|
|
giải đáp
|
Tràng giang
|
|
|
|
- Nhan đề:
+ Ban đầu có tên “chiều bên sông” gắn với bút pháp tả thực, sau đổi thành “Tràng giang”.
+ Tràng giang: âm hưởng từ hán-Việt gợi không khí cổ kính và đầy tính
khái quát: không chỉ gợi sự mênh mông bát ngát của không gian mà còn gợi
nỗi buồn mênh mang rợn ngợp.
- Lời đề từ: Thâu tóm khá chính xác và tinh tế cả tình (bâng khuâng, thương nhớ) và cảnh (trời rộng, sông dài) của bài thơ.
|
|
|
|
giải đáp
|
Cái tôi trữ tình trong tác phẩm Ai đã đặt tên cho dóng sông?
|
|
|
|
Dàn ý bạn nhé!
- Cái tôi say mê
kiếm tìm cái đẹp và luôn gắn bó với thiên nhiên: Thiên nhiên Huế mộng mơ, say
đắm trong bút kí chính là phiên bản tâm hồn của HPNT – một người luôn khao khát
kiếm tìm và tái hiện những vẻ đẹp quen thuộc mà mới mẻ của xứ sở. Sông Hương
trong những trang văn của ông không chỉ là biểu tượng của thiên nhiên mà còn
lấp lánh chất nhân văn của một triết lí sống.
- Cái tôi yêu tha thiết quê hương, đất
nước và luôn hướng về cội nguồn: Bút kí bộc lộ một khả năng quan sát tinh tường
và một trí tưởng tượng phong phú của một con người luôn hoài vọng quá khứ để
nâng niu những giá trị tinh thần. Hình ảnh dòng sông Hương trong văn HPNT hiện
lên với rất nhiều ưu tư và tự hào với bề dày lịch sử, bề dày văn hoá và tâm hồn
rất Huế. Từ hình tượng dòng sông, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã làm nổi bật vẻ đẹp
văn hoá, lịch sử và tâm hồn con người một vùng đất cổ kính của đất nước.
- Cái tôi uyên bác, tài hoa: Nhà văn
am hiểu sâu sắc từng cành cây, ngọn cỏ, từng tên đất tên làng xứ Huế. Với dòng
sông Hương, nhà văn thuộc từng khúc cong, từng ghềnh thác cuộn xoáy. Bằng những
hiểu biết phong phú, nhà văn cung cấp cho người đọc một lượng thông tin lớn về
địa thế, dòng chảy của sông Hương, về văn hoá, văn học nghệ thuật…
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
giúp văn 11_lap dan y
|
|
|
|
Dàn ý tham khảo: (Ý QUAN TRONG, CƠ BẢN ĐÂY EM NHÉ!) 1. MB - Văn học chân chính luôn đồng nghĩa với sự tìm tòi, khám phá, sáng tạo. Nó không chấp nhận sự rập khuôn, bắt chước. - Trăn trở về điều đó nên Lêonit Lêonop đã từng phát biểu: "... 2. TB *Ý kiến của Lê...đa khẳng định một điều mà bất cứ nhà văn chân chính nào trước khi cầm bút cũng phải suy nghĩ đó là những gì họ viết ra liệu có mới mẻ, có đóng góp, phát hiện gì mới và có giá trị hay không. - Nghệ thuật không chấp nhận đi theo con đường mòn vì vậy thước đo giá trị của mỗi tác phẩm là những : "Phát minh về hình thức và khám phá về nội dung" - Các loài hoa đều mọc lên từ đất nhưng mỗi loại một hương sắc, nhà văn đích thực cũng vậy, mỗi người một phong cách riêng, không ai bắt chước ai. Nếu bắt chước là tự phủ nhận mình. - Hiểu theo nghĩa đó, câu nói của Lê...là một chân lí. * Mỗi tác phẩm phải là một phát minh về hình thức và khám phá về nội dung" tức là cái mới của tác phẩm phải biểu hiện ở hai phương diện nội dung và hình thức. - Nếu phát hiện mới về nội dung mà sử dụng hình thức cũ thì nội dung mới không biểu hiện ra được. - Nếu có hình thức mới mà nội dung quen nhàm thì chỉ là trò chơi duy mĩ. * Nội dung và hình thức không tách rời mà nó xuyên thấm vào nhau, khi sáng tạo nhà văn phải đảm bảo tính thống nhất của hai phương diện ấy. Dẫn chứng: Thơ Xuân Diệu và các nhà thơ mới khác không chỉ mới về nội dung mà hình thức thể hiện cũng hiện đại (phân tích vài câu) * Tuy nhiên, trong nghệ thuật mới là chưa hẳn đã giá trị. Cái mới phải có phẩm chất nghệ thuật, phải là sự sáng tạo thực sự.( Dẫn chứng về sự độc đáo của phong cách Nguyễn Tuân) * Cái mới về nội dung là gì? - Là cái nhìn mới của nhà văn về cuộc đời và con người. Nhìn toàn diện, có chiều sâu (Ví dụ Nguyễn Minh Châu trong Chiếc thuyền ngoài xa hoạc Nam Cao với Chí Phèo) 3. KB - Đây là một quan niệm đúng đắn, sâu sắc - Nó đã đề cập đến lẽ sinh tồn của nghệ thuật - Nhắc nhở các nhà văn, đặc biệt những người mới vào nghề. CHÚC EM LÀM TỐT
|
|
|
|
giải đáp
|
Cho em hỏi ý nghĩa câu thơ "Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn ghi ta" a?
|
|
|
|
Gợi ýLời đề từ bài thơ là: "Khi tôi chết, hãy chôn tôi với cây đàn Ghi - ta". Khi phân tích cần lưu ý một số điểm sau: - Đây là một câu thơ của Lor - ca mà Thanh Thảo đã trích dẫn - Cây đàn ghi ta là nhạc cụ gần gũi, thân thiết với Lor - ca. Nó không chỉ là biểu tượng cho tâm hồn, tinh cảm của nhà thơ mà còn là biểu tượng cho thành quả nghệ thuật Lor - ca - Câu thơ này là gần như một thông điệp nghệ thuật của Lor - ca: Có thể hiểu theo hai nghĩa + Vì yêu quí cây đàn nên khi ra đi cõi vĩnh hằng, Lor - ca muốn mang nó theo + Vì là một nghệ sĩ cách tân, tiến bộ nên Lor - ca muốn khi mình chết, những thành quả nghệ thuật của mình không thành rào cản cho những sáng tạo của thế hệ đi sau. Ông muốn hậu thế hãy quên đi những thành quả của ông. => Lời đề từ thể hiện tình yêu nghệ thuật, nhân cách cao đẹp và tư tưởng cách tân, tiến bộ của Lor - ca và nó cũng gợi nguồn cảm hứng cho bài thơ của Thanh Thảo. CHÚC EM LÀ BÀI TỐT
|
|
|
|
giải đáp
|
Soạn bài "Tôi yêu em"
|
|
|
|
Bài tham khảo: I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả- A-lếch-xan-đrơ Pus-kin (1799-1837) - Puskin là “Mặt trời cùa thi ca Nga”, là nhà thơ vĩ đại của nhà thơ Nga. - Là một thi sĩ lừng danh với 800 bài thơ trữ tình, là tác giả của nhiều cuốn tiểu thuyết, kịch, trường ca, truyện ngắn… - Nội dung tác phẩm: thể hiện niềm khao khát tự do và tình yêu của nhân dân Nga. 2. Bài thơ- Đề tài : tình yêu- chủ đề lớn trong thơ Puskin - Hoàn cảnh sáng tác : một trong những bài thơ nổi tiếng được khơi gợi cảm xúc từ mối tình không thành của tác giả với Ô-lê-nhi-na - con gái vị Chủ tịch Viện hàn lâm Nghệ thuật Nga. - Bố cục: + 4 câu đầu : những mâu thuẫn trong tâm trạng của nhân vật trữ tình. + 2 câu giữa : nỗi khổ đau + 2 câu sau : sự cao thượng chân thành. II. Đọc - hiểu
A. Nội dung
