc ($0,5$ điểm) - Thể hiện tình cảm gắn bó sâu nặng của người cán bộ và nhân dân với cách mạng, với kháng chiến. ($0,5$ điểm)
Câu II ($3,0$ điểm) Suy nghĩ về ý kiến : Đừng cố gắng trở thành người nổi tiếng mà trước hết hãy là người có ích. $1.$ Giải thích ý kiến ($0,5$ điểm) - Người nổi tiếng được khâm phục, được nhiều người biết đến về tài năng và sự thành công ở một lĩnh vực nào đó, người có ích là người đem lại lợi ích, giá trị tốt đẹp cho xã hội bằng những việc làm cụ thể của mình. - Về thực chất, ý kiến này khẳng định giá trị đích thực của mỗi cá nhân thông qua những đóng góp của họ đối với gia đình và xã hội.
$2.$ Luận bàn về ý kiến ($2,0$ điểm) Ý kiến nêu trong đề cần được lật đi lật lại, xem xét từ nhiều phía, thấy được mối quan hệ giữa hai mệnh đề (đừng cố gắng thành người nổi tiếng và trước hết hãy là một người có ích), để luận bàn (theo hướng khẳng định hay bác bỏ) cho thỏa đáng, thuyết phục. Dưới đây là một số ý cơ bản : - Khát vọng trở thành người nổi tiếng là chính đáng nhưng không phải ai cũng có năng lực, tố chất và điều kiện để đạt được. ($0,5$ điểm) - Nếu cố gắng bằng mọi cách chỉ để nổi tiếng, con người dễ trở nên mù quáng ảo tưởng về bản thân, thậm chí gây tác hại cho xã hội. ($0,5$ điểm) - Mỗi cá nhân, bằng những suy nghĩ, việc làm bình thường, hoàn toàn có thể khẳng định điợc giá trị của bản thân, đóng góp cho cộng đồng, trở thành người có ích mà vẫn có cơ hội nổi tiếng; tuy nhiên , có ích là điều kiện để nổi tiếng, vì thế trước khi thành người nổi tiếng hãy là người có ích. ($0,5$ điểm) - Những gì chỉ bằng lòng, an phận với những gì mình đã có, thiếu ý chỉ và khát vọng thì cuộc sống sẽ mất dần ý nghĩa và sẽ không còn di vọng trở thành người nổi tiếng. ($0,5$ điểm).
$3.$ Bài học nhận thức và hành động ($0,5$ điểm) - Cần xác định rõ mục đích sống, ý thức được điều quan trọng trong cuộc đời là sự khăng định giá trị của bản thân bằng những đóng góp tích cực cho xã hội. - Không ngừng nuôi dưỡng khát vọng vươn lên trong cuộc sống.
PHẦN RIÊNG ($5,0$ điểm) Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (câu III.a hoặc III.b)
Câu III.a Theo chương trình chuẩn ($5,0$ điểm) Phân tích khung cảnh phố huyện và tâm trạng của nhân vật Liên trong tác phẩm "Hai đứa trẻ " để làm rõ ý kiến : "Hai đứa trẻ" của Thạch Lam là một truyện ngắn trữ tình đượm buồn.
$1.$ Vài nét về tác giả và tác phẩm ($0,5$ điểm) - Thạch Lam là thành viên của Tự lực văn đoàn; có tấm lòng đôn hậu và quan niệm văn chương tiến bộ; có biệt tài về truyện ngắn, chủ yếu khai thác thế giới nội tâm nhân vật với những cảm xúc mong manh, mơ hồ. - Hai đứa trẻ (in trong tập Năng trong vườn) là một truyện ngắn đặc sắc của Thạch Lam, có sự hòa quyện các yếu tố hiện thực và lãng mạn, tự sự và trữ tình.
$2.$ Giải thích ý kiến ($0,5$ điểm) - Truyện ngắn trữ tình thường có cốt truyện đơn giản, giàu sắc thái trữ tình, không khí, tâm trạng. - Làm sắc thái trữ tình trong Hai đứa trẻ chủ yếu là cảm xúc buồn thương và giọng thủ thỉ trầm lắng, thiết tha qua miêu tả khung cảnh, tâm trạng.
$3.$ Phân tích khung cảnh phố huyện và tâm trạng của nhân vật Liên ($3,5$ điểm) a. Chất trữ tình đượm buồn toát ra từ khung cảnh phố huyện ($1,5$ điểm) - Khung cảnh phố huyện khi chiều xuống, đêm về, lúc đó chuyến tàu đi qua đều được lọc qua cái nhìn và tâm trạng, cảm giác của nhân vật Liên, nên cũng thấm đượm cảm xúc trữ tình. ($1,0$ điểm). + Cảnh vật hiện lên có hồn, êm ả, thi vị mà đượm buồn. + Con người hiện lên với kiếp sống mòn mỏi, tăm tối, tuy vậy tâm hồn họ vẫn ánh lên vẻ đẹp đáng trân trọng: một tình người chân thật, một mơ ước nhỏ nhoi, hay một hi vọng mong manh,... - Khung cảnh phố huyện có sự tương phản đậm nét giữa bóng tối và ánh sáng: Bóng tối dày đặc, bao trùm lên tất cả; còn ánh sáng thì leo lét lụi tàn, hoặc rực rỡ vụt qua. Khung cảnh ấy gắn liền với những cảm giác xen lẫn buồn vui khó tả, tạo nên nhiều sắc thái trữ tình. ($0,5$ điểm)
b. Chất trữ tình đượm buồn toát ra từ diễn biến tâm trạng của nhân vật Liên ($2,0$ điểm) - Tâm trạng man mác buồn trước khung cảnh phố huyện lúc chiều tàn và trong đêm tối : ($1,0$ điểm) + Cảm giác man mác buồn từ cảnh vật thấm vào lòng người và nỗi buồn trong tâm hồn ngây thiw lan tỏa ra cảnh vật. + Niềm xót xa, thương cảm với những kiếp người nhỏ nhoi, lay lắt trong bóng tối. - Cảm xúc buồn vui khó tả trước, trong và sau khi chuyến tàu đêm đi qua : ($1,0$ điểm) + Tàu chưa đến : khắc khoải, háo hức chờ mong. + Tàu đến : hân hoan, ngây ngất ngắm nhìn. + Tàu đi : bâng khuâng, ngậm ngùi, nuối tiếc.
$4.$ Đánh giá chung ($0,5$ điểm) - Chất trữ tình đượm buồn mang lại cho Hai đứa trẻ một vẻ đẹp riêng, thể hiện phong cách nghệ thuật đặc sắc của Thạch Lam. - Ý kiến này đã đưa ra một đánh giá sâu sắc, thỏa đáng.
Câu III.b ($5,0$ điểm)Phân tích đoạn thơ trong bài "Tiếng hát con tàu" để thấy được chất suy tưởng triết lí và nghệ thuật sáng tạo hình ảnh của Chế Lan Viên.
$1.$ Vài nét về tác phẩm ($0,5$ điểm) - Chế Lan Viên là một trong những nhà thơ lớn của thơ ca hiện đại Việt Nam, có phong cách rõ nét và độc đáo, nổi bật nhất là chất suy tưởng, triết lí và sự đa dạng, phong phú của thế giới hình ảnh. - Tiếng hát con tàu (in trong tập ánh sáng và phù sa) là tác phẩm tiêu biểu của Chế Lan Viên, là khúc hát về lòng biết ơn, sự gắn bó với nhân dân, đất nước.
$2.$ Phân tích đoạn thơ ($4,0$ điểm) a. Về nội dung: cảm xúc trữ tình và những suy tưởng triết lí ($2,0$ điểm) - Càng suy tưởng càng tự hào, trân trọng thành quả cách mạng và phẩm chất anh hùng của nhân dân trong kháng chiển; nhận thưc rõ đó là sức mạnh của hiện tại, là ánh sáng soi đường hướng tới tương lai. ($0,5$ điểm) - Suy tưởng triết lí gắn với cảm xúc nồng nhiệt trong khúc ca thôi thúc lên đường, hướng tới Tây Bắc, hướng về nhân dân và nguồn cội thiêng liêng. ($0,5$ điểm) - Niềm hạnh phúc lớn lao hòa vào những suy tư sâu lắng : trở về với nhân dân là về với những gì thân thuộc, gần gữi nhất, về với niềm vui từng khát khao mong chờ, về với ngọn nguồn thiết yếu, tin cậy của sự sống, trong sự nuôi dưỡng che chở, cưu mang. ($1,0$ điểm)
b. Về nghệ thuật: ngôn từ, hình ảnh phong phú, gợi cảm, đậm chất suy tư ($2,0$ điểm) - Có sự kết hợp giữa cảm xúc với suy tưởng, nâng cảm xúc, tình cảm lên thành những khái quát triết lí khiến cho hình ảnh, ngôn từ thơ phong phú, gợi cảm, giàu chất trí tuệ ($0,5$ điểm) - Ngôn ngữ thơ linh hoạt, giàu giá trị tư tưởng- thẩm mĩ và mang tính biểu cảm cao (sử dụng đại từ xưng hô thân tình; dùng câu cảm thán tạo giọng điệu vừa thiết tha, say đắm vừa thành kính, thiêng liêng); phép điệp từ, điệp ngữ có tính nghệ thuật. ($0,5$ điểm) - Hình ảnh thơ phong phú, đa dạng, giàu ý nghĩa biểu tượng, được sáng tạo bằng nhiều thủ pháp : tả thực, ẩn dụ tượng trưng, đặc biệt là lối so sánh xâu chuỗi, trùng điệp,.... ($1,0$ điểm)
$3.$ Đánh giá chung ($0,5$ điểm) - Đoạn thơ đã khơi dậy những tình cảm sâu nặng với nhân dân, đất nước của một hồn thơ sắc sảo tài hoa, kết hợp hài hòa giữa lí trí và cảm xúc. - Đoạn thơ tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật hơ của Chế Lan Viên.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 956
|
|
|
|
PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH ($5,0$ điểm) Câu I ($2,0$ điểm) Trong phần mở đầu bản Tuyên Ngôn Độc Lập, chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn bản tuyên ngôn nào? Việc trích dân đó có ý nghĩa gì ? $1.$ Các bản tuyên ngon đã được trích dẫn ($1.0$ điểm) - Tuyên ngôn Độc Lập (năm $1776$ của nước Mĩ). ($0,5$ điểm) - Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền (năm $1971$ của Cách mạng Pháp). ($0,5$ điểm)
$2.$ Ý nghĩa của việc trích dẫn ($1,0$ điểm) - Nêu lên những nguyên lý chung về quyền được tự do bình đẳng của con người để khẳng định lập trường chính nghĩa của dân tộc; tạo vị thế bình đẳng giữa Việt Nam với các nước lớn trên thế giới. ($0,5$ điểm) - Đưa ra những lí lẽ thuyết phục để chuẩn bị tiền đề cho lập luận ở phần tiếp theo, làm cơ sở cho cả hệ thống lập luận của bản tuyên ngôn. ($0,5$ điểm)
Câu II ($3,0$ điểm) Viết bài văn nghị luận bàn về ý kiến :Biết tự hào về bản thân là cần thiết nhưng biết xấu hổ còn quan trọng hơn. $1.$ Giải thích ý kiến ($0,5$ điểm) - Biết tự hào về bản thân là thái độ hãnh diện về cái tốt đẹp mà minh có, về những đóng góp của mình cho cuộc sống, biết xấu hổ là cảm thấy hổ thẹn về sự kém cỏi và những lỗi lầm của mình trước người khác. - Nội dung ý kiến : Đề cao việc nhận thức đầy đủ, sâu sắc về bản thân, hướng đến sự hoàn thiện mình
$2.$ Luận bàn về ý kiến ($2,0$ điểm) - Khẳng định sự cần thiết của việc biết tự hào : biết tự khẳng định mình, giúp bản thân tự tin hơn trong cuộc sống và trong công việc, có thêm động lực để vươn tới những ước mơ lớn hơn. ($0,5$ điểm) - Phê phán thái độ tự cao, tự đại (tự đánh giá mình quá cao, quá lớn vì thê mà trở nên hợm hĩnh) ($0,5$ điểm) - Khẳng định sự cần thiết của việc biết xấu hổ: giúp con người có ý thức điều chỉnh hành vi của mình phù hợp với những chuẩn mực đạo đức, biết xấu hổ còn quan trọng hơn biết tự hào bởi nó là biểu hiện của ý thức hoàn toàn tự giác, xuất phát từ lương tâm, giúp con người nâng cao năng lực và hoàn thiện nhân cách. ($0,5$ điểm) - Phê phán thái độ tự ti, mặc cảm (tự đánh giá thấp bản thân nên thiếu tự tin) ($0,5$ điểm)
$3.$ Bài học nhận thức và hành động ($0,5$ điểm) - Nhận thức sâu sắc về những điểm mạnh, điểm yếu của bản thân. - Nghiêm khắc đối với chính mình, không ngừng rèn luyện, bồi dưỡng đạo đức nhân cách.
