|
|
đặt câu hỏi
|
Ai trả lời được.....?
|
|
|
|
Phân biệt hai khái niệm: Nhân vật trữ tình và Nhân vật trong thơ trữ tình?
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Ai biết thì chỉ cho mình nhé hoặc biết trang web nào giống như thế thì chỉ cho mình nhé.
|
|
|
|
Bạn tham khảo bài này và bổ sung thêm nhé!
1.Thuyết minh tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh ra đời và giá trị nội dung, nghệ thuật
"Chinh phụ ngâm" ra đời vào nửa đầu thế kỉ XVIII với nguyên tác bằng Hán văn của Đặng Trần Côn, liền sau đó được Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm diễn nôm (dịch thành quốc ngữ). Kể từ khi được Đoàn Thị Điểm diễn nnoomtacs phẩm đã nhanh chóng đi vào lòng mọi tầng lớp quần chúng. Trải qua hơn hai thế kỉ rưỡi cho đến nay, Chinh Phụ Ngâm luôn giữ nguyên giá trị của một viên ngọc văn chương sáng ngời, một sản phẩm đáng tự hào của xứ sở vốn "nổi tiếng thi thư"(2) Nguyên tác Chinh Phụ Ngâm bằng Hán văn của Đặng Trần Côn là một tác phẩm văn chương đặc sắc. Không những giới nho sĩ Việt Nam mà cả các bậc văn nhân Trung Hoa, đều yêu thích và khâm phục tác phẩm này. Bằng văn tài xuất sắc, Đặng Trần Côn sử dụng thể thơ tự do như "cổ phong" trong "Nhạc phủ" hoặc thể"từ" mà Khuất Nguyên và Lí Bạch từng sử dụng, để viết nên một tác phẩm trữ tình hiếm có, mô tả tâm sự sâu xa của một thiếu phụ vắng chồng. Văn chương trong Chinh Phụ Ngâm vô cùng diễm lệ, chứa chan tình cảm, uyển chuyển và đầy nhạc điệu. Trong số thi phẩm Hán văn của nền văn học nước ta, hiếm có tác phẩm sánh ngang được với Chinh Phụ Ngâm . Với Chinh Phụ Ngâm bằng quốc ngữ, xưa nay nhiều bậc thức giả uyên bác đã phân tích và đánh giá về nhiều phương diện. Vậy mà ngày nay những khám phá mới mẻ và sâu sắc hơn vẫn tiếp tục ra đời. Điều đó chứng tỏ Chinh Phụ Ngâm súc tích biết chừng nào về giá trị nội dung lẫn giá trị nghệ thuật. 2. Phân tích đoạn thơ (1-8)
Đặng Trần Côn là tác giả sống vào nửa đầu thế kỉ XVIII, tài nghệ văn chương của ông lừng thiên hạ vời nhiều tác phẩm nổi tiếng, một trong số ấy có “ Chinh phụ ngâm”. Tác phẩm “ Chinh phụ ngâm” thuộc thể loại ngâm khúc, có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc. Đoạn trích “ TCLLCNCP” được trích trong tác phẩm đã thể hiện nỗi nhớ mong người chồng chinh chiến cùng với khát khao hạnh phúc của ngưởi chinh phụ. Đặc biệt qua tám câu thơ đầu của đoạn trích, người đọc dễ dàng cảm nhận được tình cảnh trống vắng và tâm trạng của nhân vật trữ tình. Mở đầu đoạn trích, tác giả đã miêu tả tâm trạng của người chinh phụ, thông qua những hành động: “ Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.” Đây là lời than thở triền miên, da diết của người phụ nữ có chồng ra trận. Tác giả đã dùng bút pháp miêu tả nội tâm qua ngoại hình, hành động lặp đi lặp lại không mục đích của người chinh phụ và dáng vẻ buồn rầu, ủ ê không nói lên lời, trong hiên vắng thẫn thờ đợi chồng về. Thời gian đã là chiều tối, không gian là một khoảng hiên vắng lặng cùng với cử chỉ “gieo từng bước” như khắc họa rõ nét cảm giác cô đơn, quạnh vắng của người chinh phụ. Với một khung cảnh như vậy, gợi cho ta sự sum họp, đầm ấm của gia đình, nhưng giờ đây chỉ có mình người phụ nữ lẻ loi, cô độc trong khoảng không trống vắng, không có người chồng bên cạnh. Cảm giác trống trải bủa vây người chinh phụ làm cho nàng gieo từng bước chân một cách mệt mỏi và chậm rãi. Mỗi bước chân như chất chứa nỗi lòng, nỗi ưu tư phiền muộn của người phụ nữ xa chồng, đang mong ngóng từng ngày chồng trở về. Người phụ nữ như quặn thắt trong lòng khi chỉ nghe được tiếng bước chân âm thầm của mình.
“ Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen” Hành động buông rèm rồi cuốn lên nhiều lần đó là hành động lặp đi, lặp lại không có mục đích rõ ràng, thề hiện một tâm trạng tù túng, nóng ruột. Cảm giác vừa nhớ nhung da diết, vừa lo lắng sốt ruột cho sự an nguy của chồng mình đang đi chinh chiến phương xa. Nỗi nhớ cùng với tâm trạng mong ngóng đợi tin của chồng dồn nén ở người chinh phụ, tạo ra một cảm giác cô đơn buồn khổ ở nhân vật trữ tình. Chẳng những thế, càng mong ngóng chờ đợi thì kết quả lại chẳng được gì “ Ngoài rèm thước chẳng mách tin” “ Thước” là loài chim báo tin lành, báo tin người đi xa đã trở về. Thế mà ngay lúc này, con chim Thước lại im bặt, làm cho nỗi nhớ, nỗi khắc khoải mong chờ trong lòng người chinh phụ lại tăng lên gấp bội. Chim thước chẳng mách tin, người chông yêu thương vẫn chưa trở về, nỗi đau đớn âm thầm nhưng quá lớn ấy khiến nàng khao khát có sự đồng cảm. Nhưng trong khung cảnh đau buồn này thì chỉ có ngọn đèn leo lét làm bạn với nàng. “ Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?” Tâm trạng quá cô đơn đã làm cho nàng phải thốt lên câu hỏi: Liệu ngọn đèn dầu mờ ảo ấy có thấu chăng nỗi lòng của nàng, có chiếu sáng được đến tâm can đang mong nhớ chồng của nàng, Liệu ngọn đèn có thấu hiểu được sức nặng của nỗi cô đơn, của sự nhung nhớ lại dồn cả lên nàng .Câu hỏi tu từ như là tâm trạng của người chinh phụ, câu hỏi nhưng không có câu trả lời, nhân vật trữ tình hỏi ngọn đèn-một vật vô tri vô giác- nhưng dường như đang muốn được bày tỏ nỗi lòng của mình.Đó chính là lời than thở, hi vọng trong nàng, nỗi khắc khoải đợi chờ đã trở nên day dứt không yên. “ Đèn có biết dường bằng chẳng biết Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi”
Điệp ngữ bắc cầu “ Đèn biết chăng - đèn có biết” diễn tả nỗi tù tùng, nỗi buồn dài lê thê của người chinh phụ.Hình ảnh “ đèn” đã được lặp lại hai lần.hân vật trữ tình đã giải tỏa tâm sự với ngọn đèn, nhưng một vật vô tri vô giác như vậy thì làm sao hiều rõ được cảm giác của người chinh phụ. Nhân vật trữ tình lại ôm nỗi cô đơn, buồn bã một mình. Nhìn ngọn đèn leo lét trong màn đêm tĩnh mịch như vậy, lòng người chinh phụ càng thêm quặn thắt. Ngọn đèn là hình ảnh gợi cảm giác sum họp, ấm áp, càng khắc sâu nỗi cô đơn, buồn bã, khắc khoải trong lòng người.
“ Buồn rầu nói chẳng nên lời, Hoa đèn kia với bóng người khá thương”
Kết thúc tám câu thơ là hình ảnh “ hoa đèn”. “ Hoa đèn” là đầu bấc đèn dầu đã cháy như than nhưng được nung đỏ lên trông như hoa. Hình ảnh “ngọn đèn, hoa đèn”, gợi cho ta liên tưởng đến hình ảnh “ đèn không tắt trong bài ca dao
“ Đèn thương nhớ ai Mà đèn không tắt?”
Trong im lặng dằng dặc, dưới ánh đèn đêm thăm thẳm, chinh phụ trẻ chỉ có biết trò chuyện với cái bóng của chính mình, với ngọn đèn, gợi cho ta cảm nhận được nỗi cô đơn khắc khoải và vô vọng của người chinh phụ.
Qua tám câu thơ đầu, người đọc đã cảm nhận được những tâm trạng của người chinh phụ. Khung cảnh quạnh hiu, trống vắng cùng với những động từ miêu tả hành động để thể hiện tâm trạng, điệp ngữ bắc cầu đã khắc họa sự ưu tư, phiền muộn và cô đơn của nhân vật trữ tình khi nhớ về người chồng chinh chiến của mình.
