|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 10/07/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 09/07/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 08/07/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 07/07/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 06/07/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 05/07/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 04/07/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 03/07/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1429
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
1. Hoàn cảnh ra đời bài thơ Việt Bắc a. "Việt Bắc" là tác phẩm xuất sắc của Tố Hữu nói riêng và thơ Việt Nam hiện địa nói chung. b. Bài thơ được sáng tác vào tháng 10 năm 1954. Đây là thời điểm các cơ quan của trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc trở về thủ đô Hà Nội, sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc vẻ vang với chiến thắng Điện Biên phủ và hòa bình lập lại ở miền Bắc. c. Nhân sự kiện lịch sử có ý nghĩa này, Tố Hữu viết bài thơ để ôn lại một thời kháng chiến gian khổ mà hào hùng, thể hiện nghĩa tình sâu nặng của những người con kháng chiến đối với nhân dân Việt Bắc, với quê hương cách mạng. 2. Những đặc sắc nghệ thuật của bài thơ Việt Bắc Bài thơ "Việt Bắc" (đoạn trích được học) có nghệ thuật đậm đà tính dân tộc. a. Thể thơ quen thuộc của dân tộc đã được sử dụng thành công. b. Kết cấu đối đáp thường thấy trong ca dao, dân ca truyền thống được dùng một cách sáng tạo để diễn tả nội dung, tình cảm phong phú về quê hương, con người, tổ quốc và cách mạng. c. Các đại từ nhân xưng "Mình - ta" với sự biến hóa linh hoạt và những sắc thái ngữ nghĩa - biểu cảm phong phú vốn có của nó được khai thác rất hiệu quả. d. Những biện pháp tu từ (so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, tượng trưng . . .) quen thuộc với cách cảm, cách nghĩ của quần chúng được dùng nhuần nhuyễn.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1428
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
I. Giới thiệu vài nét về bài thơ, đoạn thơ 1. Bài thơ ra đời ở một thời điểm đặc biệt: tháng 10 năm 1954, khi trưng ương Đảng, Chính phủ, Bác Hồ và cán bộ chiến giã từ Việt Bắc về với Thủ đô Hà Nội, bài thơ "Việt Bắc" trở thành bản anh hùng ca, bản tình ca về "Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng" của cách mạng và cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong từng chặng đường phát triển của Cách mạng và cuộc kháng chiến, Tố Hữu đã viết nên nhiều đoạn thơ hùng tráng mang đậm chất sử thi, cảm hứng lãng mạn. 2. Đoạn thơ này nằm ở phần gần cuối của đoạn trích trong sách giáo khoa lớp 12. Ý bao trùm cả đoạn thơ là cảm hứng hào hùng về đất nước và con người Việt Nam ra trận vơi skhí thế và sức mạnh vô địch của cuộc chiến tranh nhân dân vĩ địa. II: Phân tích, bình giảng đoạn thơ 1. Niềm tự hào về không khí hùng tráng của cả nước đang ra trận Bức tranh là cả một đất nước đang ra trận thể hiện qua hình ảnh những nẻo đường trên chiến khu Việt Bắc.Cảm hứng về sức mạnh tấn công được thể hiện qua nhón từ "Những đường Việt Bắc" và cảm hứng làm chủ được xác định bằng từ "của ta"; không khí sôi động qua từ láy "rầm rập" và biện pháp so sánh cho phần cường điệu: "Như là đất rung". 