PHẦN RIÊNG ($5,0$ điểm) Câu III.a Theo chương trình chuẩn ($5,0$ điểm) Phân tích tình huống truyện trong tác phẩm "Chữ người tử tù" của nhà văn Nguyễn Tuân.
$1.$ Vài nét về tác giả, tác phẩm ($0,5$ điểm) - Nguyễn Tuân là nhà văn lớn, có phong cách tài hoa, độc đáo, có nhiều đóng góp quan trọng cho nền văn học hiện đại Việt Nam. - Chữ người Tử Tù (in trong tập Vang bóng một thời) là truyện ngắn xuất sắc, kết tinh tài năng của Nguyễn Tuân trước năm $1945$.
$2.$ Phân tích tình huống truyện ($4,0$ điểm) - Nội dung tình huống : ($1,0$ điểm) Đó là cuộc gặp gỡ đầy trớ trêu, éo le giữa người tù Huấn Cao với viên quản ngục chốn lao tù. Xét về phương diện xã hội, họ ở thế đối lập nhau (một bên là tử tù chờ ngày ra pháp trường, một bên là quản ngục nắm trong tay sinh mệnh của tù nhân). Nhưng xét về phương diện nghệ thuật, họ là những người có tâm hồn đồng điệu. - Diễn biến tình huống : + Thái độ lúc đầu của Huấn Cao : Tỏ ra coi thường, khinh bạc ngay cả khi nhận được sự chăm sóc lặng lẽ, chu tất của viên quản ngục (Huấn Cao : "Ta chỉ muốn có một điều. Là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây.") ($0,5$ điểm) + Sự thay đổi thái độ của Huấn Cao: Khi hiểu ra tấm lòng chân thành và sở thích cao quý của viên quản ngục, Huấn Cao hết mực trân trọng và đồng ý "cho chữ" ( Huấn Cao : "Thiếu chút nữa, ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ"). ($0,5$ điểm) + Cảnh cho chữ trong nhà ngục : Diễn ra như "một cảnh tượng xưa nay chưa từng có". Không gian và thời gian rất đặc biệt (nơi ngục tù, lúc đêm khuya); vị thế các nhân vật được đảo ngược (tử tù thành thần tượng, ân nhân của cai ngục, cai ngục thành người ngưỡng mộ, chịu ơn tử tù). ($1,0$ điểm) - Ý nghĩa, hiệu quả nghệ thuật của tình huống : + Làm bộc lộ, thay đổi quan hệ, thái độ, hành vi khác thường của các nhân vật, làm tỏa sáng vẻ đẹp của cái Tài, cái Dũng, cái Thiên lương. ($0,5$ điểm) + Góp phần khắc họa tính cách của các nhân vật : tăng kịch tính và sức hấp dẫn của tác phẩm. ($0,5$ điểm)
$3.$ Đánh giá chung ($0,5$ điểm) - Chữ người tử tù thành công trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật. - Tình huống truyện trên đây góp phần thể hiện rõ những nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân.
Câu III.b ($5,0$ điểm) Phân tích đoạn thơ trong Đất Nước để làm rõ những cảm nhận riêng độc đáo của Nguyễn Khoa Điềm. $1.$ Vài nét về tác giả, tác phẩm ($0,5$ điểm) - Nguyễn Khoa Điềm là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ thơ trẻ những năm kháng chiến chống Mĩ, thơ ông giàu chất suy tư, cảm xúc lắng đọng, thể hiện tâm tư của người trí thức tham gia tích cực vào cuộc chiến đấu của nhân dân. - Đất nước thuộc phần đầu chương V, trường ca mặt đường khát vọng là một trong những đoạn đặc sắc, thể hiện những cảm nhận riêng, độc đáo của nhà thơ về Đất Nước.
$2,$ Phân tích đoạn thơ ($4,0$ điểm) a. Về nội dung: Đất nước với cái nhìn có chiều sâu và phát hiện mới mẻ ($2,5$ điểm) - Phát hiện mới từ không gian địa lý: thiên nhiên đất nước trở nên thiêng liêng, gần gũi hơn khi có sự hóa thân của thiên nhiên. - Những địa danh , thắng cảnh tiêu biểu của đất nước in đậm dấu ấn, tâm hòn, lối sống nhân dân. ($0,5$ điểm) + Nhân dân- những con người bình dị, vô danh- đã hóa thân vào đất nước, mỗi người lặng lẽ góp phần mình làm nên vẻ kì thú của thiên nhiên và bề dày của truyền thống. ($0,5$ điểm) - Khái quát về đất nước với những suy ngẫm có tính triết lí sâu sắc : + Từ thiên nhiên đất nước, suy ngẫm về vẻ đẹp tâm hồn của con người, lịch sử Việt Nam. ($0,5$ điểm) + Từ những cuộc đời, những hóa thân cụ thể, nhận thức sâu hơn về mối quan hệ gắn bó giữa thiên nhiên và con người, giữa đất nước và nhân dân. ($0,5$ điểm) - Chủ thể trữ tình bộc lộ niềm tự hào về vẻ đẹp của cảnh quan thiên nhiên kì thú, về những truyền thống quý báu của dân tộc: thể hiện niềm trân trọng và ngưỡng mộ trước những đóng góp lớn lao của nhân dân. ($0,5$ điểm)
b. Về nghệ thuật: Đóng góp mới mẻ, độc đáo ($1,5$ điểm) - Kết hợp nhuần nhuyễn giữa chính luận và trữ tình, suy tưởng và cảm xúc : sử dụng sáng tạo thể thơ tự do với sự biến đổi linh hoạt của âm hưởng, nhịp điệu, biện pháp liệt kê, trùng điệp; .... ($0,5$ điểm) - Sử dụng linh hoạt chất liệu truyện kể dân gian, chất liệu văn hóa dân tộc để sáng tạo ra hình ảnh và thể hiện cách cảm nhận độc đáo về đất nước, cách triển khai ý thơ đi từ cụ thể đến khái quát phù hợp với các suy tưởng chính luận. ($0,5$ điểm) - Ngôn ngữ gần gũi với đời sống mà vẫn mới mẻ, hình ảnh quen thuộc, gọi mở nhiều liên tưởng sâu sắc. ($0,5$ điểm)
$3.$ Đánh giá chung ($0,5$ điểm) - Tư tưởng "Đất Nước của Nhân Dân" là đóng góp mới mẻ, độc đáo của Nguyễn Khoa Điềm về đề tài đất nước, qua đó khơi dậy niềm tự hào và ý thức trách nhiệm của mỗi người đối với đất nước. - Đoạn thơ thể hiện rõ nét phong cách nghệ thuật đặc sắc của Nguyễn Khoa Điềm.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 870
|
|
|
|
$1.$ Mở bài - Giới thiệu vấn đề cần bạn bàn bạc. - Nêu suy nghĩ chung về vấn đề đó.
$2.$ Thân bài a. Nêu nguyên nhân khi đặt ra vấn đề tình bạn và tình yêu trong học đường - Đây là vấn đề đã và đang tồn tại trong thực tế, gây ra nhiều hậu quả đáng tiếc cho bản thân, gia đình và xã hội. - Cần có những biện pháp giải quyết để nâng cao chất lượng học tập trong nhà trường.
b. Vấn đề tình bạn của thanh thiếu niên trong học đường - Tầm quan trọng và ý nghĩa của tình bạn tuổi học trò + Rất cần thiết. + Mang tính tất yếu - Vấn đề chọn bạn mà kết giao. - Cách xây dựng và giữ vững được một tình bạn đẹp và chân chính.
c. Vấn đề tình yêu trong học đường : - Nêu những quan niệm khác nhau của chính bản thân những trai gái đang yêu, của bạn bè, thầy cô, cha mẹ và dư luận xã hội. - Khẳng định sự không cần thiết và nêu tác hại của tình yêu trong học đường. - Cách ứng xử của cha mẹ, thầy cô trước những vấn đề này.