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Ai làm giúp mình bài văn này với
|
|
|
|
Dàn ý tham khảo: Sự xuất hiện của nhân vật. Vào một đêm ngoài rừng mưa rì rào như gió nhẹ, dưới ánh lửa xà nu bập bùng, tất cả dân làng Xôman già trẻ gái trai nghe cụ Mết, một già làng có thân hình vạm vỡ quắc thước, mắt sáng xếch ngược, râu rài ngang ngực kể về cuộc đời đầy bi hùng của Tnú. Lúc còn bé đến khi trở thành chiến sĩ. Tnú là người con của dân làng Xôman, cha mẹ mất sớm và được dân làng cưu mang, nuôi dưỡng. Cũng như người dân làng "có cái bụng thương núi, thương nước", Tnú đã sớm có lòng yêu thương nhân dân, làng xóm. Từ tấm lòng này, Tnú đã mở rộng thành tình yêu gắn bó trung thành thủy chung sâu nặng với Cách mạng, cán bộ Cách mạng. Bởi ngay từ khi còn là một cậu bé, Tnú được cụ Mết, người gìn giữ và truyền ngọn lửa Cách mạng từ thế hệ này sang thế hệ khác cho hay: "Cán bộ là Đảng. Đảng còn nước non này còn". Vì vậy ngay từ chặng đầu của cuộc đời, Tnú đã xuất hiện với tư cách của người anh hùng Tây Nguyên thời chống Mỹ. Dù còn nhỏ, Tnú đã sớm tỏ ra gan góc táo bạo, đầy quả cảm như Kim Đồng, Lê Văn Tám, Vừ A Dính... Bất chấp sự vây lùng khủng bố dã man của kẻ thù, chặt đầu những người đi nuôi cán bộ - đầu anh Xút, bà Nhan đang bị chúng treo lủng lẳng đầu bản xóm, Tnú đã cùng với Mai xung phong vào rừng bảo vệ anh Quyết, một cán bộ trung kiên của Đảng. Đây là một công việc vô cùng khó khăn và đầy nguy hiểm nhưng Mai à Tnú đã làm rất tốt để dân làng Xô man mãi tự hào " Năm năm chưa hề có cán bộ bị giặc bắt hoặc bị giết ở trong rừng". Tnú còn là một người có phẩm chất chính trực, trong sáng, trung thực, thẳng thắn như cây xà nu. Tnú quyết tâm học cho được cái chữ Cụ Hồ để trở thành cán bộ giỏi thay anh Quyết, nếu không may anh Quyết bị hy sinh. Tnú có cái đầu sáng lạ lùng trong việc tìm đường rừng để đưa thư cho anh Quyết. Nhưng Tnú học chữ hay quên. Bởi vậy, khi học chữ thua Mai, Tnú đã tự trừng phạt cái tội hay quên của mình bằng cách "cầm hòn đá tự đập vào đầu mình máu chảy ròng ròng". Hành động này có cái gì đó hơi nóng nảy, nông nổi nhưng nó biểu lộ ý chí, quyết tâm sắt đá của một con người có chí khí, vì không học được chữ nên tự trừng phạt mình cho đau cho nhớ mà cố gắng hơn. Làm liên lạc chuyển thư cho anh Quyết, Tnú có cái đầu sáng lạ lùng. Vốn là con người nhanh trí, táo bạo thích mạo hiểm, Tnú không bao giờ đi đường mòn, bị giặc vây các nẻo đường, Tnú leo lên cây cao xé rừng mà đi vượt qua mọi vòng vây. Tnú không vượt qua suối những nơi nước cạn dễ đi mà thường băng qua những con thác hiểm như cưỡi lên lưng con cá kình. Có lần vượt qua thác, chuẩn bị lên bờ thì họng súng đen ngòm đã chĩa vào gáy lạnh ngắt. Tnú kịp nuốt lá thư của anh Quyết vào bụng bảo đảm bí mật. Tnú bị giặc giam cầm ở ngục tù Kontum với biết bao đòn roi, thương tích. Địch tra tấn hỏi "Cộng sản ở đâu?" Tnú đã không ngần ngại đặt tay lên bụng và nói: "CS Ở đây này!".Và lưng Tnú lại hằn lên những vết dao chém ngang dọc của kẻ thù. Đúng Tnú là con người rất giàu phẩm chất thủy chung, trung thành với Cách mạng mà bất khuất hiên ngang trước kẻ thù "Uy vũ không thể khuất phục". Tnú và bi kịch gia đình Ba năm sau, Tnú vượt ngục trở về trực tiếp lãnh đạo dân làng Xô man đánh giặc. Và Mai, người