1. Cảm hứng hào hùng về sức manh vô địch của khối đoàn kết toàn dân trong kháng chiến. - Hình ảnh về sự trưởng thành lớn mạnh, về lực lượng hùng hậu của quân đội ta trong kháng chiến. Chú ý phân tích từ láy "điệp điệp trùng trùng". Nó gợi cho người đọc đoàn quân ra trận nối dài vô tận và hùng vĩ như thiên nhiên sống núi. Hình ảnh đầu súng nhấp nhô, lấp lánh sao trời,"bạn cùng mũ nan" rất giàu màu sắc tạo hình, vừa có ý nghĩa cụ thể, vừa có tính chất tượng trưng . .. - Hình ảnh những đàon dân công ngày đêm bền bỉ tiếp lương, tải đạn ra chiến trường cũng tràn ngập niềm vui như quang cảnh một đêm hội hoa đăng "Dân công đỏ đuộc từng đoàn", "Bước chân nát đá", cái khí phách này chỉ tìm thấy trong các truyện thần thoại như Thánh Gióng, Sơn Tinh, Thủy Tinh . . . Với một đoạn thơ ngắn mà tác giả đã dùng hàng loạt điệp từ, từ láy gợi nên những hình ảnh, âm thanh đầy ấn tượng, khiến cho độc giả chúng ta như tận mắt trông thấy được khí thế hành quân hối hả, không ngừng của những đoàn người tiến ra mặt trận. Đặc biệt, nhịp thơ 2/2 như những bước chân mạnh mẽ oai hùng của cả một dân tộc đang tiến công với sức mạnh, khí thế như "trúc chẻ tro bay". 3. Cảm hứng tự hào về tương lai tất thắng của cuộc kháng chiến trường kì gian khổ. Chú ý cách xây dựng hình ảnh đối lập (giữa "Nghìn đêm thăm thẳm sương dày" với "Đèn pha bật sáng như ngày mai lên") đã làm nổi bật được sự trưởng thành vượt bậc của quân ta và niềm tin tất thắng của những người ra trận hôm nay. 4. Về nghệ thuật đặc sắc của đoạn thơ: Ngoài những điều đã phân tích ở trên chúng ta thấy nét độc đáo về nghệ thuật của đoạn thơ còn được thể hiện ở sự quan sát đi từ cái chung, cái khái quát đến cái cụ thể, bằng các giác quan: thính giác, thị giác. III Kết luận Đoạn thơ là bức tranh hoành tráng về khí thế của một dân tộc anh hùng, về sức mạnh vô xong của cuộc chiến tranh nhân dân vĩ đại. Trong cảm hứng hào hùng, Tố Hữu đã tái hiện lại thành công một thời kìđáng ghi nhớ của lịch sử dân tộc.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1427
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
Những ý chính cần có: 1. Cách phân tích - bình giảng đoạn thơ Đối với cấu trúc cụ thể của đoạn thơ này, chúng ta có thể làm theo hai cách: Bình giảng vẻ đẹp riêng của bức tranh thiên nhiên Việt Bắc và vẻ đẹp của con người với công việc của họ; hoặc bình giảng từng cặp lục bát. Dù làm theo cách nào thì bài làm cũng phải nêu bật được nội dung cảm xúc và thành công nghệ thuật, những nét đặc sắc trong cấu trúc, cách dùng từ, tiết tấu, nhịp điệu . . . của tác