$3.$ Kết bài Rút ra bài học và cách ứng xử cho những người đang ở lứa tuổi thanh thiếu niên trước tình bạn và tình yêu trong học đường.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 858
|
|
|
|
Được sinh ra trong cuộc đời, được cảm nhận tính yêu bao la từ cha mẹ, được thừa hưởng những giá trị mà tạo hóa ban tặng. Đó là diễm phúc của một con người bình thường. Quan trọng như không khí ta thở hàng ngày thiêng liêng như tình mẫu tử, tình phụ tử ta có trong từng giây phút, mỗi món quá mà ta nhận được tự tạo hóa khi xuất hiện trên thế gian này đều gắn liền với một bổn phận, một trách nhiệm. Ý thức được điều này, trong bài "Một khúc ca xuân" Tố Hữu có viết : "Nếu là con chim, là chiếc lá Thi chim phải hót, chiếc là phải xanh Lẽ nào vay mà không trả Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình".
Bài thơ không chỉ dừng lại ở một cách sống mà cao cả hơn nó còn mở ma một quan niệm nhân sinh tích cực, hay đúng hơn là một lí tưởng sống cần có của mỗi người trong xã hội. "Nếu là con chim, là chiếc lá Thi chim phải hót, chiếc là phải xanh"
Nhà thơ Tố Hữu mượn hai thực tế chiếc lá và tiếng chim để minh họa, ví dụ cho quan niệm của mình. Tạo hóa đã tạo ra loài chim và ban cho chúng giọng hót tuyệt vời thì cũng có nghĩa rằng đã là chim thì phải và tương tự như vậy, chiếc lá non thì phải xanh. Chắc hẳn ai đã từng đọc tác phẩm nổi tiếng "Tiếng chim hót trong bụi mận gai" đều không thể quên hình ảnh một chú chim đã dùng hết sức mình lao vào bụi mận gai để rồi nơi chiếc lồng ngực bị một cây gai xuyen vào ấy cất lên một tiếng hót cuối cùng- tiếng hót mà đến cả họa mi, sơn ca cũng phải gen tị, tiếng hót mà cả thượng đế trên cao nghe cũng phải mỉm cười. Và như thế đủ cho ta thấy rằng hạnh phúc nhất, sung sướng nhất chính là giây phút được cống hiến cho đời. Đối với chú chim kia, hạnh phúc là được cất cao giọng hót ca ngợi cuộc sống và cống hiến hết mình cho vũ trụ trời đất bằng chính tiếng hót tràn đầy sức sống của mình. Còn chiếc lá kia sẽ là gì ngày hôm nay nếu thiên nhiên hông ban cho nguồn dưỡng khí để hô hấp và quang hợp. Sẽ là gì bấy giờ nếu con người nhẫn tâm ngắt bỏ nó đi. Và như vậy, một khi đã được tồn tại trên cõi đời này thì lá phải có nhiệm vụ đem màu xanh tràn đầy nhựa sống ấy tô điểm cho bầu trời, cảnh vật hay đem lại bóng râm, dưỡng khí cho muôn loài..... "Nếu là con chim, là chiếc lá Thi chim phải hót, chiếc là phải xanh"
Vậy là con người- là kẻ đứng đầu của muôn loài, là loài động vật duy nhất có tư duy, suy nghĩ, chúng ta đã làm gì để cống hiến cho xã hội? Được tạo nên từ tình yêu thương vô bờ bến của cha và mẹ, được lớn lên, được bao bọc giữa vòng tay nhân ái của cộng đồng, rộng hơn được hít thở nguồn dưỡng khí hàng ngày, được thưởng thức những món ngon vật lạ- đó là gì nếu không phải là vay mượn từ cuộc sống, từ xã hội? Ngày nay, đượ chọc tập, được sinh hoạt giữa đất trời bình yên là gì nếu không phải mang trong mình một niềm tri ân với những thế hệ đi trước đã đánh đổi mùa xuân của tuổi trẻ thậm chí là xương máu, là nước mắt để có được một Việt Nam hòa bình hôm nay. Vì vậy đã là Người hăn mang trong mình những trách nhiệm thiêng liêng. Giản đơn như phải học tập thật tốt để "trả ơn" cho cha mẹ, thầy cô đã hết lòng vì mình. Cao cả hơn như cống hiến sưc lực, trí tuệ của mình vào sự nghiệp chung của giang san gấm vóc này. Đó chính là trách nhiệm, là nghĩa vụ, bổn phận của mỗi con người. Hay đúng hơn nói theo Tố Hữu: Đó là món nợ phải trả cho đời. Hai thế kỉ trước có một tiếng thét : "Sát thát" vang lên oai hùng vang vọng cả núi sông Đại Việt như lời thề thiêng liêng về bổn phận, nghĩa vụ của kẻ làm trai đứng trong đất trời. Hai thế kỉ trước có một Phạm Ngũ Lão công danh ngất trời nhưng vẫn: "Nam nhi vị liễu công danh trái Tu thín nhân gian thuyết Vũ hầu"
Nhìn lại người xưa để ngẫm lại ngày nay, chúng ta phải làm gì để không hổ danh là thế hệ trẻ, the hệ thanh niên, thế hệ rường cột của nước nhà. Nhỏ nhặt như giúp đỡ mọi người xung quanh, sống hết mình, sống tích cực; lớn lao hơn là đưa đất nước khẳng định lại mình trên trường quốc tế. Để làm được điều đó hãy soi gương những Lế Bá Khánh Trình, Lê Tự Thắng hay giản dị hơn là sống tót để trở thành một công dân có ích cho cộng đồng. Nếu như ai ai cũng hiểu rằng : "Lẽ nào vay mà không trả Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình"
Thì mọi người sẽ sống đẹp biết bao, tình tương thân, tương ái sẽ thắm thiết và tươi đẹp biết dường nào.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 852
|
|
|
|
Nếu có ai hỏi bạn "Điều gì làm nên sự thành công của một con người" thì bạn có thể dõng dạc trả lời rằng đó chính là ý chí và nghị lực. Đó là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu để làm nên thành công. Và ý chí, nghị lực ấy thể hiện rõ nơi Hồ Chí Minh- con người đưa đất nước Việt Nam thoát ra khỏi xiềng xích nô lệ như chính Người đã dùng nó để bẻ gãy những chấn song nhà tù (Nhật kí trong tù). Ý chí và nghị lực là sự cố gắng, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, gian khổ của con người : Thân thể ở trong lao Tinh thần ở ngoài lao Muốn nên sự nghiệp lớn Tinh thần càng phải cao.
Với Hồ Chí Minh, ý chí và nghị lực đã đưa Người thoát ra khỏi chốn tù ngục u ám để đến với bầu trời tự do bên ngoài. Đó là nghị lực phi thường, vượt lên trên những "ghẻ lở", những "đêm không ngủ" để nhìn thấy sự tươi đẹp, thú vui trong sự lạc quan, yêu đời : "Người ngắm trăng soi ngoài khe cửa- Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ". Chúng ta cũng vậy, ý chí, nghị lực biểu hiện ở sự vững chí, bền lòng, không vì khó khăn, gian khổ mà lùi bước, sờn lòng. Sẽ không còn những tấm gương như anh Nguyễn Ngọc Ký- người thầy giáo tàn tật, sẽ không còn những bạn học sinh nghèo học giỏi nếu họ không có đủ ý chí và nghị lực, phó mặc cho số phận, cho cuộc đời tật nguyền hay nghèo khổ. Và cũng sẽ không có hòa bình, độc lập nếu nhân dân ta không bền lòng, không giữ vững ý chí trong những lúc khó khăn nhất trong cuộc kháng chiến trường kì.... Ông cha ta từ xưa đã dạy rằng : Có công mài sắt có ngày nên kim.
Hay : Dù ai nói ngả nói nghiêng Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân.