1. Những mâu thuẫn trong tâm trạng (4 câu đầu)- Tình cảm : Tôi yêu…ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai tình yêu trong tâm hồn chưa lụi tắt, vẫn còn dai dẳng cháy, vẫn được ấp ủ => thú nhận chân thành - Lý trí: nhưng không để em … => quyết định chối bỏ dứt khoát, dập tắt ngọn lửa tình - Vì để không làm bận lòng em , vì hạnh phúc của em => Vị tha, cao thượng. Tình yêu đơn phương 2. Nỗi khổ đau của nhân vật trữ tình (2 câu giữa)- Điệp khúc tôi yêu em kết hợp với những trạng thái cảm xúc dồn nén, dày vò chìm ẩn dưới đáy sâu của tâm hồn hành hạ con tim. Đó là những cung bậc, những trạng thái cảm xúc của người đang yêu. 3. Sự cao thượng chân thành (2 câu cuối)- Khẳng định: Tôi yêu em chân thành đằm thắm => Cảm xúc được giải tỏa dâng cao, tiết điệu nhanh, gấp diễn tả tính chất tươi sáng dạt dào cảm xúc - Lời cầu chúc: sự thăng hoa của cảm xúc - vượt trên đau khổ ghen tuông ích kỉ mong cho người mình yêu được hạnh phúc à tình cảm cao thượng đầy chất nhân văn. B. Nghệ thuật- Ngôn ngữ thơ giản dị, trong sáng, hàm súc. - Giọng thơ chân thực, sinh động, lúc phân vân, ngập ngừng, khi kiên quyết dây dứt. C. Ý nghĩa văn bảnDù trong hoàn cảnh và tình yêu nào, con người phải sống chân thành, mảnh liệt, cao thượng và vị tha. III. Tổng kếtGhi nhớ: SGK. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Phân tích bài thơ "Tôi yêu em"
|
|
|
|
Bài tham khảo:Một trong những chủ đề lớn của thơ trữ tình Puskin là tình yêu “Hầu như tình yêu, tình bạn luôn luôn là những tình cảm chi phối nhà thơ nhiều nhất và là ngọn nguồn trực tiếp nhất của hạnh phúc và đau khổ của cả đời ông… Màu sắc chung của thơ Puskin, đặc biệt trong thơ trữ tình, là vẻ đẹp nội tâm con người và lòng nhân ái vuốt ve tâm hồn”. (Biêlinxki). Cùng với “gửi K”, “Tôi yêu em” là bài thơ nổi tiếng của Puskin về tình yêu. Thời kì sống ở Pêtecbua, Puskin thường lui tới nhà vị chủ tịch Viện hàn lâm nghệ thuật và cũng vì một thiếu nữ đẹp tên là A.A. Ôlênhia, con gái vị chủ nhà. Mùa hè năm 1828, nhà thơ ngỏ lời cầu hôn nhưng không được nhận lời. Năm 1829, bài thơ ra đời trên cơ sở của mối tình có thực này, bài thơ được in trong tập “Những bông hoa phương Bắc”. “Tôi yêu em: đến nay chứng từ có thể Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai Nhưng không để em bận lòng thêm nữa Hay hồn em phải gợn bóng u hoài. Tôi yêu em âm thầm, không hi vọng Lúc rụt rè, khi hậm hực lòng ghen Tôi yêu em, yêu chân thành, đằm thắm Cầu em được người tình như tôi đã yêu em.
Thơ tình yêu của Puskin thường bắt nguồn từ những xúc cảm cụ thể, chân thực với những trải nghiệm tình cảm sâu xa, do đó, đã thể được những vẻ đẹp đa dạng, tinh tế của thế giới tâm hồn con người. Bài thơ “tôi yêu em” đã gây một niềm xúc động lớn lao vì đã vươn tới những giá trị tinh thần chung của loài người. Những tình cảm chân thành, cao thượng, nhân ái của tình yêu chứa đựng trong những lời lẽ giản dị, trong sáng nhất. Thơ tình yêu hay thơ trữ tình của Puskin chiếm vị trí đặc biệt trong kho tàng thơ ca Nga. Ông được coi là “mặt trời của thơ ca Nga”. Mặc dù cuộc đời ngắn ngủi, thi sĩ đã để lại cho đời sau hơn 800 bài thơ trữ tình có giá trị, Puskin là một trong những nhà thơ trên thế giới có ý thức trong vấn đề sáng tác. Thi sĩ hiểu rất rõ giá trị của thơ mình. Có thể chia bài thơ thành hai phần: Bốn câu đầu, nhân vật trữ tình - tôi, khẳng định tình yêu vẫn còn nhưng xin rút lui vì không muốn gây phiền muộn cho người mình yêu. Bốn câu cuối, diễn tả các cung bậc khác nhau của tình yêu và lời khẳng định một tình yêu đằm thắm, chân thành. Điệp khúc “Tôi yêu em” là giọng điệu chủ đạo của bài thơ. Trong tiếng Nga, với hai đại từ ya và vư; có thể dịch sang tiếng Việt thành một số cặp quan hệ như “Tôi yêu cô”, “anh yêu em”, “tôi yêu em”. Đối với tiếng Việt, đại từ xưng hô chỉ đổi thay một chút là quan hệ và sức thái tình yêu cũng đổi khác. “Tôi yêu cô” bộc lộ một khoảng cách xa, trang trọng, ít tình cảm, hơn nữa, từ “cô” trong tiếng Việt it chỉ quản hệ tình yêu. Còn “anh yêu em” thì thân thiét, gần gũi quá, sử dụng cụm từ “tôi yêu em”, bản dịch của Thuý Toàn đã diễn tả chính xác một quan hệ vừa gần vừa xa, vừa rụt rè vừa đằm thắm. Nét tinh tế trong quan hệ hai nhân vật được bộc lộ qua hai đại từ nhân xưng tôi và em này. Có thể nói Puskin là người cha đẻ thực sự của nền văn học Nga mới và ngôn ngữ văn học mới của Nga, mặc dù nền văn học Nga mới đã hình thành từ trước, từ thế kỷ XVIII. Với Puskin, thơ ca Nga, hay nói rộng hơn văn học Nga, đã từ một người học trò nhút nhát trở thành một người thầy tài năng và giàu kinh nghiệm. Điều đó, thật hoàn toàn không dễ dàng. Mở đầu bài thơ là điệ khúc khẳng định: Tôi yêu em - một lời bộc lộ chân thành xuất phát từ một trái tim trung thực, báo hiệu mọt tình yêu thực sự. “Tôi yêu em”, lời lẽ giản dị mà mang bao nỗi quyến rũ, bí ẩn muôn đời. (Nguyên văn: “tình yêu, có lẽ, còn chưa hoàn toàn lụi tắt trong lòng tôi”. Nhưng sau đó mạch thơ chuyển đột ngột, hai câu thơ tiếp theo toát lên cái điềm tĩnh của lí trí, cái dồ nén của cảm xúc. Lời thơ như một lời tự nhắc nhủ, một sự tự ý thức về tình yêu của mình và cũng như một lời nói bên trong đầy dịu dàng, trân tọng với “hồn em” Đằng sau những lời lẽ điềm tĩnh ấy là bao nỗi niềm, bao sắc thái của tình yêu: “Điều quan trọng không phải là tình yêu của tôi mà là sự yên tĩnh, thanh thản của hồn em”. Tình yêu có thể chấm dứt vì nhiều lý do, nhưng cái lí do đầy dịu dàng, trân trọng và cao thượng ấy đối với người phụ nữ dễ mấy ai có được. Puskin là thi sĩ biết dùng “lời ca để đốt trái tim người”, làm cho con người tư tưởng hơn vào cuộc sống, cuộc đấu tranh. Thơ Puskin thấm nhuần tinh thần nhân đạo “đánh thức những tình cảm tốt đẹp” trong con người. Điểm nổi bật trong tình bạn cũng như tình yêu của Puskin là sự chân thành cao độ. Nếu bốn câu thơ đầu, cảm xúc có xu hướng bị dồn nén, bị lí trí chi phối thì ở bốn câu thơ sau, mạch cảm xúc lại tuôn trào, khẳng định một tình yêu mãnh liệt, không che dấu với điệp khúc “tôi yêu em” được nhắc lại lần thứ hai . “Tôi yêu em âm thầm, không hi vọng Lúc rụt rè khi hậm hực lòng ghen”.