giả. Ở đây chúng ta bình giảng theo cách thứ hai. II Giới thiệu khái quát bài thơ Việt Bắc và vị trí của đoạn trích - Bài thơ "Việt Bắc" được sáng tác vào tháng 10 năm 1954, khi Trung ương Đảng, Chính phủ, Bác Hồ và cán bộ kháng chiến giã từ chiến khu Việt Bắc về thủ đô Hà Nội. - Thông qua cuộc đối đáp có tính chất tưởng tượng giữa đồng bào Việt Bắc và người cán bộ kháng chiến về xuôi, mà thực chất là lời độc thoại nội tâm của chính tác giả như thể người yêu đưa tiễn người yêu đầy lưu luyến, vấn vương, Tố Hữu đã tái hiện lại được bức tranh kháng chiến và tình cảm gắn bó ân tình giữa miền ngược với miền xuôi, giữa nhân dân với cách mạng. - Đoạn thơ bình giảng nằm ở phần một bài thơ, là lời người ra đi nói với người ở lại về tấm lòng mình với cảnh và người Việt Bắc. Đoạn thơ đã kết tinh được những nét đặc sắc của bài thơ và phong cách nghệ thuậ thơ Tố Hữu. III Bình giảng đoạn thơ 1. Bình giảng hai câu đầu - Thể hiện khái quát nội dung cảm xúc của cả đoạn thơ: nhớ cảnh đi liền với nhớ người (Hoa tượng trưng cho vẻ đẹp thiên nhiên Việt Bắc). - Câu thơ là câu hỏi nhưng đồng thời cũng là lời đối thoại. Hỏi đã trở thành cái cớ để bày tỏ tâm trạng, nỗi niềm. - Chính nỗi nhớ "Những hoa cùng người" đã chi phối cấu trúc đoạn thơ còn lại: 8 câu thành 4 cặp lục bát cân đối hài hòa. Cứ một câu sáu tả hoa, tả cảnh, thì lại xem vào 1 câu 8 tả người. Cảnh hiện lên với những vẻ đẹp đa dạng trong không gian, thời gian, thay đổi tạo thành một bộ tứ bình đặc sắc: Xuân, hạ thu, đông. Mỗi mùa có những đường nét, màu sắc, âm thanh, ánh sáng chủ đạo, tất cả thấm đậm trong tình cảm nhớ thương tha thiết của tác giả. Con người qua ngòi bút của Tố Hữu trở nên bình dị, giàu lòng thủy chung, ân tình với cách mạng, với kháng chiến; vẻ đẹp của cảnh hòa quyện với vẻ đẹp của người làm và cùng tôn nhau lên: Việt Bắc đâu cũng có cảnh đẹp, đâu cũng có con người ân tình, chăm chỉ. 2. Bình giảng 8 câu thơ còn lại: Câu 3,4: Đông về với màu xanh trầm mặc bát ngát bao la của rừng, có điểm những bông chuối đỏ tươi như son, tạo thành một bức tranh với đường nét, màu sắc vừa đối lập, vừa hài hòa, vừa cổ điển, vừa hiện đại. - Gam màu "đỏ tươi" của hao chuối là gam màu ấm nóng và tiềm ẩn một sức sống bên trong dường như để làm vơi đi hoang sơ, hiu hắt, lạnh giá vốn có của núi rừng. - Con người: trước thiên nhiên bao la dường như trở nên vững chãi, tự tin hơn, bởi cái tư thế làm chủ đầy kiêu hãnh của họ trong cuộc sống lao động: lên núi làm nương, sản xuất ra nhiều lúa, ngô phục vụ cho kháng chiến. Con người ở đây xuất hiện trong một vị trí, tư thế đẹp nhất. Câu 5,6: Đông qua xuân lại về. Bao trùm lên cảnh vật là màu trắng dịu dàng, trong trẻo, tinh khiết của hoa mơ nở khắp rừng "mơ nở trắng rừng". Chú ý từ "trắng" được tác giả sử dụng như một động từ gợi cho người đọc cảm giác màu trắng ấy đã làm bừg sáng cả khu rừng (có thể liên hệ thêm câu thơ Tố Hữu viết sau này: "Trắng rừng biên giới nở