Đó là lòng kiên nhẫn, là sự kiên định, giữ vững lập trường. Đó là ý chí, là nghị lực. Thế nhưng, làm cách nào để mỗi người xây dựng được cho mình ý chí và nghị lực vững vàng? Đó là cả một quá trình. Nền tảng có chắc chắn thì chúng ta mới có thể tin tưởng vào những mục tiêu mình đã chọn. Công ty bánh kẹo Kinh Đô sẽ không thể thành công, nổi tiếng như ngày hôm nay nếu người sáng lập công ty không có đủ khả năng, nền tảng để phát triển. Và chiếc bóng đèn sẽ không thể được tạo ra nếu Eđixơn không phải là một nhà vật lý tài giỏi, có chuyên môn cao. Bởi vậy, mỗi con người cần tự xây dựng cho mình một nền tảng chắc chắn để có niềm tin đầy đủ. Thế nhưng, như vậy sẽ là chưa đủ nếu đó không phải là con người vững tâm, kiên định, luôn phấn đấu vì một mục tiêu duy nhất và không ngại vượt qua, không sờn lòng, buông xuôi trước những khó khăn, nguy hiểm. Bởi trên bước đường trưởng thành công, không có dấu chân kẻ lười biếng. Chỉ cần vượt qua được những trở ngại đó, chiến thắng được chính bản thân mình và giữ vững niềm tin, ý chí nghị lực thì kết quả sẽ là những thành công đôi khi chính bản thân con người cũng không ngờ tới. Hồ Chí Minh- vị lãnh tụ vĩ dại của dân tộc ta đã luôn phấn đấu vì tự do, độc lập nước nhà và giữ vững ý chí nghị lực, kiên định đi theo con đường mà Mác- Lênin đã chọn để cuối cùng thực hiện được mục tiêu cao cả: giải phóng dân tộc. Trên con đường ấy, chắc hẳn phải có những giọt mồ hôi, giọt nước mắt và kể cả máu nhỏ xuống . Có những khi khó khăn, nguy hiểm cận kề nhưng ý chí nghị lực sắt đá, bền chắc đã đưa Người bước đi trên con đường ấy và hướng tới thành công. Marry Curie- người nữ khoa học nổi tiếng đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, nỗi đau mất mẹ, những tháng ngày khốn khó và rồi trở thành một nhà khoa học lừng lẫy. Và Helen đã đưa mình thoát khỏi cuộc sống mù lòa và câm điếc để trở thành nhà văn, nhà hoạt động nổi tiếng của người Mỹ. Thế nhưng, bên cạnh những con người đầy nghị lực ấy lại vô vàn những trường hợp buông xuôi tất cả, phó mặc cho số phận chỉ vì cái cớ hoàn cảnh. Họ không hiểu rằng : "Đời sống thay đổi khi chúng ta thay đổi". họ không biết rằng những khó khăn trước mắt chỉ là những chướng ngại vật mà chỉ cần vượt qua là ta sẽ với tay tới thành công, tới sự thay đổi số phận. Có thể họ tự ti, không tin rằng minh có thể làm được điều đó, có thể họ ỷ lại- nghĩ rằng số phận đã an bài. Thê nhưng, chính như vậy họ đang tự hủy hoại cuộc đời mình, để tuột mất cơ hội thay đổi cuộc đời. Rèn luyện ý chí và nghị lực là trong những điều cần thiết mà người học sinh không thể thiếu trong hành trang hướng tới thành công. Ngay từ những việc nhỏ nhặt nhất như không "đầu hàng" trước những bài toán khó, không sờn lòng trước những bài điểm thấp mà buông xuôi không cố gắng, nỗ lực học tập tiếp cho đến những việc làm to tát hơn, những khó khăn, trở ngại lớn hơn trong cuộc đời. Ý chí và nghị lực là điều không thể thiếu nơi con người thành công. Đó luôn là một trong những yếu tố quan trọng nhất giúp con người với tay tới niềm vui, sự hạnh phúc khi đạt được điều mình mong muốn. Bởi vậy, cần luôn rèn luyện ý chí và nghị lực sắc bền.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 850
|
|
|
|
Sau khi đánh đuổi được hai trẻ thù xâm lăng vô cùng nguy hiểm là thực dân Pháp và đế quốc Mĩ, nhà nước và nhân dân ta đã không ngừng phấn đấu để đưa đất nước đi lên. Thành tựu của những nỗ lực đó là nước ta đang trên đầ phát triển, được bạn bè quốc tế đánh giá cao. Nhưng tồn tại song song cùng với sự phát triển đó luôn có mặt trái, mặt tiêu cực. Trong cái xã hội có nhiều mặt tốt mà cũng không ít mặt xấu này, nổi bật lên là "bệnh thành tích". "Bệnh thành tích" là gi? Tại sao lại gọi "thành tích " là "bệnh" ? Thông thường ta chỉ gọi bệnh là do vi rút, vi khuẩn làm cho trạng thái cơ thể hoặc bộ phận cơ thể hoạt động không bình thường, vậy mà lại có thể gọi thành tích là bệnh. Thành tích, bản chất của nó là kết quả được đánh giá tốt, là cái mà người ta đặt ra làm mục tiêu để vươn tới. Vậy, phải chăng con người là vi khuẩn, vi rút, là "con sâu" của xã hội? Vì chính con người đã biến thành tích ấy thành cái xấu, thành một vấn nạn cứ âm ỉ mãi, khó có thể loại bỏ một cách nhanh chóng. "Bệnh thành tích" là do những thói xấu, những khuyết điểm tồn tại trong tư tưởng mỗi người, nó ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của đất nước. Nước ta đề ra mục tiêu đến năm $2010$ sẽ trở thành một đất nước công nghiệp hiện đại. Nhưng "bệnh thành tích" làm con người ta cứ luôn ảo tưởng chắc như vậy đã tốt, đã cao rồi. Chính vì thế mà họ luôn ỷ lại, luôn bám vào cái "thành tích ảo" ấy mà không hề biết năng lực bản thân của mình đến đâu. Nhìn bề ngoài thì mọi thứ đều tốt đẹp nhưng thực chất bên trong đều rỗng tuếch. Những năm gần đây, trên các thông tin đại chúng thường đưa tin chính phủ phát lệnh đến các địa phương, xây dựng một số cong trình giúp dân thoát khỏi khó khăn như xây cầu, xây chung cư, nhưng cuối cùng ra sao?.... Những công trình ấy cứ năm này qua năm khác mà vẫn chưa hoàn thành lẫn chất lượng và số lượng đúng như bản thiết kế, không chỉ làm cho dân khổ sở mà còn tốn kém tiền của của nhà nước. Dường như tất cả chỉ nằm trong giấy tờ. Và đó chỉ là thành tích mà thôi. Những "bệnh thành tích" ấy trên ban lãnh đạo nhà nước cũng đang tìm cách giải quyết, nhưng chẳng biết đến bao giờ căn bệnh ấy sẽ xóa xổ hoàn toàn bởi căn bệnh ấy đang từng ngày từng giờ vẫn đang tiếp tục phát triển và lây lan, len lỏi ở khắp nơi. "Bệnh thành tích" còn lây lan một cách trầm trọng sang giáo dục. Trong chương trình "Bạn hãy nói với tôi" của Đài tiếng nói Việt Nam có buổi sáng phát thanh về trường THPT Đức Trọng, Lâm Đồng, vì muốn chạy theo thành tích trường chuẩn Quốc Gia nên đã giảm số lớp từ sáu mươi sáu xuống còn ba mươi sáu, khiến một nghìn học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở không được tiếp tục học. Như thế có được coi là trường chuẩn Quốc Gia được hay không?Chỉ vì cái danh ấy mà biết bao nhiêu học sinh phải nghỉ học. Rồi trong tháng $10- 2007$, trên chương trình thời sự có đưa tin ở một số trường THCS, học sinh lớp bảy không biết đọc, biết viết. Đọc, viết là những điều cơ bản của việc học tập cả năm cấp một, vậy mà không biết thì làm sao các học sinh đó có thể lên lớp, có thể tốt nghiệp cấp hai được. Tất cả cũng chỉ vì căn bệnh thành tích mà ra. Giáo viên lo cho đạt chỉ tiêu tốt nghiệp một trăm phần trăm, phụ huynh học sinh lo chạy chọt, xin điểm để lên lớp. Cứ như thế làm sao giáo dục có thực chất được. Ngay cả khi nhà nước đã ban hành chính sách "ba không" một cách quyết liệt, tình trạng ấy vẫn cứ diễn ra, và ngày càng "nặng"hơn. Hiện nay vẫn còn hiện tượng thầy cô dạy thêm rồi "mắm" đề cho học sinh kiểm tra. Vì thế mà những bạn mặc dù học rất yếu nhưng cứ đi học thêm là điểm cao. Chính sự dễ dãi quá mức ấy đã làm cho học sinh ngày càng ù lì, ỷ lại hơn. Chính vì điều kiện "tốt đẹp" mà thầy cô tạo ra ấy đã làm nhiều học sinh chọn nhầm ban, ngồi nhầm lớp. Trước tình hình đó, chúng ta phải làm gì? Làm cách nào để giải quyết căn bệnh này? Đó là một câu hỏi luôn nhức nhối. Chúng ta không thể xây dựng một nền giáo dục tiên tiến, một nền giáo dục vững mạnh, sánh ngang tầm quốc tế với căn bệnh "bệnh thành tích" luôn tồn tại như thế này được. Để đẩy lùi nó, mỗi người trong chúng ta cần phải tự rèn luyện, tu dưỡng bản thân, tự mình đẩy lùi tư tưởng có "thành tích" trong khi bản thân không có thực chất. Nhà nước cần ban hành nhiều chính sách chống "bệnh thành tích" kĩ lưỡng hơn và phải theo dõi gắt gao việc thực hiện để căn bẹnh ấy không còn là mối lo ngại của đất nước, có như vậy nhà nước mới có cơ hội sánh vai với các cường quốc trên thế giới.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 840
|
|
|
|