Nhân vật trữ tình bộc lộ thẳng thắn tâm hồn mình: Một tình yêu “âm thầm”, “không hi vọng”, vừa khẳng định nét âm thầm vừa nhấn mạnh không hi vọng, như tô đậm thêm nét đặc biệt của mối tình đơn phương này. Nhưng dù vậy, tình yêu ấy vẫn diễn ra với mọi sắc thái muôn thuở. Nhân vật trữ tình không ngần ngại mà trung thực bày tỏ: khi hậm hực lòng ghen. Tuy nhiên, có ai đã từng nói, lòng ghen tuông như con rắn độc, nó bóp nghẹt trái tim, bởi vì ghen tuông trong tình yêu dẫn đến mất sáng suốt, như Mêdê vì thù chồng mà giết chết con mình (Mêđê - Ơripit), như Ôtenlô bóp chết Đexđêmôna (Ôtenlơ-Sêcxpia), như lenxki thách Ônêghin đấu súng (Epghêni Ơnêghin - Puskin). Liệu nhân vật trữ tình trong bài thơ có bị nỗi ghen tuông ngự trị làm hạ thấp con người như vậy không? Hai câu thơ cuối cùng là câu trả lời, vụt sáng lên một giá trị nhân văn, một tư thế cao thượng của con người đáng yêu ấy. Tôi yêu em yêu chân thành, đằm thắm Cầu em được người tình như tôi đã yêu em.
Cảm xúc bị dồn nén được giải toả, tuôn trào. Điệp khúc “Tôi yêu em” được láy lại lần thứ ba với một lời khẳng định bản chất của mối tình này: chân thành, đằm thắm. Trong điệp ngữ “Tôi yêu em” ở nguyên bản tiếng Nga, động từ “yêu” luôn được để ở thế chưa hoàn thành, điều này có nghĩa là ngọn lửa tình yêu trong trái tim nhà thơ sẽ không bao giờ tắt. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Cảm nhận bài thơ "Tôi yêu em"
|
|
|
|
Bài tham khảo:Tình yêu - dòng chảy vĩnh cửu của lịch sử văn học nhân loại - là một chủ đề lớn trong thơ trữ tình của thiên tài Puskin. Cùng với bài Gửi K., Tôi yêu em đã góp vào thơ tình nhân loại một bài thơ tình hoàn hảo tiềm ẩn những giá trị nhân văn lớn lao. Mở đầu bài thơ là điệp khúc tôi yêu em – cũng là giọng điệu chủ đạo của bài thơ : Tôi yêu em : đến nay chừng có thể / Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai. Lời thơ thật giản dị, dùng vài từ mang tính phủ định, không ví von, bóng gió. Nhịp thơ chậm rãi, điệu giọng trầm tĩnh. Ấy thế mà câu thơ bộc lộ thấu đạt những xúc cảm, trải nghiệm chân thành, sâu sắc trong trái tim yêu chân thực, chung thủy mà âm thầm kín đáo, da diết day dứt khôn nguôi, có pha chút dè dặt ngậm ngùi và dự cảm dang dở… của nhân vật tôi. Mạch cảm xúc trong hai dòng thơ tiếp theo chuyển đột ngột nhưng vẫn một giọng điệu trầm tư, điềm tĩnh bởi lí trí chế ngự : Nhưng không để em bận lòng thêm nữa, / Hay hồn em phải gợn bóng u hoài. Điệp từ không (trong nguyên tác) nhấn mạnh ý định có vẻ dứt khoát “rút lui”, chối bỏ say mê, dập tắt ngọn lửa tình vẫn âm ỉ, “chưa hoàn toàn lụi tắt” để không làm em phải băn khoăn, phiền muộn thêm nữa. Nhưng trong thẳm sâu tâm hồn dồn nén bao cảm xúc, nỗi niềm trăn trở, buồn đau của thân phận, không hề có chút gì thanh thản, khiến ta không tin rằng đây là mối tình “không hi vọng”… Phần cuối bài thơ, xúc cảm lại trỗi lên sự dồn nén, chế ngự của lí trí điềm tĩnh : Tôi yêu em âm thầm, không hi vọng / Lúc rụt rè, khi hậm hực lòng ghen. / Tôi yêu em, yêu chân thành, đằm thắm,… Nhịp thơ không chậm rãi như phần đầu mà nhanh hơn, mạnh hơn. Một loạt thủ pháp được sử dụng : điệp khúc tôi yêu em, lặp từ phủ định không và từ mang ý nghĩa thời gian, dùng câu bị động (trong nguyên tác). Nhưng trên hết là sự chân thành đã làm tỏa sáng câu thơ. Nhân vật tôi không hề che giấu, ngần ngại mà rất trung thực, thành thật bộc bạch những cung bậc, sắc thái tình yêu trong thẳm sâu tâm hồn mình, một tình yêu thầm kín, da diết, mãnh liệt, với những trăn trở day dứt, những khổ đau tuyệt vọng, những nỗi buồn và sự ghen tuông đen tối giày vò, khiến trong đáy sâu tâm linh không một chút thanh thản, yên định. Tình yêu của nhân vật tôi cũng rất đỗi bình thường, rất người như bao người khác, cũng bị nỗi ghen tuông giày vò, bóp nghẹt tâm can nhưng đã vượt lên thói ích kỉ làm hạ thấp giá trị con người để trở nên nhân ái, vị tha, cao thượng hơn : Tôi yêu em, yêu chân thành, đằm thắm, / Cầu em được người tình như tôi đã yêu em. Giữa hai dòng thơ là một nghịch lí, mâu thuẫn mà khối óc sáng suốt khó có thể lí giải bằng lí lẽ của nó nhưng có thể cắt nghĩa bằng lí lẽ của con tim, một con tim chân thật, độ lượng, biết nhận nỗi khổ đau, bất hạnh về mình mà không đem lòng thù hận khi tình yêu không được đền đáp, như nhà thơ đã viết trong một bài thơ khác : Nhưng nếu gặp ngày buồn rầu đau đớn / Em thầm thì hãy gọi tên lên / Và hãy tin : còn đây một kỉ niệm / Em vẫn còn sống giữa một trái tim. Câu thơ cuối bài là một lời chúc có vẻ nghịch lí mà thiêng liêng, đầy vị tha biết dường nào : Cầu em được người tình như tôi đã yêu em. Câu thơ rất độc đáo, đột ngột về ý nghĩa, hàm chứa nhiều ý vị… Có người tìm thấy sự đồng điệu, gặp gỡ thú vị giữa câu thơ của thiên tài Puskin với câu quan họ khiêm nhường, tế nhị mà tha thiết, mãnh liệt trong bài Giã bạn : Người về em dặn câu rằng / Đâu hơn người kết, đâu bằng đợi em. Tôi yêu em là một tình yêu vô vọng, thấm một sắc điệu buồn, nhưng hơn hết vẫn là một tình cảm chân thành, mãnh liệt mà vị tha, cao thượng, bộc lộ vẻ đẹp của tâm hồn và nhân cách con người nhân hậu, biết “kính trọng vô hạn đối với phẩm giá con người với tư cách là Con Người” (Biêlinxki), vì thế bài thơ chứa đựng những giá trị tinh thần nhân văn cao cả của loài người. Chất thơ của bài thơ chủ yếu toát ra từ những xúc cảm chân thành, từ những lời lẽ giản dị, từ giọng trữ tình dồn nén mà mãnh liệt, tạo được sức mạnh biểu đạt tình cảm. Sức hấp dẫn của bài thơ trước hết là bởi “Đối tượng tự nó hấp dẫn đến mức chả cần gì tới sự tô điểm nào cả” (Puskin). Có lẽ cũng vì vậy mà bài thơ không ngừng gây xúc động trong lòng bao thế hệ bạn đọc… Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Phân tích "Tôi yêu em"
|
|
|
|
Bài tham khảo:Pu-skin (1799-1837) là “Mặt trời của thi ca Nga” (Léc-môn-tốp). Trong cuộc đời ngắn ngủi , bất hạn của mình, Pu-skin đã để lại cho đất nước Nga và cho nhân loại những áng thơ tuyệt vời. Ngoài những trường ca nổi tiếng như “Rút-slan và Li-út-mi-la”, “Người tù Káp-ca”, “Đoàn người Sư-gan”, “Ép-ghê-nhi Ô-nê-ghin”… Pu-skin còn để lại 800 bài thơ trữ tình, trong đó có nhiều bài thơ tình nổi tiếng. Bài thơ tình “Tôi yêu em” là kiệt tác của Pu-skin. “Tôi yêu em: đến nay chừng có thể
Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai;
Nhưng không để em bận lòng thêm nữa,
Hay hồn em phải gợn bóng u hoài.