bạn từ thuở thiếu thời, đã cùng Tnú trưởng thành qua năm tháng đầy thử thách khốc liệt của chiến tranh nay đã là vợ của Tnú. Đứa con trai kháu khỉnh vừa đầy tháng là hoa trái đầu mùa của mối tình thơ mộng và thủy chung ấy. Hạnh phúc gia đình lứa đôi của Tnú đang đẹp như trăng rằm lung linh tỏa sáng cả núi rừng Tây Nguyên. Song kẻ thù tàn bạo dã man đã đập vỡ tổ ấm hạnh phúc của Tnú một cách không tiếc thương. Chúng đã giết vợ con anh bằng cây gậy sắt, hòng uy hiếp tinh thần Cách mạng của Tnú, người cầm đầu, linh hồn của cuộc nổi dậy. Đoạn văn diễn tả sự bất lực của Tnú trước cái chết của vợ con thật bi thương tràn đầy xúc cảm và ấn tượng "Anh đã bứt đứt hàng chục trái vả mà không hay. Anh chồm dậy... bụng anh có lửa đốt. Chỗ hai con mắt anh bây giờ là hai cục lửa lớn". Căm thù đau nhói trong tim và bừng cháy trong hai con mắt - một chi tiết thật dữ dội. Tnú nhảy vào giữa đám lính, hai cánh tay như cánh gỗ lim của anh ôm chặt lấy mẹ con Mai. Nhưng không còn kịp nữa! Tnú bị bắt, bị trói. Vợ và con chết cả rồi nhưng Tnú không khóc. Anh ghìm nén nỗi đau, cố gắng vượt qua bi kịch cá nhân để tiếp tục sống và chiến đấu. Trước cái chết cận kề, Tnú không hề run sợ mà anh cảm thấy mình thật bình thản. Anh nghĩ "Đứa con chết rồi. Mai chắc cũng đã chết. Mình rồi cũng chết thôi". Nhưng Tnú không sợ, điều làm Tnú day dứt và băn khoăn nhất chính là không sống được đến ngày cùng dân làng Xô man đánh giặc, rồi khi có lệnh của Đảng cho đánh ai sẽ lãnh đạo dân làng Xô man ? Tnú hoàn toàn không nghĩ đến mình nữa, Tnú đã đặt cái chung, cái nhiệm vụ lên trên bi kịch của mình. Đó là thái độ biến đau thương thành hành động. Giặc dùng giẻ tẩm nhựa xà nu để đốt mười đầu ngón tay của Tnú. Chúng định dùng lửa để thiêu rụi ý chí đấu tranh của dân làng Xô man. Nhưng chúng đã nhầm. Chúng đã vô tình thắp lên ngọn lửa đồng khởi, ngọn lửa đấu tranh của dân làng Xô man. Một ngón, hai ngón rồi ba bốn ngón của Tnú bốc cháy. Không gì đượm băngd lửa Xà nu. Mười ngón tay của Tnú nhanh chóng thành mười ngọn đuốc sống. Kì lạ thay, người Cộng Sản ấy không hề kêu van, dù "răng anh đã cắn nát môi anh rồi". Đúng rồi, Tnú không thèm kêu van nhưng Tnú đã thét lên một tiếng "Giết". Tiếng thét ấy làm rung chuyển núi rừng, làm lay động tâm can con người. Và cộng hưởng cùng tiếng thét ấy là tiếng chân người chạy rầm rập trên nhà Ưng, tiếng cụ Mết ồ ồ "Chém! Chém hết!", Tiếng thét ấy trở thành ngòi nổ làm bùng cháy cả khối thuốc nổ căm hờn của dân làng Xôman. Trong phút chốc họ đã: xác 10 tên giặc nằm ngổn ngang quanh đống lửa. Cuộc đời bi tráng của Tnú đã làm sáng tỏ một chân lý giản dị mà sâu xa của cuộc sống được cụ Mết truyền dạy cho con cháu: "sau này, tao chết rồi, bay còn sống phải nói lại cho con cháu: Chúng nó đã cầm súng, mình phải cấm giáo". Đó là chân lý của Cách mạng được nảy sinh từ mảnh đất Tây Nguyên thấm máu và nước mắt. Đó là một chân lý thật nghiệt ngã nhưng tất yếu: Phải dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng. Vũ trang chiến đấu là con đường tất yếu tự giải phóng của nhân dân. Vượt qua bi kích cá nhân, trở thành người chiến sĩ, cán bộ có tinh thần kỷ luật cao. Từ đây cả dân làng Xôman vùng dậy cầm lấy giáo mác... làm vũ khí chống lại súng đạn tối tân tàn bạo của Mỹ - Nguỵ. Và chặng đường