hoa mơ"). - Hình ảnh con người với công việc của mùa xuân: "Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang". Hình ảnh thơ đã nói lên được bàn tay khéo léo, tài hoa, nhanh nhẹn, chăm chút và phẩm chất tần tảo cần cù của con gnười Việt Bắc. Câu 7,8: Bức tranh mùa hè với màu sắc rực rỡ, âm thanh rộn rã: "Ve kêu rừng phách đổ vàng". Chú ý phân tích bình giá ý nghĩa thẩm mĩ của từ ''đổ vàng". Chỉ trong một câu thơ mà ta như thấy được cả thời gian luân chuyển sống động: tiếng ve kêu báo hiệu mùa hè đến và cây phách ngả sang màu vàng rực rỡ. Đây chính là biểu hiện đặc sắc của tính dân tộc trong thơ Tố Hữu. - Hình ảnh con người: "Nhớ cô em gái hái măng một mình". Nhờ cách xưng hô gần gũi, thân thương của tác giả mà hình ảnh cô gái hái măng hiện ra thật đẹp và đáng yêu. Đó là hình ảnh cô gái mang vẻ đẹp ở nét chịu thương chịu khó và rất can đảm. Đằng sau hình ảnh đó, ẩn chứa biết bao tình yêu thương, trân trọng, cảm phục của tác giả. Câu 9,10: Thu sang, khung cảnh núi rừn chiến khu như được tắm trong ánh trăng xanh huyền ảo "Rừng thu trăng rọi hòa bình". Ánh trăng chiếu sáng không khí thanh bình nơi chiến khu gợi cảm giác về cuộc sống yên ấm, hạnh phúc, tươi vui. Ai đã từng trải qua những tháng ngày mưa bom " máu trộn bùn non", "sống chết từng giây mưa bom bao đạn" mới thấm thía hết sự xúc động của lòng người trong những đêm trăng hòa bình đó. Vì vậy, tác giả tả cảnh trăng rừng mà vẫn gợi được không khí rạo rực đắm say, bởi giữa ánh trăng rừng đó đã vang lên tiếng hát mang đậm ân tình chung thủy của người dân Việt Bắc, những người đã hi sinh tất cả cho kháng chiến, cách mạng để "Chín năm làm một Điện Biên; Nên vành hoa đỏ lên thiên sử vàng". Vì thế, những con người ấy đã trở thành điểm sáng ngời nhất của bức tranh chiến khu Việt Bắc. 3. Tiểu kết: - Đây là đoạn thơ tiêu biểu nhất cho nội dung và nghệ thuật của bài " Việt Bắc" - Những câu thơ lục bát đậm đà âm hưởng ca dao, có nhạc điệu dịu dàng, trầm bổng mang cảm xúc êm ái như một khúc hát ru kỉ niệm. - Cách xưng hô "mình - ta", một lối xưng hô truyền thống, đậm đà tình nghĩa, đặc biệt là điệp từ "nhớ" có tác dụng khắc sâu và cụ thể hóa tâm tình của người ra đi với cảnh và người Việt Bắc.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1426
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
Mở bài: Mở đầu bài thơ "Một nhành xuân" (tặng Đảng thân yêu tròn 50 tuổi), thơ Tố Hữu đã viết: "Năm 20 của thế kỷ 20 Tôi sinh ra. Nhưng chưa được làm người Nước đã mất. Cha đã làm nô lệ . . . Từ vô vọng, mênh mông đêm tối Người đã đến. Chói chang nắng dội Trong lòng tôi. Ôi Đảng thân yêu Sống lại rồi. Hạnh phúc biết bao nhiêu!" Niềm vui sướng, niềm hạnh phúc được tái sinh và niềm say mê mãnh liệt của Tố Hữu trong buổi đầu gặp gỡ lí tưởng Đảng đó, ngay từ buổi mười tám, đôi mươi, đã được ông viết nên bài thơ rất xúc động với những hình ảnh rất táo bạo, chói sáng gợi cảm và một nhạc điệu hăm hở lôi