Tôi yêu em âm thầm, không hi vọng
Lúc rụt rè khi hậm hực lòng ghen;
Tôi yêu em, yêu chân thành đằm thắm
Cầu em được người tình như tôi đã yêu em.”
(Thuý Toàn dịch)
Sự nhạy cảm là dấu hiệu của thiên tài. Dấu hiệu đó trước tiên biểu hiện ở việc mở đầu và kết thúc bài thơ. Nếu Pu-skin mở đầu bài thơ theo một cách khác thì bài thơ “Tôi yêu em” không còn là bài thơ trữ tình mà là một trường ca. Pu-skin đã cắt ngang thiên tình sử để tự sự và trữ tình. Mọi biến cố, mọi xúc cảm, thời gian và không gian đều được dồn nén lại: “Tôi yêu em: đến nay chừng có thể
Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai”
Có thể nói “Tôi yêu em…” là giai điệu chính của bài thơ. Động từ yêu trong nguyên tác đều dùng thì quá khứ (Tôi đã yêu em). Và đựơc giãi bày từ quá khứ đến hiện tại bằng hình ảnh “ngọn lửa tình”. Hình tượng ngọn lửa vừa thể hiện sự nồng nhiệt của tình cảm, vừa diễn tả sự dài lâu, đằng đẵng của nhà thơ đối với người tình. Lối cắt ngang thiên tình sử để giãi bày như vậy khiến bài thơ cô đọng, hàm súc. Tác giả không kể lể. Sự chừng mực trong lối biểu hiện cảm xúc, mực thước, kín đáo là những nét nổi bật của phong cách cổ điển. Giai điệu chính của bài thơ đã xuất hiện mà điều muốn nói chỉ mới được sửa soạn nói thôi, nghĩa là nó sẽ được nói qua những biến tấu trong giây phút thăng hoa của tâm hồn thi nhân. Pu-skin say đắm với người tình, mải mê kiếm tìm mộng đẹp, nhưng chỉ nhận đựơc toàn cay đắng và não nề, cái mà người tình thi sĩ kiếm tìm đựơc lại là thơ. “Tôi yêu em…” là thơ rồi, tôi thôi, không yêu em nữa là cũng để yêu em. Thơ tình của nhân loại chưa từng thấy những lời yêu của trái tim nhân hậu như thế này: “Nhưng không để em bận lòng thêm nữa
Hay hồn em phải gợn bóng u hoài”
Tưởng chừng như Pu-skin không dụng công làm thơ mà cấu từ thật là mới mẻ. Tình mới mà thành thơ mới, tâm hồn cao thượng mà thành thơ cao thượng. “Tôi không muốn làm em buồn vì bất cứ lẽ gì”, đó là lời thơ trong nguyên tác. Nhà thơ đã chấp nhận thất bại, nhưng không phũ phàng, hằn học. Biến đau thương thành tình yêu thì thật lạ. Tứ thơ lớn cho nên không cần những lời hoa mĩ, không cần các biện pháp tu từ. Lời thơ dung dị mà thấm thía. Bài thơ tình phát triển theo những biểu lộ mới mẻ của tình cảm và những nghịch lí: “Tôi yêu em âm thầm, không hi vọng
Lúc rụt rè, khi hậm hực lòng ghen
Tôi yêu em, yêu chân thành, đằm thắm
Cầu em đựơc người tình như tôi đã yêu em”
Sau khi giãi bày nghịch lí của tình tyêu, nhà thơ sợ người đời hoài nghi về tình yêu chân thật của mình nên lại “phải nói”: “Phải nói yêu, trăm bận đến nghìn lần”
(Xuân Diệu)
Chí có khác với Xuân Diệu là Pu-skin đã đẩy những lời yêu thương về quá khứ. Vì sao vậy? Vì bây giờ “tôi yêu em” hoặc “tôi mãi mãi yêu em” thì “em băn khoăn”, “em buồn”. Pu-skin “phải nói”: “Tôi (đã) yêu em âm thầm ,không hi vọng
Lúc rụt tè, khi hậm hực lòng ghen
Tôi (đã) yêu em chân thành, đằm thắm”
Nhà thơ đã chọn những chi tiết chính xác để bày tỏ lòng yêu của mình. “Tôi yêu em âm thầm”, đó là một thứ tình yêu như sóng ngầm, như than hầm, nung nếu, cháy bỏng. Nhưng “không hi vọng”, đây cũng là một sự thổ lộ thành thật. Thời đó Pu-skin có cầu hôn với một vài cô gái quý tộc thượng lưu nhưng đều bị khước từ. Pu-skin cũng là dòng dõi quý tộc những đã bị sa sút, còn thiên tài thì là cái gì các nàng làm sao biết được, và thi sĩ đối với các nàng cũng như “con hát” mua vui vậy thôi. Khốn nỗi nhà thi sĩ lại “yêu em”, “tôi đã yêu em”, làm sao cắt nghĩa được tình yêu, “tôi yêu em” thật thà đến “rụt rè”. Cử chỉ rất nhỏ ấy lại là thước đo của lòng thành thật trong tình yêu đấy. Và cũng tầm thường như bất cứ một chàng trai đang yêu nào trên đời này “khi hậm hực lòng ghen”. Đã nói rồi, nói lại: “Tôi (đã) yêu em, yêu chân thành, đằm thắm”
Nói lại như vậy là để nhấn mạnh những thanh âm cao vời sâu thẳm của tình yêu và cũng là để sửa soạn cho một nghịch lí mà cũng là một quan niệm tình yêu mới chưa từng có trên đời này nảy nở: “Cầu em được người tình như tôi đã yêu em”
(Nguyên tác: Cầu Thượng đế cho em được người khác yêu cũng như thế)
Tình yêu của Pu-skin nồng nàn, chân thành, đằm thắm và giờ đây thiêng liêng nữa. Nhưng cũng chỉ là những tình cảm nhân bản mà thôi. Ví như tính chất thiêng liêng chẳng hạn, thì người bình dân ở phương Đông, trước cả Pu-skin đã biết cầu nguyện cho tình yêu: “Qua chùa núi Hó(1) thắp bó nhang vàng
Xin cho bạn cũ lại hoàn như xưa”
(Ca dao)
Chỉ có tinh thần cao thượng trong tình yêu của Pu-skin là mới mẻ. Còn từ Đông sang Tây, trong tình yêu, tâm lí thông thường là: “Yêu nhau thì ném bã trầu
Ghét nhau ném đã vỡ đầu nhau ra”
(Ca dao)
Tinh thần cao thượng của Pu-skin được diến tả theo nhịp độ tăng cấp: không yêu em nữa là cũng để yêu em và cầu cho người tình (từ chối mình) đựơc sống hạnh phúc trong tình yêu. Minh triết tình yêu đó là điều hết sức mới mẻ và tạo ra sức hấp dẫn lạ thường. Đấy là nhân cách cao thượng của Pu-skin, đấy cũng là tinh hoa của nền văn học Nga, một nền văn học nhân đạo và lý tưởng. Bài thơ “Tôi yêu em” thể hiện nhiều nét nghệ thuật tinh hoa của thơ Pu-skin. Lời thơ giản dị, giản dị đến mức trong suốt; hàm súc, mực thước, ít dùng mĩ từ mà vẫn gợi cảm. Sức mạnh của nhà thơ dồn ở cấu tứ lạ lùng đã chuyển tải được tình cảm, tư tưởng mới mẻ của thi nhân. Thơ tình của nhân loại chưa bao giờ được chứng kiến một thiên tình sử trong một hình thức nhỏ bé như vậy. Và cũng chưa bao giờ thơ tình của nhân loại đạt đến sự minh triết của tình yêu sáng chói như vậy. Pu-skin xứng đáng với sự ngợi ca của nhân dân Nga: là thi sĩ thiên tài và nhà tư tuởng lỗi lạc, người mở đường cho nền văn học Nga và người đặt nền móng cho tư tưỏng nhân văn cao quý trong văn học Nga. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Soạn bài "Từ ấy"