cầm vũ khí của Tnú được nối tiếp bằng việc "đi lực lượng". Tnú đã vượt qua mọi đau thương và bi kịch cá nhân, tham gia lực lượng giải phóng quân để quét sạch tất cả những thằng Dục, kẻ thù không đội trời chung với vợ con anh - còn tồn tại trên đất nước Việt Nam này. Khi đã trở thành chiến sĩ giải phóng quân, Tnú là một cán bộ có tinh thần kỷ luật cao: tuy nhớ quê hương gia đình, nhưng phải cấp trên cho phép mới về đúng một đêm như quy định trong giấy phép. Hình ảnh Tnú gắn liền với một hình tượng độc đáo: bàn tay. Nhân vật Tnú không chỉ hấp dẫn độc giả chúng ta bởi những phẩm chất, tính cách anh hùng; bởi bút pháp mang đậm màu sắc sử thi bi tráng và tính chất triết lý của nó, mà còn hấp dẫn bởi tính chất hình tượng của tác phẩm. Một trong những hình tượng giàu nghệ thuật, ý nghĩa thẩm mỹ và tạo lên một sức ám ảnh đặc biệt cho độc giả là hình ảnh bàn tay của Tnú. Đây là một hình tượng như có một số phận riêng, gắn bó mật thiết với cuộc đời Tnú, góp phần tô đậm thêm những nét phẩm chất, tính cách cao đẹp của anh. Đó là bàn tay của trung thực, tình nghĩa, từng cầm phấn viết chữ anh Quyết dạy cho; từng đặt lên bụng mình mà nói: "Cộng sản ở đây này". Bàn tay ấy cũng đã từng được Mai nắm chặt mà khóc bằng những giọt nước mắt nóng bỏng yêu thương đồng cảm, lúc Tnú vượt ngục trở về... Khi giặc đốt 10 đầu ngón tay Tnú, bàn tay trở thành chứng tích của tội ác và lòng hận thù mà Tnú mang theo suốt cả cuộc đời. Lòng hận thù ấy đã biến bàn tay Tnú thành bàn tay quả báo - 10 ngọn đuốc từ ngón tay Tnú đã châm bùng lên ngọc lửa nổi dậy của dân làng Xôman. Bàn tay chỉ còn hai đốt mỗi ngón vẫn cầm giáo, cầm súng để Tnú lên đường rửa hận. Và cuối cùng với chính bàn tay ấy, Tnú đã xiết vào cổ họng tất cả những thằng Dục tàn ác hơn cả dã thú. Kết luận: Như vậy, câu chuyện bi tráng về cuộc đời Tnú vừa có ý nghĩa cụ thể, cá thể, vừa có ý nghĩa điển hình tiêu biểu của người anh hùng đại diện cho số phận và con đường đi của các dân tộc Tây Nguyên trong thời đại đấu tranh giải phóng. Nhân vật Tnú còn có cái gì đó phảng phất như những anh hùng trong các trường ca Đam San, Xinh Nhã.
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
bình luận
|
viết thư UPU chủ đề nếu hay thì "Vote" đi bạn. Lần sau lại có câu trả lời hay hơn! hi hi
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
giup e bai này với, nhanh lên nhé. thanks nhìu!
|
|
|
|
Bạn làm theo gợi ý sau nhe! Gợi ý:
I. Giới thiêu: tác giả, tác phẩm
- Nam Cao và Kim Lân là hai trong những cây bút hiện thực xuất sắc trong đời sống văn học hiện đại Việt Nam, đều viết thành công về đề tài người nông dân.
- Chí Phèo và Vợ nhặt là hai thiên truyện khắc họa tình trạng thê thảm của người nông dân trước cách mạng tháng Tám. Tuy nhiên kết quả cuối cùng có những bước ngoặc khác nhau: Một bên là những ám ảnh đen tối; một bên là hình ảnh gợi nhiều hy vọng.
II. Nội dung: (Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng phải đảm bảo các ý sau đây).
1. Nêu khái niệm nhân đạo trong văn học.
2. Cảm nhận hình ảnh “cái lò gạch bỏ không” qua sự ám ảnh của thị Nở trong truyện ngắn Chí Phèo.
a. Khái quát nội dung tác phẩm Chí Phèo.
b. Tóm tắt cuộc đời đầy bi kịch của người nông dân Chí Phèo
c. Ý nghĩa hình ảnh “cái lò gạch cũ” không người qua lại.