Trong cuộc sống đã có mấy ai thành công trên con đường đời khi mà họ chẳng hề mảy may băn khoăn về mục đích sống của mình. Thành công hay thất bại làm nên từ nhiều lí do nhưng có lẽ điều dễ thấy nhất đó chính là sự xác định mục đích trong mọi công việc, mọi hoạt động sống của con người. Bàn về vấn đề này, nhà văn Pháp D.Điđơrô đã đưa ra một nhận định khá sâu sắc : "Nếu không có mục đích, anh không làm được gì cả. Anh cũng không làm được cái gì vĩ đại nếu mục đích tầm thường". Qua đó có thể thấy rõ vị trí và tầm quan trọng của "mục đích" trong bất kì mọi công việc. Con người cần có mục đích sống, đó là sống để làm gì, sống như thế nào để không hoài phí cuộc đời. Hơn nữa con người càng cần xác định được mục đích trong từng công việc của mình để làm nên thành công giúp người, giúp đời và giúp chính mình. Mục đích tốt đẹp đem lại nhiều hữu ích trong cuộc sống. Đơriô không phải hoàn toán ngẫu nhiên mà nói như thế. Mục đích trong cuộc sống chính là kết quả mà con người đạt được khi hành động, là câu hỏi được đặt ra trước khi thực hiện một công việc gì. Quá trình thực hiện một công việc gì nếu có mục đích, công việc đó sẽ đi đúng hướng, đem lại kết quả như ra đã đặt ra. Mục đích sẽ hướng mọi suy nghĩ, hành động, tập trung mọi ý chí, nghị lực của con người vào việc thực hiện công việc đó. Nó là kim chỉ nam dẫn đường cho con người, vì thế không thể sống và làm việc mà không có mục đích. Cuộc sống trở nên ý nghĩa, đáng để sống, để tin và để hi vọng vì hơn hết ta còn có thể biết được mình là ai? Sống để làm gì? Và làm thế nào để sống tốt? Sống, làm việc có mục đích, con người có thêm động lực, động lực ấy thúc đẩy con người làm vệc hăn say, không mệt mỏi, bằng tất cả mọi giá trị thực hiện được điều mong muốn, để tìm được kết quả tốt nhất cho công việc. Không có công việc gì trong cuộc sống lại không có mục đích cả. Người ta ăn là để sống, học hành là để mở mang trí thức, mưu cầu tiến bộ, mở rộng hiểu biết, lao động sản xuất là để tạo ra nhiều sản phẩm của cải phục vụ đời sống.... Con người tự kiểm soát mình bằng lí trí chứ không phải bản năng như các loài thú khác, vì vậy khi làm bất cứ điều gì cần phải cân nhắc , suy nghĩ kĩ để phân biệt tốt xấu, đúng sai, phải trái ra sao, phải đặt ra mục đích sống tốt và cần cố gắng thực hiện mục đích đặt ra đó. Từ trước đến nay thực tế đã phản chiếu nhiều tấm gương tiêu biểu cho mục đích sống tốt. Nhà Bác học Lương Đình Của đã phải vất vả, gian lao trên những cánh đồng để tạo ra những giống lúa tốt, năng suất cao phục vụ cho đời sống của nhiều bà con nông dân. Các nhà bác học, y bác sĩ cùng với sự tìm tòi ngày đêm của họ trên bao nhiêu lĩnh vực, kết quả chính là sự thay đổi sống- từ lam lũ đến tiến bộ hiện đại trên từng nhịp sống. Của cải dồi dào- chất lượn- đời sống đang ngày một được cải thiện. Liệu họ có làm được những điều ấy chăng khi mà họ chẳng hề xác định được mục đích? Không có mục đích, con người như chiếc thuyền không người lái vô định, mặc cho sóng cuốn, gió tấp mà không biết nơi nào là bến bờ. Cuộc sống trở nên vô nghĩa, còn người chỉ tồn tại một cách sinh vật. Thụ động, bạc nhược, tự tỉ lại bủa vây ghì chặt con người. Không say mê, không có hứng thú với công việc thì làm sao có kết quả tốt đẹp được! Lúc ấy là lúc thành công không bao giờ mỉm cười. Ai nào muốn vậy? Mỗi con người, mỗi loại công việc đều có mục đích khác nhau. Cũng có mục đích tốt, vĩ đại nhưng không phải không có mục đích tầm thường, vị kỉ. Và điều quan trọng là "anh không làm được điều gì vĩ đại nếu như mục đích của anh tầm thường". Mục đích tầm thường đến từ những con người tầm thường, đê hèn, ích kỉ. Việc làm của họ chỉ đem lại lợi ích cho chính bản thân họ, bỏ mặc quyền lợi của người khác và của xã hội. Mục đích tầm thường không những không đem lại kết quả tốt đẹp gì mà còn đem lại những hậu quả đáng tiếc. Một kẻ chỉ biết nghĩ đến quyền lợi của mình, lợi ích cá nhân thì đem lại hữu ích gì chứ? Những kẻ đó bất chấp thủ đoạn, làm những điều xấu, ảnh hưởng đến xã hội. Ta đã từng biết đến nhiều sự tha hóa trong nhân cách của bao người, vì đồng tiền phục vụ cho lợi ích cá nhân, họ bất chấp công lí, tình thương gây bất lợi cho cộng đồng, đáng lên án. Mục đích tầm thường không làm nên những điều vĩ đại. Điều vĩ đại chỉ thực sự làm nên những mục đích vĩ đại. Các bệnh nan y từ trước đến nay đã có thuốc đặc trị. Trên thị trường lựa chọn được mở rộng cho khách hàng, nhiều mặt hàng có chất lượng, hiện đại, phù hợp với nhu cầu cuộc sống đang ngày một tăng cao như rô bốt, máy giặt, máy vi tính,.... Nếu không phải nhờ sự lao công, khổ nhọc, sự ý thức được mục đích công việc thì làm sao có được những thành quả như vậy. những thành quả đó đem lại lợi ích cho xã hội, đất nước, thành công của họ mới thực sự vĩ đại. Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Hồ Chí Minh và các chiến sĩ đã anh hùng ngã xuống là minh chứng hùng hồn cho mục đích cao cả và vĩ đại. họ sống là để cống hiến cả đời mình cho tự do, độc lập. Ngày nay, chính phủ đã và đang ngày đêm đưa ra những chính sách tiến bộ, những cải cách đúng đắn để đất nước ta thoát ra khỏi đói nghèo, lạc hậu suốt bao nhiêu năm. Việc hội nhập WTO là sự thay đổi lớn. Không có những mục đích vĩ đại thì sao có thể làm nên những điều tuyệt vời như vậy. Điều vĩ đại chỉ thực sự đạt được khi con người thực sự tha thiết và khao khát thực hiện nó bằng mọi giá, bằng tất cả mọi ý chỉ, nghị lực, tấm lòng, bằng tất cả niềm tin. Đó chính là mục đích vĩ đại làm nên từ những điều vĩ đại. Nhận định của Đơriô thật sâu sắc và có ý nghĩa. Con người thực sự thành công khi xác định được mục đích sống và làm việc cho mình. Đừng sống một cuộc sống khi xác định được mục đích sống và làm việc cho mình. Đừng sống một cuộc sống mờ mờ nhân ảnh, đừng như một chiếc thuyền vô định trên dòng nước. Hãy xác định cho mình một mục đích sống và làm việc thật hiệu quả, để giúp ích cho đời, cho người và cho cả bản thân mình. Đặt ra mục đích bạn sẽ làm được.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 839
|
|
|
|
Sống ở đời có biết bao người trọng tình nghĩa, xem tiền bạc là vật ngoài thân, là công cụ tầm thường. tuy nhiên không ai phủ nhận vai trò của tiền bạc. Từ khi xuất hiện nó được xem là vật ngang giá chung, mang lại thuận tiện cho việc trao đổi, mua bán. Nó thúc đẩy kinh tế, thúc đẩy ngoại thương của mỗi quốc gia phát triển. Nhưng cũng chính bởi vai trò to lớn ấy mà trong xã hội có nhiều kẻ bị cuốn hút vì tiền mà sẵn sàng chà đạp lên tất cả: tình thương, trách nhiệm.... Khái quát về vai trò, vị trí của đồng tiền trong xã hội, tục ngữ Pháp có câu : "Tiền bạc là người đầy tớ trung thành và là người chủ xấu". Câu tục ngữ trên đúng với mọi người với mọi thời kì, đặc biệt là trong cơ chế thị trường hiện nay. theo nghĩa thông thường "tớ" là người hầu hạ, phục dịch, "chủ" là người nắm quyền, điều khiển, sai khiến. Khi "tiền bạc là người tớ tốt" chính là lúc con người ta làm chủ được đồng tiền, sử dụng nó vào mục đích tốt. Còn lúc đồng tiền lên làm chủ thì con người bị điều khiển, bị chi phối bởi đồng tiefn. Qua vài chữ tuy rất ngắn nhưng câu tục ngữ mang ý nghĩa sâu săc. Nó khuyên răn con người phải biết làm chủ, không nên nô lệ bởi đồng tiền. Trong bất kì xã hội nào, đồng tiền cũng có một giá trị to lớn. Nó giúp con người thuận lợi trong trao đổi mua bán hàng ngày. Thứ lật lại lịch sử xem, nếu không có cái ngày mà con người phát minh ra đồng tiền thì chắc chắn xã hội sẽ không phát triển như ngày hôm nay và không ai có thể tưởng tượng ra nổi cảnh mua bán diễn ra như thế nào? Đổi lúa lấy vải như ngày xửa ngày xưa chăng? Chính bởi cái giá trị to lớn của đồng tiền trong cuộc sống như thế nên hằng ngày biết bao con người làm việc cật lực, thậm chí bất chấp nguy hiểm để kiếm ra tiền. Có thể vì cuộc sống mưu sinh gia đình, thương lũ con gầy đói rách rưới mà bác nông dân vất vả một nắng hai sương trên cánh đồng; dù nắng gắt hay mưa lạnh thì những tấm thân gầy guộc ấy vẫn cam chịu chỉ mong kiếm thêm bát cơm. Có thể vì muốn thoát nghèo, hướng đến tương lai tốt đẹp hơn mà bao học sinh nỗ lực, thức khuya dạy sớm, ngày đêm học tập. Và có thể trong tâm thức họ vẫn văng vẳng lời căn dặn giản dị của người cha : "Nghề nông mình khổ lắm con à ! Chỉ có con đường học tập mới giúp con thoát khỏi cái nghèo truyền kiếp mà đời ông, đời cha, đời chú phải gánh chịu",.... Ngoài ra, đơn giản chỉ vì họ quan niệm "có tiền là có tất cả" mà họ bỏ xông sức ra lao động. Nếu không có giá trị lớn thì chắc chắn đồng tiền không cần được bảo quản cẩn thận. Và chắc chắn các ngân hàng cũng đâu cần bảo vệ, canh giữ. Nhưng không phải vì có giá trị mà đồng tiền luôn mang lại những điều tốt đẹp cho cuộc sống. Tùy vào mỗi cá nhân người sử dụng mà đồng tiền tốt hay xấy. Nó chỉ thực sự đúng là "đồng tiền" khi ở trong tay một con người cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Hay nói cách khác nó chỉ là nó theo đúng nghĩa khi nó là đầy tớ cho một người tốt. Đồng tiền giúp con người trang trải cuộc sống mưu sinh hằng ngày cho gia đình. Trong mọi xã hội đặc biệt trong cơ chế thị trường hiện nay, đồng tiền càng có vai trò to lớn. Dù biết rằng tiền bạc chỉ là công cụ mưu sinh cho con người nhưng khong thể sống tốt nếu thiếu nó. Tiền bạc giúp con người thỏa mãn nhu cầu vật chất lẫn tinh thần. Tiền bạc đôi khi còn là con số đại diện cho tấm lòng cao cả, cho mục đích tương thân tương ái. Hằng năm con người phải gánh chịu bao thiên tai: lũ lụt, hạn hán, núi lửa, động đất..... Nếu trong lúc khó khăn ấy không có đồng tiền trợ giúp, ủng hộ thì chắc chắn ít mấy ai sống nổi. Ngày càng có nhiều tổ chức, cá nhân làm từ thiện xuất hiện chính là để đưa đồng tiền tương thân tương ái của đồng bào mình đến tay những con người thực sự cần nó. những đồng vốn hỗ trợ cho vay ấy đã giúp bao người dân xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống. những đứa trẻ nghèo mạnh dạn bước chân