|
|
|
|
Bài tham khảo:I. Tìm hiểu chung1. Tác giả- Tố Hữu (1920 - 2002) tên thật là Nguyễn Kim Thành. - Là “lá cờ đầu của thơ ca cách mạng” Việt Nam hiện đại. - Thơ trữ tình – chính trị: thể hiện lẽ sống, lí tưởng, tình cảm cách mạng của con người Việt Nam hiện đại nhưng mang đậm chất dân tộc, truyền thống. 2. Bài thơa. Hoàn cảnh sáng tác: Tháng 7/1938 khi nhà thơ được kết nạp vào đảng cộng sản, bài thơ nằm trong phần Máu lửa của tập thơ “Từ ấy” b. Vị trí bài thơ: có ý nghĩa mở đầu cho con đường cách mạng, con đường thi ca của Tố Hữu là tuyên ngôn về lẽ sống của một người chiến sĩ cách mạng, cũng là tuyên ngôn nghệ thuật của một nhà thơ. c. Bố cục: 3 phần. II. Đọc, hiểu A. Nội dung
1. Niềm vui lớn: ( khổ 1)- Hình ảnh ẩn dụ: “Nắng hạ, mặt trời chân lí” - Sự liên kết giữa hình ảnh và ngữ nghĩa: mặt trời đời thường toả hơi ấm thì Đảng cũng là ánh sáng diệu kì toả ra những tư tưởng đúng đắn,mới mẻ. - Từ “bừng” có ý nghĩa nhấn mạnh ánh sáng của lí tưởng xua tan màn sương mù của ý thức tiểu tư sản và mở ra cho nhà thơ chân trời mới. => Hai câu thơ kể lại một kỉ niệm không quên là được giác ngộ lí tưởng cm và bộc lộ tâm trạng vui sướng tự hào. - Hình ảnh so sánh, bút pháp lãng mạn diễn tả niềm vui sướng vô hạn của nhà thơ trong buổi đầu đến với lí tưởng cách mạng. => Cách mạng đã khơi dậy một sức sống mới, đem lại một cảm hứng sáng tạo mới cho nhà thơ 2. Lẽ sống lớn: (khổ 2)- Suy nghĩ: Tôi buộc......biểu hiện cho sự tự nguyện gắn “cái tôi” cá nhân vào “cái ta” chung của mọi người Để tình .....biểu hiện cho một tâm hồn trải rộng với c/đ, tạo khả năng đồng cảm sâu xa với hoàn cảnh của từng c/n cụ thể. Hồn tôi gắn với bao hồn khổ: tình hữu ái giai cấp, ông đặc biệt quan tâm đến quần chúng lao khổ - Hình ảnh: “Gần gũi - mạnh khối đời” mang tính ẩn dụ để chỉ đông đảo người cùng chung cảnh ngộ đoàn kết với nhau vì mục tiêu chung => Tố Hữu đã tìm thấy niềm vui và sức mạnh mới không chỉ bằng nhận thức mà còn bằng tình cảm mến yêu, bằng sự giao cảm của những trái tim. Quan niệm về lẽ sống của ông là sự gắn bó hài hoà giữa “cái tôi” cá nhân và “cái ta” chung của mọi người 3. Tình cảm lớn ( khổ 3)- Điệp ngữ mang tính khẳng định: “là”, các từ “con, em, anh” và số từ ước lệ “vạn” nhấn mạnh khẳng định một tình cảm gia đình đầm ấm, thân thiết, nhà thơ cảm nhận được mình là thành viên trong đại gia đình quần chúng đau khổ. - Từ ngữ: “kiếp phôi pha, cù bất cù bơ” biểu hiện cho tấm lòng đau xót của nhà thơ trước những kiếp đời bất hạnh và bày tỏ lòng căm giận trước những oan trái mà kẻ thù gây nên. => Lí tưởng cộng sản không chỉ giúp cho ông có được lẽ sống mới mà còn giúp cho nhà thơ vượt qua t/c ích kỉ hẹp hòi của giai cấp tư sản để có được tình cảm giai cấp quý báu B. Nghệ thuật:Hình ảnh tươi sáng, giàu ý nghĩa tượng trưng; ngôn ngữ gợi cảm, giàu nhạc điệu; giọng thơ sảng khoái; nhịp thơ hăm hở… C. Ý nghĩa văn bản:Niềm vui lớn, lẽ sống lớn, tình cảm lớn trong buổi đầu gặp lí tưởng cộng sản. III. Tổng kết:Niềm vui khi bắt gặp lí tưởng cách mạng. Tình cảm giai cấp và sự căm giận với những bất công ngang trái của cuộc đời. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Phân tích "Từ ấy"
|
|
|
|
Bài tham khảo:rong những năm tháng dầu sôi lửa bỏng của chiến tranh, rất nhiều nhà thơ đã giác ngộ chân lý của Đảng, của Cách mạng Việt Nam, từ đó đã cho ra đời những bài thơ mang đậm khí thế hiên ngang, anh dũng. Một trong những nhà thơ nổi tiếng của nền Văn học kháng chiến chống Pháp chính là nhà thơ Tố Hữu, mà sự giác ngộ Cách mạng của ông được thể hiện qua bài thơ "Từ ấy". Bài thơ "Từ ấy" được Tố Hữu sáng tác vào tháng 7/1938; nhan đề bài thơ trở thành tên tập thơ đầu của Tố Hữu . Bài thơ nói lên niềm vui sướng hạnh phúc của một thanh niên yêu nước bắt gặp lí tưởng cách mạng của Đảng, thấy gắn bó với nhân dân cần lao. "Từ ấy" mang một ý nghĩa phiếm đinh về mặt thời gian ... Đó là khi tâm trạng của nhà thơ trong giây phút giác ngộ lí tưởng cộng sản .", là mốc son đánh dấu bước ngoặt, lối rẽ mới trong cuộc đời của nhà thơ Tố Hữu , đối với ông " từ ấy " là một thời gian rất cụ thể, ông đã xác định được con đường đúng đắn mà mình phải đi và cũng chính từ đấy , lý tưởng cách mạng đã soi sáng tâm hồn ông , đã giúp ông tìm được lối đi đúng đắn cho cuộc đời ... mà trước đây , ông đã từng lạc lối.Trong buổi ban đầu, những người thanh niên như Tố Hữu dù có nhiệt huyết nhưng vấn chưa tìm được đường đi trong kiếp sống nô lệ, họ bị ngột thở dưới ách thống trị của thực dân phong kiến "băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời".Chính trong hoàn cảnh đó lí tưởng cộng sản như nắng hạ ,nhà thơ được giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lênin ,người thanh niên yêu nước bắt gặp lí tưởng Cách mạng, như mặt trời xua tan đi những u ám, buồn đau, quét sạch mây mù và đen tối hướng đến cho thanh niên một lẽ sống cao đẹp vì một tương lai tươi sáng của dân tộc. Người thanh niên học sinh Tố Hữu đã đón nhận lí tưởng ấy không chỉ bằng khối óc mà bằng cả con tim, không chỉ bằng nhận thức lí trí mà xuất phát từ tình cảm một kỷ niệm sâu sắc của người thanh niên yêu nước bắt gặp lí tưởng Cách mạng, mà sau này, ông nói rõ trong một bài thơ: "Con lớn lên, con tìm Cách mạng – Anh Lưu, anh Diểu dạy con đi - Mẹ không còn nữa, con còn Đảng. Dìu dắt khi con chửa biết gì"(Quê mẹ). 1.Hai câu đầu là niềm say mê náo nức của nhà thơ khi đón nhận lí tưởng Cách mạng" Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lý chói qua tim"