cuốn tràn đầy cảm hứng lãng mạn bay bổng: "Từ ấy". Thân bài: I. Vài nét về tác giả và bài thơ1. Tố Hữu (1920 - 2002) tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, quê ở làng Phù Lai, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Năm 1938, Tố Hữu được kết nạp vào Đảng Cộng sản. Từ đó, sự nghiệp thơ ca của ông gắn liền với sự nghiệp cách mạng, thơ ông luôn gắn bó và phản ánh chân thật những chặng đường cách mạng đầy gian khổ, hi sinh nhưng cũng nhiều thắng lợi vẻ vang của dân tộc Việt Nam. Năm 1996 ông được nahf nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. 2. Ngày được đứng vàp hàng ngũ những người phấn đấu vì một lí tưởng cao đẹp là bước ngoặt trong cuộc đời Tố Hữu. Ghi nhận kỉ niệm đáng nhớ, với phần "Máu lửa" của tập "Từ ấy" (tập thơ gồm 3 phần: "Máu lửa", "Xiềng xích" và "Giải phóng".) II. Phân tích - bình giảng bài thơ1. "Từ ấy" là một tứ thơ rất đắc sắc rất giàu ý nghĩa" Tứ thơ là một ý lớn bao quát toàn bài thơ, làm điểm tựa cho sự vận động của nội dung bài thơ". Ở bài thơ này, tứ thơ là "Từ ấy" - cái thời điểm có nghĩa bước ngoặt trong đại thiêng liêng trong cuộc đời cách mạng, đời thơ của tác giả. Đó là thời điểm Tố Hữu bắt gặp lí tưởng cộng sản. 2. Khổ I: Diễn tả niềm vui sướng, niềm hạnh phúc tột đỉnh và niềm say mê khi gặp lí tưởng Đảng. - Tác giả khẳng định lí tưởng cộng sản như một nguồn sáng mới làm bừng tỉnh, bừng sáng tâm hồn và trí tuệ nhà thơ (Chú ý phân tích hình ảnh "bừng nắng hạ": ánh sáng của ngày hè, rất nồng nàn, rạng rỡ. Từ "bừng" chỉ ánh sáng phát ra đột ngột). - Hình ảnh "mặt trời chân lí chói qua tim" là một hình ảnh độc đáo, bất ngờ, táo bạo, giàu ý nghĩa thẩm mĩ mà rất chính xác, gợi cảm. Mặt trời là nguồn sáng rực rỡ, chói chang và duy nhất đưa lại sự sống cho muôn loài. Hình ảnh "mặt trời chân lý" đi liền với nhóm từ "chói qua tim" đã diễn tả được niềm vui rất đỗi thiêng liêng, có cái gì đó gần như "choáng váng" (chữ dùng của Hoài Thanh) và sức xuyên thấu kì diệu, mạnh mẽ của lí tưởng Đảng đối với tình cảm, nhận thức của thi sĩ. - Hai câu sau: với bút pháp trữ tình, lãng mạn cùng với hình ảnh so sánh có tính chất khẳng định (Tố Hữu dùng từ "là" chứ không dùng từ "như"), tác giả đã bày tỏ được niềm hạnh phúc vô biên, sức sống kì diệu của tâm hồn mình trong buổi đầu đến với lý tưởng Đảng. Hẳn là trước đó, tâm hồn thi sĩ là một khu vườn mùa đông cành khô, lá úa thì giờ đây được gặp lí tưởng cách mạng, bỗng chốc tâm hồn đó trở thành một khu vườn mùa hạ xanh tươi, ngập tràn ánh nắng mặt trời nồng nàn, rộn rã tiếng chim ca và ngạt ngào hương sắc. Vẻ đẹp của khu vườn tâm hồn ấy, đối với Tố Hữu, nhà thơ cộng sản, còn là vẻ đẹp và sức sống mới của một tâm hồn thơ mới . .. 