- Nỗi ám ảnh về sự đen tối và bế tắc của người nông dân trong xã hội bất công khi chưa có ánh sáng cách mạng. Ở đó tình trạng người nông dân bị bọn cường hào ác bá đẩy vào “bước đường cùng”. Người nông dân lương thiện bị bỏ rơi như đứa bé từng bị bỏ rơi trong cái lò gạch cũ.
- Nông thôn Việt Nam ngày ấy tan hoang chẳng khác gì cái lò gạch bị bỏ hoang.
- Hiện thực đó có ý nghĩa tố cáo sâu sắc xã hội thực dân nửa phong kiến trước đã tiếp tay cho bọn ác bá giày xéo nông dân.
- Thể hiện cái nhìn xót xa của nhà văn đối với tương lai đen tối của người nông dân.
3. Cảm nhận hình ảnh “đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới” thoáng hiện qua tâm trí nhân vật Tràng trong truyện ngắn “Vợ nhặt”
a. Khái quát nội dung tác phẩm “Vợ nhặt”
b. Tóm tắt về cuộc đời nhân vật Tràng.
c. Ý nghĩa “đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới”
+ “đám người đói” vẫn đang là hiện thực.
+ “lá cờ đỏ bay phấp phới” gợi ra một thứ ánh sáng cao đẹp là cách mạng sẽ xua tan bóng tối của hiện thực đói khát ấy.
+ Vượt qua hiện thực đen tối của nạn đói, nhân vật có cái nhìn tin tưởng về phía tương lai.
+ Thông điệp ngợi ca cách mạng, bởi chỉ có cách mạng mới có thể mang đưa nhân dân đến bến bờ tươi sáng.
4. Nhận định chung
a. Điểm tương đồng
- Truyện ngắn “Chí phèo” của Nam Cao và “Vợ nhặt” của Kim Lân đều thể hiện ánh nhìn nhân đạo của hai nhà văn đối với đời sống, những mảnh đời bất hạnh trong xã hội cũ.
- Cả hai thiên truyện đều mang ý nghĩa tố cáo sâu sắc xã hội thực dân, phong kiến, phát xít.
- Cả hai nhà văn đều thể hiện tài năng trong sáng tạo nghệ thuật.
b. Điểm khác biệt:
Hai chi tiết, hai tác phẩm đã ra đời trong hai giai đoạn khác nhau của văn học: trước và sau Cách mạng tháng Tám. Hai hình ảnh mang hai ý nghĩa khác nhau:
+ Người nông dân trong truyện ngắn Chí Phèo hoàn toàn bế tắc vì không được cách mạng soi sáng.
+ Người nông dân trong truyện ngắn “Vợ nhặt” dạt dào niềm tin vào tương lai vì có hình ảnh cách mạng xuất hiện.
+ Bút pháp: Nam Cao viết theo khuynh hướng hiện thực phê phán; Kim Lân viết theo khuynh hướng hiện thực xã hội chủ nghĩa.
III. Kết luận
+ Khắc họa chân thực, sinh động đời sống đáng thương của nhân dân ta.
|
|
|
|
giải đáp
|
viết thư UPU chủ đề
|
|
|
|
Bài viết tham khảo (nhớ la tham khảo thôi bạn nhe!) hi hi
Hà Nội, ngày …. tháng 12 năm 2012 Sarah thân mến! Đây là bức thư thứ 2 tớ gửi tới cậu! Tớ rất vui vì lá thư thứ nhất đã vượt qua hơn nửa vòng trái đất, đi qua các đại dương, châu lục và hoang mạc để đến với bạn. Tớ hi vọng là bạn cũng sẽ giống tớ, cảm thấy vui mừng và hạnh phúc vì không chỉ được làm quen với một người bạn ở rất xa mà còn hiểu biết thêm về một đất nước xinh đẹp mà cả hai chúng ta chưa từng được đặt chân đến: Ai Cập quê hương bạn và Việt Nam xứ sở thân yêu của tớ. Qua lá thư mà tớ vừa nhận được của Saral, tớ đã hình dung một cách cụ thể hơn về đất nước và con người Ai Cập – một quốc gia huyền bí với những pharaon và Kim tự tháp nổi tiếng mà trước đây tớ chỉ được biết qua chương trình Discovery phát sóng trên TV nhà tớ hàng tuần. Sarah thân mến! Bức thư của bạn đã cung cấp cho tớ rất nhiều kiên thức về điều kiện tự nhiên của đất nước Ai Cập. Tớ cảm thấy như mình đang có một chuyến hành trình thực sự qua hoang mạc Sahara nóng bỏng và đang được ngồi trên những chiếc du thuyền để khám phá hết vẻ kì bí của