đến trường, những cô cậu sinh viên tự tin hơn trong giảng đường đại học bởi họ được các tổ chức, cơ quan nhà nước giúp đỡ, tạo điều kiện. Có tiền, chàng Từ Hải mới cứu được nàng Kiều ra khỏi lầu xanh và giúp nàng báo ân báo oán. Có tiền con người ta mới có thể có đủ điều kiện để đảm bảo cuộc sống của con người về vật chất lẫn tinh thần. Dùng tiền đúng lúc, đúng chỗ cho những mục đích tốt đẹp thì nó thực sự là người tớ tốt. Nó phục vụ cho con người, mang lại hạnh phúc cho cá nhân, gia đình, tạo hòa bình, ổn định cho cộng đồng xã hội. như vậy vai trò của đồng tiền trong cuộc sống là không thể phủ nhận. Nhưng cũng vì sức mạnh to lớn trong đời sống mà đồng tiền đã tạo nên một ma lực đáng sợ đối với con người, đặc biệt với những kẻ tham lam. Nhiều người lười lao động, lại còn tham lam, sẵn sàng làm mọi việc phi pháp để hái ra số tiền lớn một cách nhanh nhất. Nào là trộm cắp, buôn lậu, mại dâm, ma túy,.... chúng không từ một hành vi nào. Vì đồng tiền chúng nhẫn tâm gieo rắc cái chết trắng cho nhân loại. "Thói tham chợt thấy hơi đồng là mê" đã gây dựng ở kẻ tham thói ích kỉ "khổng lồ" và lòng nhẫn tâm "vô độ", biến con người thành kẻ bất lương. Những kẻ rủng rỉnh túi tiền thì ăn chơi đua đòi làm phát sinh bao tệ nạn xã hội. Ngày xưa thì quan trên, quan dưới, quan cha, quan con ăn chơi sa đọa, làm càng làm bậy. Ngày nay những cậu ấm cô chiêu được nâng niu chiều chuộng đâm ra hư hỏng. Từ những cuộc tụ tập bạn bè thâu đếm suốt sáng đến ma túy, thuốc lắc, đua xe, quậy phá là khoảng cách ngắn nhất, không ai có thể lường trước được hậu quả. Rồi nhiều kẻ đã có chức, có quyền, có tiền mà vẫn hám tiền, bao nhiêu cũng không đủ cho vào túi tham lam không đáy của chúng. Trong văn học có biết bao Nghị Hách, Nghị Quế... giàu có mà vẫn đè đầu cưỡi cổ dân lành để móc tiền. Đến cả quan như lão Huyện Hinh mà cũng lấy chân giấu đi, cướp trắng trợn đồng hào của bà lão đi kiện thì thật đáng sợ. Ngày nay cách moi tiền của các quan cao chức lớn không phải không có mà rất kín đáo, chúng ăn chặn tiền bằng những thủ đoạn rất tinh vi. Kê khai khống, làm giấy tờ giả, có gì khó. Thậm chí cả quan cửa khẩu, kiểm lâm mà cũng buôn lậu.... Ma lực của đồng tiền quá lớn đã kéo biết bao con người vào vòng xoáy của nó : Nhiều lúc, tiền bạc còn là thước đo tình cảm con người : "Còn tiền, còn bạc, còn đệ tử Hết cơm, hết rượu, hết ông tôi". (Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Chỉ vì tranh giành của cải mà anh em bất hòa. Chỉ vì thiếu thốn vợ chồng lục đục, sinh cãi vã dẫn đến li hôn. Nếu như không sống trong xã hội không bị đồng tiền ngự trị, chắc chắn lão Gô-ri-ô sẽ có một đám tang tốt hơn, không phải chịu cảnh không người thân, không họ hàng. Chính sức cuốn hút quá lớn của đồng tiền mà nhiều người bị mê hoặc, bị nô lệ. Đồng tiền trở thành ông chủ sai khiến con người làm điều tội lỗi. Tóm lại, tiền bạc có vai trò quan trọng đối với cuộc sống, có sức cuốn hút lớn đối với con người và không phải ai cũng làm chủ được mình trước sức hút mãnh liệt của vòng xoáy ấy. Những con người liêm chính, chí công vô tư thì sẽ không bao giờ vấp ngã trước đồng tiền. Nhưng để trở thành những con người như vậy thì mỗi cá nhân phải cố gắng phấn đấu, tu dưỡng đạo đức. Đồng tiền như con dao hai lưỡi nhưng để tránh được mặt sắc nhọn nguy hiểm thì phải từ con người mà ra. Hãy làm chủ đồng tiền, đừng để nó làm chủ mình.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 838
|
|
|
|
Từ khi loài người xuất hiện đến nay, nhân loại đã chứng kiến và trải qua nhiều bước thăng trầm của lịch sử. Khi thời gian qua đi, những giá trị không bền vững của đời sống sẽ bị tàn lụi và mất dần. Những thứ còn trụ vững, còn tồn tại song song cùng cơn bão thời gian sẽ tích tụ và lớn dần, đầy dần, hình thành nên những giá trị được gọi là văn hóa. Tuy có những điểm tương đồng, giao thoa nhất định nào đó, nhưng mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có một nền văn hóa khác nhau, tùy thuộc vào quá trình hình thành và điều kiện phát triển lịch sử mỗi nước. Những cái khác biệt góp phần hình thành bản sắc văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc là một bản thể riêng trong cái tổng thể của thế giới. Chính vì thế, Việt Nam cũng có bản sắc văn hóa của mình. Văn hóa có thể được định nghĩa nôm na rằng đó là cái tổng thể nói chung của những giá trị vật chất, giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Bản sắc văn hóa chính là những màu sắc, tính chất văn hóa riêng tạo thành đặc điểm chính của nền văn hóa đó. Văn hóa Việt Nam đã bắt đầu được hình thành cách đây khoảng bốn nghìn năm, khi người Việt cổ biết sống theo gia đình, biết chăn nuôi, trồng trọt, chế tạo đồ gia dụng, trang sức và chăm lo cho đời sống vật chất tinh thần. Hơn thế, họ còn tạo ra những vùng miền văn hóa lớn mang đậm dấu ấn người Việt, tiêu biểu như văn hóa Óc- Eo, văn hóa Đông Sơn, văn hóa Sa Huỳnh.... mà chính nhờ vào đó mà có một Việt Nam ngày hôm nay. Việt Nam có nền văn hóa đa dạng và phong phú như hiện nay chính là nhờ sự kế thừa và phát huy các nền văn hóa tốt đẹp trước kia. VĂn hóa Việt Nam có nhiều nét tương đồng với văn hóa các nước láng giềng và các nước trong khu vực châu Á bởi lẽ đều bắt nguồn từ cái nôi văn hóa phương Đông, nơi mà nhà nước phong kiến ra đời muộn và cũng kết thúc muộn hơn so với phương Tây. Tuy nhiên cũng như bất cứ một quốc gia nào, đất nước Việt Nam cũng có một nét đặc thù làm nên một nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc. Nét đặc thù ấy được hình thành từ nhiều mặt, nhiều khía cạnh. Nước ta là một nước đa dân tộc, gồm $54$ dân tộc anh em sinh sống, do đó chúng ta có một nền văn hóa đa dạng bởi sự kết hợp nhiều nét đặc thù của nhiều dân tộc khác nhau. Mỗi một dân tộc sinh sống ở mỗi vùng đất riêng nên phong tục, tập quán vì thế mà có nhiều điểm khác biệt. Chẳng hạn như vùng núi phía Bắc là nơi tập trung nhiều dân tộc thiểu số sinh sống, đông đảo hơn cả là dân tộc Thái và H'Mông... Hai dân tộc này có tục cưới xin khác nhau rõ rệt : người Thái cho con gái tự do yêu đương, tự do kén chồng, trong khi đó người H'Mông lại có tục bắt vợ, người con gái không có quyền lựa chọn bạn đời của mình. Người dân tộc thiểu số thường ở trong những ngôi nhà sàn do họ tự cất đề đề phòng thú dữ và phù hợp với một số tập tục, vì thế văn hóa nhà sàn đã trở thành văn hóa đặc trưng của họ. Quan niệm về thế giới của dân tộc thiểu số thường là vạn vật hữu linh nên trong văn hóa của họ thường nhuốm màu tâm linh, mang đậm tính chất "tự túc, tự cấp", có tính cộng đồng cao, gắn liền với quan niệm thần bí, các nghi thức cúng bái, lễ hội. Ngược lại, dân tộc Kinh từ lâu đã sống trong những ngôi nhà tranh, vách đất, nền trệt mà sau này là nhà lợp ngói, tường xây. Và dưới những mái nhà ấy là khoảng không gian văn hóa bảo lưu các nếp sống, tâm lí cộng đồng được sàng lọc qua bao thế hệ. Các tập tục của cộng đồng và dân tộc lần lượt diễn ra trong gia đình theo một chu kì sống của mỗi cá nhân, thế ứng xử với gia đình, gia tộc, xóm làng và xã hội. tuy cũng có một số thay đổi theo thời gian cho phù hợp với hoàn cảnh xã hội mới, cùng đất mới như đơn giản hóa một số lễ thức, lễ nghi, nhưng cơ bản vấn giữ được nhiều nét đặc thù vốn có của người Việt cổ. Nước ta có nền văn minh lúa nước xuất hiện từ rất sớm. Từ xa xưa, người Việt đã biết làm đất, trồng lúa, xây đắp đê điều ngăn lũ, tận dụng được nguồn phù sa màu mỡ để cung cấp cho đất. Từ đó hình thành nhiều tín ngưỡng, phong tục như cúng thần lúa, mừng vụ mùa..... cũng góp phần làm giàu thêm cho văn hóa dân tộc. Ngôn ngữ của người Việt Nam cũng là một bằng chứng chứng minh cho sự đa dạng của văn hóa Việt. Việt Nam bắt đầu có chữ viết riêng của mình vào khoảng nửa đầu thế kỉ X. đó là chữ Nôm, một loại chữ tượng hình được sáng tạo và phát triển dựa trên chữ Hán của người Trung Hoa. Chữ Nôm dễ hiểu và dễ dùng hơn chữ Hán. Sau này Việt Nam có chữ quốc ngữ theo hệ chữ La Tinh. Tiếng Việt rất giàu và đẹp. Người ta thường nói : "Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam". Chính sự phức tạp ấy làm nét tiêng của tiếng Việt, giúp tiếng Việt là một ngôn ngữ độc lập của riêng Việt Nam mà không một quốc gia nào có được. Người Việt Nam cũng luôn tự hào khi có một kho tàng văn hóa dân gian và văn hóa thành văn rất phong phú, đồ sộ. Văn hóa dân gian bao gồm văn học dân gian, văn nghệ dân gian, các phong tục như cưới xin, ma chay.... được truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác qua hình thức truyền miệng, vì thế có nhiều dị barnvaf có nhiều sự thay đổi cho phù hợp với sự phát triển của lịch sử. những dị bản ấy cũng góp phần vào sự đa dạng của văn hóa Việt Nam. Văn hóa thành văn xuất hiện từ khi có chữ viết, nhằm đáp ứng nhu cầu lưu giữ những thành tựu văn hóa dân gian và nhu cầu sáng tạo văn hóa mang tính cá nhân. Văn hóa thành văn là kho tàng