3. Khổ II: Biểu hiện những nhận thức, lẽ sống mới - Giác ngộ lí tưởng, giác ngộ nhận thức, lẽ sống với người cộng sản, trước hết là giác ngộ về chỗ đứng. Nhà thơ chủ động, tự giác hòa "cái tôi" với "cái ta" chung của mọi người, tự nguyện đứng trong hàng ngũ những người lao khổ. Từ "buộc" thể hiện ý thức tự nguyện sâu sắc và quyết tâm cao độ của Tố Hữu nguyện gắn bó mật thiết, sống chan hòa với "mọi người" với "trăm nơi" với quần chúng đông đảo trên khắp đất nước. Nhóm từ "để tình trang trải" thể hiện tâm hồn nhà thơ như muốn trải rộng với cuộc đời rộng lớn, tạo ra khản năng đồng cảm sâu xa với mọi cảnh ngộ của những cuộc đời cần lao. - Hai câi sau: "Để hồn tôi với bao hồn khổ . . . mạnh khối đời" khẳng định tình cảm hữu ái giai cấp Tố Hữu. Tâm hồn của thi sĩ từ đây sẽ nghiêng về phía "bao hồn khổ" đê cảm thông, chia sẻ, để cá nhân hòa vào tập thể, tạo nên một sức mạnh quần chúng đông đảo, vĩ đại. Sau này, khi đac trải qua gần 40 năm đời thơ, đờiu cách mạng, Tố Hữu cũng đã viết: "Tất cả cùng tôi. Tôi với muôn người. Chỉ là một. Nên cũng là vô số!" 4. Khổ III - Tố Hữu khẳng định sự chuyển biến tình ảm của mình. Tác giả tự nhận mình là một thành viên thân thiết ruột thịt trong gia đình quần chúng bị áp bức, đau khổ trong xã hội cũ. Các điệp từ "là" cùng các từ "con", "em", "anh" đã khẳng định điều đó. - Số từ ước lệ "vạn" chỉ số lượng hết sức đông đảo. Chính những "người anh" phải sống "kiếp phôi pha", những người "em" . .. "cù bất cù bơ" ấy mà người thanh niên cộng sản Tố Hữu say mê hoạt động cách mạng và họ cũng chính alf đối tượng sáng tác chủ yếu của Tố Hữu. Không phải ngẫu nhiên mà từ đây, Tố Hữu đã bày tỏ niềm cảm thông sâu sắc với những người "em bé mồ côi", "em bé bán dạo", "chị vú em", "cô gái giang hồ", "lão đầy tớ" . . .những con người mà tác giả cho đó là "những người tù nhân khốn nạn bần cùng". Kết luận: - Từ ấy là một bài thơ sâu sắc về nội dung, độc đáo về nghệ thuật - Ngòi bút tinh tế, dùng hình tượng thơ táo bạo, chói sáng, giàu khát vọng, lãng mạn bay bổng, say người. - Câu thơ mạnh, cảm xúc thơ tràn đầy. Nhạc thơ biến đổi sinh động, hăm hở, dồn dập, say sưa, lôi cuốn. - "Từ ấy" còn là một tuyên ngôn nghệ thuật mang đậm phong cách thơ Tố Hữu. Nó xứng đáng là một tiếng hát lạc quan, yêu đời đắm say lý tưởng, ngày nay vẫn làm súc động hàng triệu trái tim độc giả.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1425
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
Tố Hữu là nhà thơ Cách mạng, nhà thơ chến sĩ. Ông làm thơ trước hết là để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng, cho lí tưởng của Đảng. Thơ ông đã kế tục dòng thơ cách mạng đầu thế kỉ XX, nhưng đã có sự '"cách tân". Vì thế, thơ Tố Hữu đã có một phong cách khá đa dạng và hấp dẫn. 1. Thơ Tố Hữu là thơ tình chính trị Những vấn đề về chính trị quan trọng như lòng yêu nước, lí tưởng cộng sản, tình cảm đồng bào, đồng chí, tình yêu nhân ân, đất nước . . . đã trở thành nguồn cảm hứng, cảm xúc chân thành sâu xa và trở thành lẽ sống, niềm tin. Với Tố Hữu, những vấn đề chính trị đã trở thành cái riêng tu và được ông diễn đạt bằng ngôn ngữ tâm tình, ngôn ngữ của tình yêu, tình