- Từ ấy: dấu ấn quan trọng đánh dấu bước ngoặt lớn trong cuộc đời người thanh niên Tố Hữu -"Bừng nắng hạ", "Mặt trời chân lý", "Chói qua tim" : hình ảnh ẩn dụ + "Bừng" : ánh sáng phát ra bất ngờ đột ngột, bao kín đôi mắt nhà thơ + "Chói" : ánh sáng có sức xuyên thấu mạnh mẽ ánh nắng toả sáng rực rỡ , chói chang bắt nguồn từ mặt trời chân lý -lý tưởng cách mạng ,soi sáng trong lòng tác giả Từ ấy đã làm cho tâm hồn Tố Hữu" bừng nắng hạ" đó là một luồng ánh sáng mạnh mẽ, rực rỡ của nắng vàng chứa chan hạnh phúc ấm no.Soi tỏ vào những bài thơ sau này ta mới thấy hết được niềm vui sướng của Tố Hữu trước ánh sáng huy hoàng của chân lí ."Mặt trời chân lí" là hình ảnh ẩn dụ ca ngợi lí tưởng Cách mạng, ca ngợi chủ nghĩa Cộng sản đã soi sáng tâm hồn, đã "chói qua tim", đem lại ánh sáng cuộc đời như "bừng" lên trong "nắng hạ" - Một cách nói rất mới, rất thơ về lí tưởng:. Tố Hữu với tấm lòng nhiệt thành của mình đã tự hào đón lấy ánh sáng của mặt trời, sẵn sàng hành động cho lí tưởng cách mạng cao đẹp.Bởi lí tưởng đã "chói" vào tim- chính là nơi kết tụ của tình cảm, là nơi kết hợp hài hòa giữa tâm lí và ý thức trí tuệ chỉ thực sự hành động đúng khi có lí tưởng cách mạng, khi có ánh sáng rực rỡ của mặt trời chân lí chiếu vào. "...Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim..."
Hồn tôi - Vườn hoa lá: Hình ảnh so sánh ? Tố hữu sung sướng lí tưởng Cộng sản cũng như cỏ cây đón nhận ánh sáng mặt trời. Lí tưởng đã mang lại sức sống và niềm tin yêu cuộc đời cho tất cả mọi người, lý tưởng Cách mạng đã làm thay đổi hẳn một con người, một cuộc đời. So sánh để khẳng định một sự biến đổi kì diệu mà lí tưởng Cách mạng đem lại. "Hồn" người đã trở thành "vườn hoa", một vườn xuân đẹp ngào ngạt hương sắc, rộn ràng tiếng chim hót. Khiến cho đây là khổ thơ hay nhất, đậm đà nhất Cái giọng điệu rất tỉnh và rất say rạo rực và ngọt lịm hồn ta chủ yếu là cái say người và lịm ngọt của lí tưởng, của niềm hạnh phúc mà lí tưởng đem lại .Ở đây hiện thực và lãng mạn đã hòa quyện vào nhau tạo nên cái gợi cảm, cái sức sống cho câu thơ. : 2. Lời tự nguyện của nhà thơ khi giác ngộ lí tưởng ĐảngNếu khổ đầu là một tiếng reo vui phấn khởi thì khổ thứ hai và thứ ba là bản quyết tâm thư của người thanh niên cộng sản nguyện hòa cái tôi nhỏ bé của mình vào cái ta chung rộng lớn của quần chúng nhân dân cần lao.Người đọc thật sự cảm động bởi thái độ chân thành thiết tha đến vồ vập của một nhà thơ vốn xuất thân từ giai cấp tiểu tư sản tự giác và quyết tâm gắn bó với mọi người "Tôi buộc lòng tôi với mọi người Để tình trang trải khắp muôn nơi Để hồn tôi với bao hồn khổ Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời"
- Động từ "buộc", "trang trải": những hành động có tính tự nguyện . "Buộc" và "trang trải"là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau nhưng nó đều nằm trong nhận thức mới về lẽ sống của Tố Hữu. "Buộc" là đoàn kết gắn bó, tự nguyện gắn bó đời mình với nhân dân cần lao, với hết thảy nhân dân lao động Việt Nam -"Lòng tôi ","tình ","hồn tôi"gắn liền với "mọi người ","trăm nơi","bao hồn khổ" , sự gắn bó đồng cảm sâu xa giữa cái tôi riêng và cái ta chung ,giữa tấm lòng nhà thơ với khối đời chung của nhân dân lao động . "Để tình trang trải với trăm nơi"
Xác định vị trí của mình là đứng trong hàng ngũ nhân dân lao động chưa đủ, "trang trải"-"trăm nơi" biểu hiện một tinh thần đoàn kết, tình cảm nồng thắm, chan hòa với nhân dân.Tình yêu người, yêu đời trong Tố Hữu đã nâng lên thành chủ nghĩa nhân đạo cộng sản.Nhà thơ muốn được như Mác: "Vì lẽ sống, hy sinh cho cuộc sống - Đời với Mác là tình cao nghĩa rộng"., mong ước xây dựng một khối đời vững chắc làm nên sức mạnh quần chúng cách mạng.Từ đó Tố Hữu đã thể hiện niềm hãnh diện khi được là một thành viên ruột thịt trong đại gia đình những người nghèo khổ bất hạnh: -"Bao hồn khổ": tầng lớp đáng thương nhất trong xã hội đương thời, "để" gợi lên ý thơ chủ động sự gắn kết lòng mình với mọi người hòa làm một, chứa đựng nỗi thương xót tột cùng và sự đồng cảm sâu sắc đối với "đại gia đình" đang trong cảnh lầm than. -"Khối đời": danh từ trừu tượng, thể hiện một khái niệm cuộc sống bao quát, gộp chung, không thể nhìn, cân đong đo đếm, nhưng lại gói ghém thành một sức mạnh phi thường, cụ thể hóa phi vật thể. => Nhấn mạnh lần nữa mối ân tình giữa tác giả với muôn dân, khẳng định cuộc sống bản thân nhà thơ không có sự riêng biệt, mà chỉ là một phần tử nhỏ chan hòa và giao cảm với những mảnh đời còn lại. 3.Sự khẳng định của nhà thơ"Tôi đã là con của vạn nhà Là em của vạn kiếp phôi pha Là anh của vạn đầu em nhỏ Không áo cơm ,cù bất cù bơ."