sông Nil huyền thoại. Bên cạnh đó, tớ cũng muốn chia sẻ với bạn về nỗi lo lắng của bạn về một ngày không xa sông Nil sẽ trở nên khô cạn và dần bị ô nhiễm. Trong bức thư này tớ cũng muốn kể cho bạn nghe những con sông trên quê hương Việt Nam của tớ. Đất nước tớ có rất nhiều sông. Như tớ được biết thì Việt Nam hiện có gần 400 con sông chưa kể đến hàng nghìn kênh, rạch (tức là những dòng chảy nhỏ do con người tự đào để phục vụ nước tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp). Hướng của các dòng sông Việt Nam chủ yếu chảy từ Tây sang Đông, từ Tây Bắc xuống Đông Nam, từ đất liền ra biển Đông. Dọc bờ biển, trung bình cứ 23km lại có một cửa sông. Những con sông dài và rộng nhất ở nước tớ là sông Hồng, Sông Mê Kông (hay còn gọi là sông Cửu Long), sông Thái Bình…Tất cả những con sông kể trên là nguồn cung cấp nước phục vụ cho sinh hoạt, cho sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và nuôi trồng thủy hải sản. Nhờ có những con sông mà đất nước tớ có những đồng lúa bát ngát, xanh rờn, nơi cung cấp lương thực cho cả nước và xuất khẩu ra thế giới. Thế nhưng hiện nay hầu hết các con sông trên quê hương tớ đều bị ô nhiễm, có những con sông đã trở thành sông CHẾT. Nguyên nhân chính gây nên sự ô nhiễm của các con sông là do nước thải của các khu chế xuất và khu công nghiệp, cộng thêm hàng trăm ngàn cơ sở hóa chất và biến chế trên đất nước tớ. Giám đốc những nhà máy nói trên chỉ chạy theo lợi ích trước mắt không cần quan tâm đến vấn đề bảo vệ nguồn nước, họ cho phép xả thẳng nước thải mang theo các hóa chất độc hại vào các dòng sông mà không qua xử lý. Thời gian trôi đi, nguy cơ ô nhiễm ngày càng tăng dần, và cho đến hôm nay, có thể nói rằng tình trạng ô nhiễm trên một số dòng sông ở Việt Nam ở mức độ kinh khủng và không còn phương cách nào cứu chữa được nữa. Bên cạnh đó nhiều người dân cũng không có ý thức bảo vệ nguồn nước. Họ biến những dòng sông thành nơi tiêu hủy rác thải trong sinh hoạt hàng ngày, trong số đó có rất nhiều loại không có khả năng phân hủy. Họ nghĩ, nước là tài nguyên vô tận và chẳng phải của riêng ai nên tha hồ sử dụng phung phí và cả hủy hoại nó nếu cần thiết. Sarah thân mến! Tớ cảm thấy rất buồn về thực trạng nói trên. Hàng ngày, qua những bài học trên lớp tớ được biết nước là tài nguyên hết sức quan trọng đối với sự sống của con người và thiên nhiên, tham gia thường xuyên vào các quá trình sinh hóa trong cơ thể sống. Phần lớn của các phản ứng hóa học liên quan đến sự trao đổi chất trong cơ thể đều có dung môi là nước. Nhờ có tính chất này mà nước đã trở thành tác nhân mang sự sống đến cho trái đất. Đối với cơ thể sống, thì thiếu nước là một hiểm họa, thiếu ăn con người có thể sống được vài tuần, còn thiếu nước thì con người không thể sống nổi trong vài ngày. Nhu cầu sinh lý của con người 1 ngày cần ít nhất 1,83 lít nước vào cơ thể và có thể nhiều hơn tùy theo cường độ lao động và tính chất của môi trường xung quanh. Nước cho nhu cầu sản xuất công nghiệp rất lớn. Nước dùng để làm nguội các động cơ, làm quay các tubin, là dung môi làm tan các hóa chất màu và các phản ứng hóa học. Mỗi ngành công nghiêp, mỗi loại hình sản xuất và mỗi công nghệ yêu cầu một lượng nước, loại nước khác nhau. Nước góp phần làm động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Nếu không có nước thì chắc chắn toàn bộ các hệ thống sản xuất