bạn bè, mẹ con một cách tự nhiên không bị gượng ép. - Thơ Tố Hữu ít quan tâm đến mặt đời tư mà thường quan tâm và thể hiện những vấn đề như lẽ sống, tình cảm lớn của cách mạng: lẽ sống cộng sản, lẽ sống dân tộc, niềm say mê lí tưởng, niềm vui chiến thắng, ân nghĩa cách mạng, lòng kính yêu Đảng, lãnh tụ, tình cảm quốc tế . . . Vì vậy, đối với Tố Hữu, thơ trước hết phải là cái phương tiện dắc lực phục vụ cho sự nghiệp cách mạng, cho những nhiệm vụ chính trị đã trở thành thơ trữ tình sâu sắc. 2.Thơ Tố Hữu giai đoạn sau (từ cuối kháng chiến chống Pháp cho đến lúc thống nhất đất nước) mang nặng khuynh hướng sử thi. - Thơ ông chủ yếu đề cập đến với những vấn đề có ý nghĩa lịch sử và có tính chất toàn dân (cái "tôi" công dân, về sau là cái "tôi" dân tộc. Nhân vật trữ tình trong thơ Tố Hữu là những con người đại diện cho phẩm chất dân tộc, thậm chí mang tầm vóc lịch sử, thời đại như anh giải phóng quân, anh Trỗi, chị Trần Thị Lý . . .) 3. Thơ Tố Hữu tràn đầy cảm hứng lãng mạn, luôn luôn hướng tới người đọc, tới một chân trời tươi sáng và tương lai xã hội chủ nghĩa. Thể hiện cuộc sống bằng cảm quan ấy, thế giới hình tượng trong thơ Tố Hữu là thế giới của sự cao cả, lí tưởng của ánh sáng, gió lộng, niềm tin. 4. Thơ Tố Hữu có giọng tâm tình ngọt ngào, tha thiết, giọng của tình thương mến. Nhiều vấn đề chính trị, cách mạng đã được thể hiện như những vấn đề của tình cảm muôn đời (biểu hiện rõ nhất là qua cách xưng hô, trò chuyện tâm sự với đối tượng . . .). Giọng tâm tình, tiếng nói tình thương này có liên quan đến chất Huế của hồn thơ Tố Hữu, những chủ yếu là do quan hệ giữa nahf thơ và bạn đọc; do quan niệm của Tố Hữu về thơ. 5.Thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc không chỉ trong nội dung mà còn cả trong nghệ thuật. Các thể thơ truyền thống và thi liệu quen thuộc được sử dụng nhuần nhuyễn, ngôn ngữ giản dị, vần điệu phong phú, nhạc tính dồi dào. a. Thể thơ lục bát kết hợp với giọng cổ điển và dân gian thể hiện những nội dung cách mạng, làm phong phú cho thể thơ lục bát; thể thơ thất ngôn vừa trang trọng, vừa cổ điển vừa biến hóa, linh hoạt diễn tả được nhiều trạng thái, cảm xúc. b. Tố Hữu sử dụng từ ngữ lời nói quen thuộc dân tộc, thậm chí cả những ước lệ, những so sánh ví von truyền thống những dùng để biểu hiện nội dung mới cảu thời đại. c. Về nhạc điệu: Thơ Tố Hữu rất giàu nhạc điệu. Ông có biệt tài trong việc sử dụng các từ láy, dùng các vần phối hợp với các thanh điệu . . . kết hợp với nhịp thơ, tạo thành nhạc điệu phong phú cho các câu thơ, diễn tả được cảm xúc của dân tộc, tâm hồn dân tộc. d. Tính dân tộc còn được biểu hiện ở thế giới hình tượng mang đậm bản sắc quê hương, con người tất đỗi Việt Nam. Kết luận: Đúng như Xuân Diệu đã khẳng định "Tố Hữu đã đưa thơ chính trị lên đến trình độ là thơ rất đỗi trữ tình". Vì vậy, Tố Hữu xứng đáng là thi sĩ của nhân dân, là "lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt nam".