-"đã là", "là con","là em", "là anh": tình cảm đầm ấm ,thân thiết, gắn bó và gần gũi - Đối tượng :"vạn nhà ", "vạn kiếp phôi pha", "vạn đầu em nhỏ ": quần chúng lao khổ, những kiếp sống mòn mỏi đáng thương, những mái đầu trẻ thơ tội nghiệp không nơi nương tựa. -Điệp từ "là" gắn với những đại từ quan hệ thân thuộc, trìu mến, một mặt thể hiện mối quan hệ tự nhiên mà gắn bó sâu sắc, mặt khác ngầm khẳng định nhiệm vụ, vai trò lớn lao của người thanh niên đối với cộng đồng, xã hội . "Cù bất cù bơ": tính từ khá mới lạ nhưng người đọc vẫn cảm nhận được hoàn cảnh nay đây mai đó, bơ vơ không chỉ riêng tác giả, mà còn dựng lên được cuộc sống mỏng manh của hầu hết đồng bào đang trong đói khổ. Sự chuyển biến trong tâm trạng của Tố Hữu: tấm lòng đồng cảm, xót thương đối với mọi người lao khổ . Qua đó còn thể hiện lòng căm giận của nhà thơ trước bao bất công ngang trái của cuộc đời cũ. Tố Hữu đã thể hiện niềm hãnh diện khi được là một thành viên ruột thịt trong đại gia đình những người nghèo khổ bất hạnh, nguyện sẽ đứng vào hàng ngũ những người "than bụi, lầy bùn"là lực lượng tiếp nối của "vạn kiếp phôi pha", là lực lượng ngày mai lớn mạnh của "vạn đầu em nhỏ",để đấu tranh cho ngày mai tươi sáng.Điệp từ "là" được nhắc đi nhắc lại, nó vang lên một âm hưởng mạnh mẽ lắng đọng trong tâm hồn ta một niềm cảm phục, quý mến người trai trẻ yêu đời, yêu người này. Với một tình cảm cá nhân đằm thắm, trong sáng, "Từ ấy" đã nói một cách thật tự nhiên nhuần nhụy về lí tưởng, về chính trị và thật sự là tiếng hát của một thanh niên, một người cộng sản chân chính luôn tuôn trào trong mình mạch nguồn của lí tưởng cách mạng. 4. Nghệ thuật- Sử dụng biện pháp tu từ : ẩn dụ ,so sánh , diệp từ -Thể thơ thất ngôn, 1 thể thơ truyền thống - Ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhịp diệu - Sự đa dạng của bút pháp tự sự, lãng mạn, trữ tình. Tổng kết:Trong lịch sử văn học cách mạng nước nhà, thật hiếm thấy nhà thơ nào lại có những tác phẩm mang đậm dấu ấn đặc trưng của mỗi giai đoạn lịch sử và đã đi vào lòng người như thơ Tố Hữu trong thế kỷ 20. Tình yêu quê hương, đất nước thiết tha, sâu nặng đã hóa thân vào những vần thơ trữ tình chính trị đạt tới đỉnh cao về nghệ thuật thơ ca cách mạng, cả cuộc đời Tố Hữu đã hiến dâng cho tổ quốc, cho Đảng và nhân dân. Khi biết sắp phải đi xa, ông cũng chỉ nghĩ là về một nơi mà ta vẫn gọi là "cõi tạm". Ông mong muốn tiếp tục được hiến dâng.Nhà thơ Cách mạng ấy , cùng biết bao nhà thơ khác đã từng lạc lối giữa cuộc đời , giữa sự lựa chọn lớn lao , cống hiến cuộc đời , tuổi trẻ cho Cách Mạng . Nhưng " từ ấy " , nhà thơ đã tìm được lối đi cho mình khi giác ngộ lý tưởng cộng sản... Bài thơ "Từ ấy" là tâm niệm của một người thanh niên yêu nước, giác ngộ lý tưởng cách mạng. Nó thể hiện niềm vui sướng, say mê mãnh liệt, những nhận thức và tình cảm mới của Tố Hữu khi có ánh sáng lý tưởng cách mạng soi rọi. Sự vận động ấy của tâm trạng nhà thơ được thể hiện bằng những hình ảnh tươi sáng, rực rỡ; các biện pháp tu từ và ngôn ngữ giàu nhịp điệu."Từ Ấy" là một bài thơ vừa có tính triết lý sâu sắc, vừa rất gần gũi, bình dị, thân thuộc. Sau mấy chục năm đọc lại, những vần thơ đó vẫn là một câu hỏi thấm thía mà những người cộng sản hôm nay không thể không suy ngẫm một cách nghiêm túc để tự mình tìm ra lời giải đáp thấu đáo. Giữa cái chung và cái riêng, giữa cộng đồng - tập thể và cá nhân, giữa vật chất tầm thường và tinh thần – tư tưởng của người cộng sản. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Tìm hiểu bài thơ "Từ ấy"
|
|
|
|
Bài tham khảo:"Từ ấy" là một thời điểm lịch sử đã trực tiếp tác động đến cuộc đời nhà thơ khi được giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lênin, một kỷ niệm sâu sắc của người thanh niên yêu nước bắt gặp lí tưởng Cách mạng,Trong buổi ban đầu ấy, những người thanh niên như Tố Hữu dù có nhiệt huyết nhưng vấn chưa tìm được đường đi trong kiếp sống nô lệ, họ bị ngột thở dưới ách thống trị của thực dân phong kiến "băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời".Chính trong hoàn cảnh đó lí tưởng cộng sản như nắng hạ , như mặt trời xua tan đi những u ám, buồn đau, quét sạch mây mù và đen tối hướng đến cho thanh niên một lẽ sống cao đẹp vì một tương lai tươi sáng của dân tộc. Người thanh niên Học Sinh Tố Hữu đã đón nhận lí tưởng ấy không chỉ bằng khối óc mà bằng cả con tim, không chỉ bằng nhận thức lí trí mà xuất phát từ tình cảm: "Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ, Mặt trời chân lí chói qua tim."
Từ ấy đã làm cho tâm hồn Tố Hữu" bừng nắng hạ" đó là một luồng ánh sáng mạnh mẽ, rực rỡ của nắng vàng chứa chan hạnh phúc ấm no. Soi tỏ vào những bài thơ sau này ta mới thấy hết được niềm vui sướng của Tố Hữu trước ánh sáng huy hoàng của chân lí. "Đời đen tối ta phải tìm ánh sáng Ta đi tới chỉ một đường cách mạng"
Và đó mới là bản chất của lí tưởng cộng sản đã làm người thanh niên 18 tuổi ấy say mê, ngây ngất trước một điều kì diệu: Mặt trời chân lí chói qua tim Mặt trời chân lí là một hình ảnh ẩn dụ tượng trưng cho lí tưởng của Đảng,của cách mạng , mặt trời của chủ nghĩa xã hội. Tố Hữu với tấm lòng nhiệt thành của mình đã tự hào đón lấy ánh sáng của mặt trời, sẵn sàng hành động cho lí tuởng cách mạng cao đẹp.Bởi lí tưởng đã "chói" vào tim- chính là nơi kết tụ của tình cảm, là nơi kết hợp hài hòa giữa tâm lí và ý thức trí tuệ chỉ thực sự hành động đúng khi có lí tưởng cách mạng, khi có ánh sáng rực rỡ của mặt trời chân lí chiếu vào. Lý tưởng Cách mạng đã làm thay đổi hẳn một con người, một cuộc đời. So sánh để khẳng định một sự biến đổi kì diệu mà lí tưởng Cách mạng đem lại: "Hồn tôi là một vườn hoa lá, Rất đậm hương và rộn tiếng chim."