công nghiệp, nông nghiệp…trên hành tinh này đều ngừng hoạt động và không tồn tại. Uống thật nhiều nước để tăng quá trình phân giải, khả năng trao đổi chất VÀ đào thải chất độc có thể chữa được một số bệnh. Tắm nước khoáng nóng ở các suối nước nóng tự nhiên để chữa các bệnh thấp khớp, bệnh ngoài da, bệnh tim mạch, bệnh thần kinh…Hoạt động du lịch cũng gắn liền với nguồn nước. Nước không những được dùng để cung cấp cho sinh hoạt du lịch ăn, uống, tắm, giặt… mà còn là môi trường tốt để phát triển các loại hình du lịch… Vậy mà tớ không hiểu tại sao con người lại chạy theo những lợi ích trước mắt để hủy hoại dần các con sông. Chẳng lẽ họ khôn hiểu những nền văn minh lớn của nhân loại đều bắt nguồn từ những con sông. Chẳng lẽ họ không biết phần lớn lượng nước cung cấp cho sinh hoạt hàng ngày và cho sản xuất đều do các con sông cung cấp. Chẳng lẽ họ nghĩ cá, tôm và biết bao loại thủy hải sản khác vốn là thực phẩm hàng ngày của họ từ trên trời rơi xuống…và còn biết bao nhiêu nguồn lợi khác mà sông mang lại cho con người nữa chứ. Sarah thân mến! Tớ rất muốn làm một điều gì đó thiết thực để bảo vệ sự sống của những con sông, bảo vệ nguồn nước và cũng chính là bảo vệ cuộc sống của chúng ta. Tớ vừa nảy ra một ý nghĩ, tại sao tớ và cậu không thể cùng nhau phát động một phong trào mang tên: “Đừng giết chết các con sông”. Phong trào này trước hết sẽ được phát động trong phạm vị lớp học, trường học của chúng ta. Sau đó chúng ta sẽ liên kết với các trường trong cả nước và trên toàn thế giới. Nếu làm được như thế tớ tin rằng chúng ta sẽ góp một phần không nhỏ vào việc bảo vệ các con sông, bảo vệ nguồn nước quí giá của nhân loại. Tớ hi vọng thư sau, tớ sẽ nhận được sự hưởng ứng của Sarah và chúng ta cúng bắt đầu lên kế hoạch cho phong trào này. Cuối cùng, tớ xin được chúc cậu luôn mạnh khỏe và hạnh phúc! Bạn của Sarah ……
|
|
|
|
giải đáp
|
Giups tớ vs!!!!!!!!
|
|
|
|
Bạn tham khảo một số ý cơ bản sau nhé!
* Giới thiệu tác giả, tác phẩm, nhân vật.
+ Nguyễn Trung Thành là nhà văn gắn bó với Tây Nguyên trong cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ.
+ Tác phẩm “Rừng xà nu”.
* Hoàn cảnh sáng tác:
Viết năm 1965, khi đế quốc Mĩ ồ ạt đổ quân vào miền Nam. Truyện đăng
lần đầu trên tạp chí văn nghệ Quân Giải Phóng Trung Trung Bộ, sau đưa
vào tập truyện “Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc”
*Nhân vật Tnú là nhân vật chính, mang đậm tính sử thi.
- Khai thác đặc điểm nhân vật
*Về nội dung, ý nghĩa
+ Là đứa trẻ mồ côi được làng Xôman nuôi dưỡng, nhận vai trò làm chú bé liên lạc mang ánh sáng của Đảng về với buôn làng.
+ Trưởng thành, anh trở thành cán bộ Đảng, đấu tranh theo Đảng, làm kẻ thù khiếp sợ.
+ Kẻ thù dùng thủ đoạn thâm độc đánh vào gia đình anh.
-
Trước cảnh vợ con bị tra tấn (phân tích một đoạn văn miêu tả tình huống
bi kịch của người chiến sĩ xoay quanh các vấn đề : gia đình – đất
nước).
- Cách giải quyết : anh xông ra cứu vợ con bằng tay không,
giặc bắt và đốt hai bàn tay của anh (phân tích hình ảnh bàn tay Tnú và
tâm trạng của anh lúc đó).
- Cụ Mết cùng thanh niên vào rừng lấy
vũ khí, trở lại tiến hành nổi dậy và chiến thắng (phân tích lời nói cụ
Mết và hành động của cụ).
* Về nghệ thuật:
+ Nhân vật đậm chất sử thi.
+ Nghệ thuật tạo tình huống bi kịch giữa riêng – chung .
+ Chi tiết “đắt” (như đôi mắt, bàn tay Tnú …)
|
|
|
|
|
|