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1424
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
A. Mở bài "Thơ Tố Hữu là thơ của một chiến sĩ cách mạng, thơ của một nhà cách mạng làm thơ" (Xuâ Diệu). Thơ ông gắn bó chặt chẽ với cuộc đấu tranh cách mạng nên các chặng đường thơ cũng song hành với các giai đoạn đấu tranh ấy, đồng thời thể hiện sự vận động trong tư tưởng và nghệ thuật của nhà thơ. - Giai đoạn 1930 - 1945, Tố Hữu viết tập "Từ ấy" (1937 - 1946) gồm 3 phần "Máu lửa", "Xiềng xích" và "Giải phóng" tườn ứng với 3 chặng đường trong 10 năm hoạt động cách mạng của nhà thơ. + "Máu lửa" là tiếng reo náo nức của một tâm hồn được giác ngộ lí tưởng: " Từ ấy . . . rộn tiếng chim".Nhờ đó, nhà thơ nhận ra được ách áp bức giai cấp, những bất công của xã hội và thân phận của con người lao khổ. Ông thường hướng tâm hồn mình đến cảm thông với những con người bất hạnh đó và khơi dậy ở họ lòng căm thù, ý chí chiến đấu và niềm tin ở tương lai. + "Xiềng xích" thể hiện lòng yêu đời, khát khao tự do, chiến đấu, hoạt động, quyết không khuất phục uy lực và sự bạo tàn của kẻ thù. + "Giải phóng" - nhà thơ ca ngợi nền độc lập, thể hiện "niềm vui bất tuyệt" trước sự đổi đời vĩ đại của toàn dân tộc. - Giai đoạn 1946 - 1954: Tố Hữu có tập thơ "Việt Bắc". Đây là tập anh hùng ca, ca ngợi cuộc kháng chiến anh hùng và những con người bình dị mà trung dũng của cuộc kháng chiến. Đồng thời tập thơ cũng đã phản ánh những chặng đường gian lao, anh dũng và trưởng thành của cuộc kháng chiến cho đến ngày thắng lợi. Tập thơ cũng ca ngợi nhưungx tình cảm điển hình của con người kháng chiến như tình quân dân, tiền tuyến với hậu phương, miền ngược với miền xuôi, cán bộ với quần chúng, tình yêu thiên nhiên, tình yêu Đảng, yêu Bác Hồ . . . - Giai đoạn 1955 - 1975: Ông ra đời 3 tập thơ: + "Gió lộng": vừa thể hiện niềm vui, niềm tự hào và tin tưởng ở công cuộc xây dựng chủ ngĩa xã hội ở miền Bắc, vừa bày tỏ tình cảm thiết tha của mình với Miền Nam và tiếng thét căm thù giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ Quốc. Tập thơ còn bày tỏ tình cảm biết ơn với cha ông, lòng ân tình cách mạng, tình cảm quốc tế, anh em rộng lớn. + "Ra trận" (1962 - 1971) là khúc ca ra trận, là mệnh lệnh tiến công và lời kêu gọi, cổ vũ hào hùng cả dân tộc vùng lên quyết đập tan "tan đầu Mĩ - Ngụy". Ra trận dã dành hẳn một trường ca "Theo chân Bác" để tái hiện lại hình ảnh Bác trêb chặng đường lịch sử trong hơn nửa thế kỉ. + "Máu và hoa" tiếp tục ngợi ca, cổ vũ cuộc chiến đấu chống Mĩ, khẳng định ý nghĩa lớn lao, cao cả của cuộc kháng chiến chống Mĩ đối với lịch sử dân tộc và con người Việt Nam mà tác giả hết sức ngợi ca, cảm phục. Tập thơ còn là khúc khải hoàn, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước. - Thơ Tố Hữu những năm chống Mĩ cứu nước mang đậm tính chất chính luận và chất sử thi, nhiều chỗ vươn tới âm hưởng hùng ca. Có thể trình bày thêm: Từ năm 1978 trở lại đây, ông có hai tập "Một tiếng đàn" (1992) và "Ta với ta" (1999): Qua những năm tháng thăng trầm, trải nghiệm trước cuộc đời, Tố Hữu muốn chiêm nghiệm về cuộc sống, về lẽ đời, hướng tới những qui luật phổ biến và kiếm tìm những giá trị bền vững. Giọng thơ cũng vì thế trở nên trầm lắng, thấm đượm chất suy tư. Kết luận: Thơ Tố Hữu là một bằng chứng sống cho sự kết hợp nhuần nhuyễn giũa chính trị và nghệ thuật. Với ngôn ngữ, thể thơ giàu tính đại chúng, cách mạng.Thơ Tố Hữu đã truyền cho hàng triệu độc giả niềm say mê lí tưởng cách mạng.
|
|
|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 01/07/2013
|
|
|
|
|
|