văn hóa quý báu vì nó giúp lưu trữ tất cả những gì là gốc gác, là cội nguồn của văn hóa Việt ngày nay. Sự đa dạng trong nền văn hóa của người Việt chúng ta còn xuất phát ở chỗ cũng là một dân tộc, dù cùng là dân tộc thiểu số hay dân tộc Kinh, nhưng có sự phân hóa về phong tục, tập quán, lễ hội, tín ngưỡng do sự phân hóa về địa lí. Mỗi miền, mỗi vùng đều có đặc điểm riêng về thổ canh, thổ cư nên sẽ dẫn đến trong quá trình lao động và sản xuất, sinh sống phát sinh nhiều điểm khác biệt. Ví dụ như cùng là người Kinh nhưng người miền Bắc lại có cách sống, cách làm việc cũng như tính cách con người khác với người miền Nam, miền Trung. Đất Bắc là nơi có lịch sử nghìn năm văn hiến, kinh đô các triều đại phong kiến đa phần được xây dựng ở đây nên các tỉnh, thành phố ở Bắc Bộ nói chung cũng như Hà Nội mà xưa là kinh thành Thăng Long nới riêng được xem là cái nôi văn hóa của Việt Nam. Bằng chứng là nhiều di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, nhiều khu di tích, chùa, các lễ hội, tín ngưỡng dân gian vẫn còn tồn tại và phát triển cho đến ngày nay như làng quan họ Bắc Ninh, lê hội đền Hùng hay lễ hội Chùa Hương, chùa Thầy... Còn ở miền Nam, do sự ảnh hưởng bởi sự đô hộ, xâm lược của giặc Tàu lẫn giặc Tây nên văn hóa ở đây có sự tiếp thu và phát huy các thành tựu văn hóa tiến bộ của Trung Hoa và phương Tây, bên cạnh đó văn hóa truyền thống vẫn được gìn giữ và phát triển. Ở đây có sự sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số như Chăm, Khơ- Me, Hoa...... tạo thành vùng văn hóa đa màu sắc. Tất cả những điều ấy tạo nên bề dày của nền văn hóa Việt. Ngoài ra các hình thức sinh hoạt thường ngày của mỗi gia đình Việt như các xưng hô, cách nấu nướng, chế biến các món ăn của mỗi vùng đất cũng góp phần tạo nên nét đặc thù của văn hóa Việt Nam. Trong thời đại kinh tế thị trường hiện nay, đã có thể tồn tại và phát triển. Việt Nam phải hòa nhập cùng thế giới. Chúng ta cần phải giao lưu văn hóa với bạn bè láng giềng, khu vực, giúp bạn bè quốc tế hiểu biết thêm về văn hóa Việt Nam, quảng bá hình ảnh một Việt Nam với nghìn năm văn hiến, với một nền văn hóa đa dạng và phong phú không thua kém bất cứ một quốc gia nào.Đồng thời, cũng tích cực tìm hiểu và tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nước bạn để làm giàu văn hóa của nước mình. Tuy nhiên, hòa nhập chứ không phải là hòa tan, hòa nhập không có nghĩa là vưt bỏ tất cả những gì thuộc về giá trị truyền thống mà chạy theo những hời hợt, tầm thường, đánh mất cả bản sắc văn hóa dân tộc. Điều đó sẽ làm cho Biệt Nam trở thành một nước không nguồn cội, gốc tích, không phải là một Việt Nam riêng với đầy đủ những đặc điểm đúng theo đúng nghĩa của nó. Sẽ không còn là Việt Nam của thời đại mà con cháu đã và đang tự hào, bạn bè thế giới đã và đang ngưỡng mộ. Nếu vứt bỏ quá khứ, vứt bỏ truyền thống thì người Việt Nam đã tự vứt bỏ, tự đào thải chính mình. Tóm lại, Việt Nam có một nền văn hóa đậm đà bản sắc và đáng tự hào. Vì thế, việc giữ gìn và phát triển văn hóa dân tộc là việc đáng được quan tâm, chú ý và là một việc không hề đơn giản. Có lẽ việc giữ gìn ấy nên bắt đầu từ sự tự ý thức của mỗi cá nhân trong đời sống hàng ngày. Mỗi cá nhân phải có trách nhiệm giữ gìn và bảo vệ các di sản, di tích văn hóa do ông cha ta khổ công gây dựng. Việc bảo vệ ấy không chỉ góp phần bảo vệ chung cho cả cộng đồng mà còn chính là tự bảo vệ cho bản thân mỗi người. Tiếp tục tiếp thu trinh hoa văn hóa nhân loại cũng là hành động đóng góp phần giữ gìn và phát triển nền văn hóa bản địa.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 835
|
|
|
|
Sống trước hết là tồn tại "nhưng con người còn có ra gì nếu tỏa những phần tinh túy và giá trị đời mình vào việc ăn ngủ. Chỉ là một con vật không hồn". Vậy sống là tồn tại có ý thức. Ý thức thể hiện ở suy nghĩ và hành động. Ngược lại, chết có nghĩa là không tồn tại, không có ý thức, vô tri như cỏ, đá. Lựa chọn giữa sống- chêt, chính là cuộc đấu tranh giữa nhận thức, lí trí và hành động trên bình diện tâm hồn. Một lần nữa, vấn đề ấy lại được đặt ra trong câu nói : "Trong AIDS im lặng là chết". Đề cập một cách trực diện vấn đề, ý kiến "trong AIDS im lặng là chết" đưa đến một nhận thức về cách sống tích cực trong vô vàn con đường sống : cần tránh thái độ "im lặng" trong AIDS là thái độ sống đúng đắn nhất trong cuộc chiến đấu chống căn bệnh thế kỉ, bảo vệ sự sống. AIDS là một căn bệnh thế kỉ. Theo đánh giá của tổng thư kí LHQ Cô-phi An-nan, thảm họa AIDS không chỉ là vấn đề sức khỏe mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của nhân loại. Ở Việt Nam, cứ $15$ phút là có một người nhiễm AIDS, nếu không hành động thì mọi việc sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Có thêm một người nhiễm nó thì cuộc đời có thêm một khoảng đen tối, vì cái ác, tệ nạn cứ mãi tồn tại. Tốc độ hoành hành của dịch bệnh đã gia tăng chóng mặt kể từ khi phát hiện ca đầu tiên vào năm $1981$. Căn bệnh cũng đe dọa đến trẻ em và phụ nữ, còn trẻ em mồ côi nhiễm AIDS ngày càng tăng. Trẻ em cũng khó điều trị nếu thiếu thuốc riêng thích hợp. Việc lên tiếng phòng chống AIDS là một vấn đề cấp bách nhất hiện nay, là một phong trào cần được tuyên truyền rộng rãi. Thái độ "im lặng" trong AIDS là đáng phê phán và cần được khắc phục, bởi nó dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Trước hết, sự thờ ơ của xã hội làm cho nạn nhân nhiễm bệnh ngày càng mặc cảm, xa lánh xã hội. Hai là, việc ít tuyên truyền rông rãi về hiểm họa AIDS khiến cho nhiều người có suy nghĩ lệch lạc về căn bệnh thế kỉ này thật vô cùng đáng lên tiếng. Vì hầu hết mọi người đều không hiểu rõ mối nguy hại của căn bệnh nguy hiểm này, đồng thời các phương tiện truyền thông ngại khi nói nó và bản thân người nhiễm nó cũng không muốn đối diện với cuộc sống bên ngoài. Trong các áp phích tuyên truyền và phát biểu tại các Hội nghị quốc tế lần thứ $15$ về AIDS của Mỹ không có dòng nào nhắc đến tình trạng nhiễm AIDS của người Mỹ gốc Phi. Đây là một quan niệm sai lầm về sự phân biệt tầng lớp chủng tộc của giới lãnh đạo Mỹ, gây những ảnh hưởng đến cuộc chiến chống AIDS. Lối sống "im lặng" không hoàn toàn vì lí do không nhận thức được mà chính là sự thờ ơ của xã hội. Có gì hơn đâu ngoài một lớp vỏ, một thể xác mang hình hài một con người nhưng vô tri vô giác. Liệu có xứng đáng là một con người giữa cuộc đời này chăng? Thái độ sống như thế là hoàn toàn sai lầm, hoàn thoàn đáng lên án. Cần tạo ra một khi không khí hòa đồng, tránh sự kì thị, phân biệt trong xã hội đối với những người bị nhiễm căn bệnh quái ác này. Ngoài ra, nguyên nhân của sự "im lặng" trong AIDS chính là do nỗi sợ hãi của người bệnh. Với họ, căn bệnh này là một thứ vô cùng ghê tởm, họ xa lánh xã hội. Thật đáng thương cho họ! Chính cái sợ vô hình đó, con người đành chịu đựng những nỗi khổ, ngày càng dấn thân vào con đường chết mà không thử một lần ngẩng lên chống lại, tiêu diệt chúng đi. họ không đủ tự tin để sống trong xã hội và ngày càng dấn thân vào cái ác, cái xấu, sự đau khổ cứ mãi tồn tại. Hành động tuyên truyền về căn bệnh nguy hiểm ngay chính lúc này là một nhu cầu bức thiết của xã hội. Nó là thứ vũ khí giúp người ta sống. Đối với cộng đồng xã hội, cần tạo bầu không khí cởi mở cho những bệnh nhân AIDS tâm sự và trao đổi cũng như để mọi người có kiến thức phòng chống nó. Tổ chức lao động quốc tế kêu gọi mọi người nên tự nguyện thử HIV/AIDS và coi nó là hoạt động thường kì. Nếu trên $90\%$ người nhiễm bệnh không được phát hiện và điều trị thì việc phòng chống đã thất bại, một hiện trạng thường xảy ra ở các nước phát triển. hội nghị ỏa THÁI LAN cũng đề cập đến vấn đề này và khuyến khích xét nghiệm HIV thường kì, áp dụng với các bệnh nhân đến khám ở các bệnh viện hoặc các trung tâm y tế. Đây là một đoạn trích trong "Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS1, $1- 12-2003$" của tổng bí thư liên hiệp quốc có những điều đáng lưu tâm. Cô-phi An-nan khẳng định "Dè dặt, từ chối đối mặt với sự thật không mấy dễ chịu này, hoặc vội vàng phán xét đồng loại của mình, chúng ta sẽ không đạt được tiến bộ hoàn thành các mục tiêu đề ra, thậm chí chúng ta còn bị châm hơn nữa, nếu sự kì thị và phân biệt đối xử vẫn diễn ra đối với những người bị HIV/ AIDS". Và ông lên tiếng kêu gọi "Trong thế giới khốc liệt của AIDS, không có khái niệm chúng ta và họ. Trong thế giới đó, im lặng nghĩa là đồng tình với cái chết". Hơn lúc nào hết ta hiểu rõ mức độ nguy hại của việc "im lặng". Cái khó là có thể nói ra được những gì mà người khác hiểu, chất chưa nhưng không giám thừa nhận. Câu tuyên truyền "Trong AIDS im lặng là chết" thật có ý nghĩa. Nó không chỉ phù hợp với một phút giây mà cũng là của thời gian của mãi mãi : "Sống phải là đấu tranh, cải tạo thế giới, tiêu diệt cái ác, cái xấu, sự bất công" (Shakespeare).
|
|
|
|
giải đáp
|
Tiết kiệm, đừng nói suông.
|
|
|
|
Khi làm bánh mọi thứ đều có công thức chuẩn riêng nên cần có những chiếc ly có chia vạch tiện dụng. Thừa hay thiếu nguyên liệu thường làm ra những mẻ bánh dở. Trong cuộc sống cũng vậy, sự thừa hay thiếu chẳng thể hiện đằng cấp mà chỉ chứng tỏ chúng ta đang làm ra những mảnh bẻ dở. Vì vậy, dưới cái nìn đầy trách nhiệm và tâm huyết ta cần phải chấp nhận chuyện lãng phí và tiêu dùng thiếu định hướng đang là một hiện tượng tiêu cực đáng lưu tâm trong xã hội. Chính lúc này, lối sống tiết kiệm bắt buộc phải được hình thành và trở thành một nền văn hóa, chính là VĂN HÓA TIẾT KIỆM. Tiết kiệm không có nghĩa là không dùng, không tiêu pha, chỉ lo bo bo giữ tiền trong nhà thì hoàn toàn sai lầm. Tiết kiệm ở đây không hoàn toàn đối lập với việc không chi tiêu cho những cái ta cần. Mặt khác, tiết kiệm có nghĩa là chỉ tiêu đúng trong sinh hoạt, cuộc sống thường ngày trong nhà lẫn ngoài xã hội. Tiết kiệm là truyền thống của người dân Việt Nam từ ngàn đời nay, thế nhưng phải chăng truyền thống đã bị mai một. Tiết kiệm đúng đã từng là truyền thống của người Việt Nam : chọn đồ thì chọn những thư "nồi đồng cối đá", đồ hư thì phải sửa lại dùng chứ không bao giờ vứt đi cả đống. Chúng ta đã có tấm gương sáng như cụ Hồ, vua Lí Thái Tổ "mặc áo xô, đi giày gai"... Một đất nước còn quá nghèo, phải gánh chịu nhiều năm đô hộ cả phương Bắc lẫn phương Tây, nó đã tụt hậu quá xa với xu hướng phát triển của thế giới. Vì vậy, việc thực hiện lối sốn tiết kiệm có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Điều đó đòi hỏi phải có những công nhân kiên trì góp những viên gạch xây dựng nến lối sống tiết kiệm. Lúc này hơn bất cứ lúc nào, hãy tiết kiệm- đừng nói suông. Dường như có sống trong khó khăn thì người ta mới ý thức được lối sống tiết kiệm. Những người già thừng bảo nhau "buôn tàu buôn bè không bằng ăn dè hà tiện". Và cho đến khi cuộc sống có vẻ khá giá lên thì họ vẫn giữ mãi thói quen đó. nó đã ăn sâu vào tiềm thức, vào cách sống, lối sinh hoạt của họ. Tuy nhiên, giới trẻ lại hoàn toàn ngược lại càng xài sang, chứng tỏ là mình có giá trị vì thế họ cứ xài cho thật là lãng phí, đó là những giá trị ảo đang ngày càng bành trướng trong xã hội. Bởi vì, nó có thể chứng tỏ họ là những công tử, những cô tiểu thơ giàu có. Và nó đã trở thành một thói quen một lối sống xài sang, lối sống vung tay quá trán. Để rồi đến khi năng lượng ngày càng cạn kiệt, giá cả tăng cao thì chúng ta mới giật mình nhận ra chúng ta cần phải tiết kiệm. CÁc nước đang tìm cách thoát ra kiểu sống chuộng hình thức tìm lối sống giản dị thì Việt Nam chúng ta mới bắt đầu... Ngày nay giới trẻ bị "nô lệ" cho $4$ chứ M : Money (tiền bạc), Mobile (điện thọa), McDonal's (thức ăn nhanh), Mercades (xe hơi hàng hiệu). Thật đáng lo lắng cho cuộc sống của thế hệ sau này ! Đã đến lúc chúng ta phải gióng lên hồi chuông báo động cho toàn xã hội về lối sống tiết kiệm! Phải tiết kiệm, vâng phải tiết kiệm..... nhưng phải tiết kiệm như thế nào thì hầu như chưa ai rõ. Tiết kiệm mang lại lợi ích không thể chối cãi, nhưng tiết kiệm như thế nào cho hiệu quả và hợp lí thì lại không dễ chút nào. Ở đây đòi hỏi ý thức tự giác. Tiết kiệm phải trở thành một lối sống đẹp phổ biến trong mọi tầng lớp xã hội, xây dựng một nền văn hóa tiết kiệm. Lúc này đòi hỏi phải có những trái tim thật sự chung nhịp đập với xu hướng phát triển của xã hội. Trên đất nước Việt Nam xinh đẹp này vẫn còn những cảnh sống không thể nào không quan tâm, trong đó có những xóm làng $4$ không : không tiền, không điện, không chữ,... và không tương lai. Vậy mà , lại có những việc làm thật đáng lên tiếng: Lượng tiền nằm ngoài quản lí của nhà nước đã không thể kiếm soát được. Nó gây ra hiện tượng phá giá tiền, làm cho giá trị của đồng tiền ngày càng xuống thấp, là lúc lạm phát tăng nhanh. Trong khi đó lại có những người cần vô cùng một tí tiền để mua những trang vật dụng bình thường mà không thể, mức sống của công nhân lao động ngày càng xuống thấp.... Cùng lúc đó, xài sang điện mỗi năm ta tốn $8$ ti USD,.... Đó không còn là việc nhỏ nữa mà đã trở thành những lực cản kinh tế rõ rệt của nền kinh tế công nghiệp hóa hiện đại hóa. Vậy, mỗi công dân cần có trách nhiệm với chính cuộc sống của mình và đối với cuộc sống của cộng đồng xã hội. CHLB Đức và Nhật Bản đã tiến hành cuộc vận động "Dừng xe tắt máy một động tác hai lợi ích" trên phạm vi toàn quốc. Một điều đã được bổ sung vào Luật giao thông : người tham gia giao thông không được bổ sung vào quỹ bảo vệ môi trường quốc gia. Ngoài ra, trên thế giới còn có những ngôi làng trở về cuộc sống khi xưa không đèn không có những vật dụng hiện đại, để thích nghi với cuộc sống thiếu năng lượng... Đó là những giải pháp thiết thực của thế giới, còn ở nước ta thì có những giải pháp gì? Một việc làm hết sức thiết thực là trên báo Tuổi Trẻ đã dành một góc cho diễn đàn "tiết kiệm, đừng nói suông" và đã đưa ra nhiều đóng góp to lớn trong cách tiết kiệm sao cho hợp lí. Tiết kiệm là chuyện thường tình nhưng thời gian qua đã có nhiều cái trở nên bất thường, vậy thì nghĩa vụ của chúng ta phải tư duy tiết kiệm trở lại bình thường. Thói quen tiết kiệm đang bắt đầu len lỏi vào cuôc sống của chúng ta. Một bóng điện không cần thiết được tắt đi là một hành động tiết kiệm...... Đi xe đạp khi đi gần thay vì đi xe máy cũng là tiết kiệm..... Bớt thói quen nghèo mà xài sang, lãng phí...... Phải tiết kiệm cho mình, cho gia đình và cho toàn xã hội. ... Tất cả những việc đó đòi hỏi một quá trình thực hiện lâu dài, thường xuyên. Ý thức tiết kiệm vô cùng cần thiết trong cuộc sống năng lượng đang ngày càng cạn kiệt. Phải hành động ngay từ lúc này, ngay bây giờ và nhất thiết không được chần chừ. Tiết kiệm, đừng nói suông ! Ta tin rằng nếu có những trái tim biết nghĩ... một lối sống đẹp sẽ nhanh chóng hình thành.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 816
|
|
|
|
$1.$ Mở bài (Đặt vấn đề) Giới thiệu khái quát nội dung trọng tâm của đề : vai trò và tầm quan trọng của việc trong sạch từ thể chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm.
$2.$ Thân bài (Giải quyết vấn đề) - Giải thích vấn đề : Tuổi trẻ luôn tràn đầy nhiệt huyết trên con đường khám phá và xây dựng cuộc sống, hành trang cần thiết trên con đường ấy không thể thiếu sự "trong sạch từ thể chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm". Thế nào là trong sạch từ thể chất đến tinh thần ? + Thể chất : Đó là sự phát triển bình thường, đầy đủ về sức khỏe. Muốn có điều đó thì phải biết cách giữ gìn sức khỏe, rèn luyện thân thể thường xuyên, không bệnh tật..... + Tinh thần : Chăm lo bồi dưỡng tinh thần về nhiều mặt, đặc biệt là bồi dưỡng và bổ sung nguồn kiến thức về đạo đức, về văn hóa- xã hội, về khoa học- công nghệ, về thẩm mĩ..... Thế nào là trong sạch từ lời nói đến việc làm ? Có sự thống nhất giữa lời nói và việc làm. CÁch sống, nếp sống sinh hoạt ứng xử phải có văn hóa. - Chứng minh, bình luận : Khẳng định ý kiến : Đó là một trong những mục tiêu rèn luyện của tuổi trẻ và cũng là phương trâm giáo dục hiện nay hướng đến việc rèn luyện nhân cách toàn diện cho thanh niên. Có thể tự làm chủ được bản thân mình trước những cám dỗ, thử thách trong cuộc đời. Tinh thần minh mẫn, sáng suốt trong một thân thể khỏe mạnh- đó là điều kiện tuyệt vời để thực hiện ước mơ và hoài bão của chính bản thân. Sự thống nhất giữa lời nói và việc làm sẽ tạo được uy tín và niềm tin cho tất cả mọi người với chính bản thân mình. Từ đó : Tự khẳng định được vai trò của mình trước cuộc sống. Có thể thực hiện được ước mơ, hoài bão và thuận lợi trên con đường tìm đến chan lí, lí tưởng sống. Có thể làm chỗ dựa vững chắc cho gia đình, là tấm gương cho nhiều người và có thể làm rường cột cho đất nước. - Mở rộng vấn đề : Phải có ý thức về vai trò của thể chất, tinh thần, lời nói, việc làm đối với tương lai và sự nghiệp của chính mình, của gia đình, của đất nước. Cố gắng rèn luyện, kết hợp hài hòa các yếu tố trên. Phải có sự kết hợp và góp sức của gia đình, nhà trường và toàn xã hộ đối với thế hệ tương lai.
$3.$ Kết bài (Kết thúc vấn đề) Chốt lại vấn đề : Khẳng định lại một lần nữa về vai trò và tầm quan trọng của việc trong sạch ở bốn yếu tố : thể chất, tinh thần, lời nói, việc làm.
|
|