Cái giọng điệu rất tỉnh và rất say rạo rực và ngọt lịm hồn ta chủ yếu là cái say người và lịm ngọt của lí tưởng, của niềm hạnh phúc mà lí tưởng đem lại :"hồn" người đã trở thành "vườn hoa", một vườn xuân đẹp ngào ngạt hương sắc, rộn ràng tiếng chim hót.Ở đây hiện thưc và lãng mạn đã hòa quyện vào nhau tạo nên cái gợi cảm, cái sức sống cho câu thơ. Nếu khổ đầu là một tiếng reo vui phấn khởi thì khổ thứ hai và thứ ba là bản quyết tâm thư của người thanh niên cộng sản nguyện hòa cái tôi nhỏ bé của mình vào cái ta chung rộng lớn của quần chúng nhân dân cần lao.Người đọc thật sự cảm động bởi thái độ chân thành thiết tha đến vồ vập của một nhà thơ vốn xuất thân từ giai cấp tiểu tư sản tự giác và quyết tâm gắn bó vớI mọi người: "Tôi buộc hồn tôi với mọi người Để tình trang trải với trăm nơi Để hồn tôi với bao hồn khổ Gần gũi bên nhau thêm mạnh khối đời."
"Buộc" và "trang trải"là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau nhưng nó đều nằm trong nhận thức mới về lẽ sống của Tố Hữu. "Buộc" là đoàn kết gắn bó, tự nguyện gắn bó đời mình với nhân dân cần lao, với hết thảy nhân dân lao động Việt Nam. Xác định vị trí của mình là đứng trong hàng ngũ nhân dân lao động chưa đủ, Tố Hữu còn biểu hiện một tinh thần đoàn kết, tình cảm nồng thắm, chan hòa với nhân dân.Tình yêu người, yêu đời trong Tố Hữu đã nâng lên thành chủ nghĩa nhân đạo cộng sản.Nhà thơ muốn được như Mác: "Vì lẽ sống, hy sinh cho cuộc sống - Đời với Mác là tình cao nghĩa rộng"., mong ước xây dựng một khối đời vững chắc làm nên sức mạnh quần chúng cách mạng.Từ đó Tố Hữu đã thể hiện niềm hãnh diện khi được là một thành viên ruột thịt trong đại gia đình những người nghèo khổ bất hạnh: Tôi đã là con của vạn nhà Là em của vạn kiếp phôi pha Là anh của vạn đầu em nhỏ Không áo cơm cù bấc cù bơ.
Tố Hữu nguyện sẽ đứng vào hàng ngũ những người "than bụi, lầy bùn"là lực lượng tiếp nối của "vạn kiếp phôi pha", là lực lượng ngày mai lớn mạnh của "vạn đầu em nhỏ",để đấu tranh cho ngày mai tươi sáng.Điệp từ "là" được nhắc đi nhắc lại, nó vang lên một âm hưởng mạnh mẽ lắng đọng trong tâm hồn ta một niềm cảm phục, quý mến người trai trẻ yêu đời, yêu người này. Với một tình cảm cá nhân đằm thắm, trong sáng, "Từ ấy" đã nói một cách thật tự nhiên nhuần nhụy về lí tưởng, về chính trị và thật sự là tiếng hát của một thanh niên, một người cộng sản chân chính luôn tuôn trào trong mình mạch nguồn của lí tưởng cách mạng. Bài thơ "Từ ấy" của Tố Hữu là một bài thơ vừa có tính triết lý sâu sắc, vừa rất gần gũi, bình dị, thân thuộc. Sau mấy chục năm đọc lại, những vần thơ đó vẫn là một câu hỏi thấm thía mà những người cộng sản hôm nay không thể không suy ngẫm một cách nghiêm túc để tự mình tìm ra lời giải đáp thấu đáo. Giữa cái chung và cái riêng, giữa cộng đồng - tập thể và cá nhân, giữa vật chất tầm thường và tinh thần – tư tưởng của người cộng sản. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Phân tích bài thơ "Từ ấy"
|
|
|
|
Bài tham khảo:Bài thơ “Từ ấy” được Tố Hữu sáng tác vào tháng 7/1938; nhan đề bài thơ trở thành tên tập thơ đầu của ông. Có thể nói “ Từ ấy” là tiếng hát của người thanh niên yêu nước Việt Nam giác ngộ lí tưởng Mác Lê Nin trong ngày hội lớn của cách mạng: Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lí chói qua tim Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim
“Từ ấy” là một thời điểm lịch sử đã trực tiếp tác động đến cuộc đời nhà thơ khi được giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lênin, một kỷ niệm sâu sắc của người thanh niên yêu nước bắt gặp lí tưởng cách mạng. Trong buổi ban đầu ấy, những người thanh niên như Tố Hữu dù có nhiệt huyết nhưng vấn chưa tìm được đường đi trong kiếp sống nô lệ, họ bị ngột thở dưới ách thống trị của thực dân phong kiến “băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời”. Chính trong hoàn cảnh đó lí tưởng cộng sản như nắng hạ , như mặt trời xua tan đi những u ám, buồn đau, quét sạch mây mù và đen tối hướng đến cho thanh niên một lẽ sống cao đẹp vì một tương lai tươi sáng của dân tộc. Người thanh niên học sinh Tố Hữu đã đón nhận lí tưởng ấy không chỉ bằng khối óc mà bằng cả con tim, không chỉ bằng nhận thức lí trí mà xuất phát từ tình cảm: “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lí chói qua tim”
Từ ấy đã làm cho tâm hồn Tố Hữu“ bừng nắng hạ” đó là một luồng ánh sáng mạnh mẽ, rực rỡ của nắng vàng chứa chan hạnh phúc ấm no.Soi tỏ vào những bài thơ sau này ta mới thấy hết được niềm vui sướng của Tố Hữu trước ánh sáng huy hoàng của chân lí. “Đời đen tối ta phải tìm ánh sáng
Ta đi tới chỉ một đường cách mạng”
Và đó mới là bản chất của lí tưởng cộng sản đã làm người thanh niên 18 tuổi ấy say mê, ngây ngất trước một điều kì diệu: “Mặt trời chân lí chói qua tim”
Mặt trời chân lí là một hình ảnh ẩn dụ tượng trưng cho lí tưởng của Đảng,của cách mạng , mặt trời của chủ nghĩa xã hội. Tố Hữu với tấm lòng nhiệt thành của mình đã tự hào đón lấy ánh sáng của mặt trời, sẵn sàng hành động cho lí tuởng cách mạng cao đẹp.Bởi lí tưởng đã “chói” vào tim- chính là nơi kết tụ của tình cảm, là nơi kết hợp hài hòa giữa tâm lí và ý thức trí tuệ chỉ thực sự hành động đúng khi có lí tưởng cách mạng, khi có ánh sáng rực rỡ của mặt trời chân lí chiếu vào. Lý tưởng Cách mạng đã làm thay đổi hẳn một con người, một cuộc đời. So sánh để khẳng định một sự biến đổi kì diệu mà lí tưởng Cách mạng đem lại: “Hồn tôi là một vườn hoa lá,
Rất đậm hương và rộn tiếng chim”
Cái giọng điệu rất tỉnh và rất say rạo rực và ngọt lịm hồn ta chủ yếu là cái say người và lịm ngọt của lí tưởng, của niềm hạnh phúc mà lí tưởng đem lại :“hồn” người đã trở thành “vườn hoa”, một vườn xuân đẹp ngào ngạt hương sắc, rộn ràng tiếng chim hót. Ở đây hiện thưc và lãng mạn đã hòa quyện vào nhau tạo nên cái gợi cảm, cái sức sống cho câu thơ. Nếu khổ đầu là một tiếng reo vui phấn khởi thì khổ thứ hai và thứ ba là bản quyết tâm thư của người thanh niên cộng sản nguyện hòa cái tôi nhỏ bé của mình vào cái ta chung rộng lớn của quần chúng nhân dân cần lao.Người đọc thật sự cảm động bởi thái độ chân thành thiết tha đến vồ vập của một nhà thơ vốn xuất thân từ giai cấp tiểu tư sản tự giác và quyết tâm gắn bó với mọi người: Tôi buộc hồn tôi với mọi người
Để tình trang trải với trăm nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổ
Gần gũi bên nhau thêm mạnh khối đời
“Buộc” và “trang trải”là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau nhưng nó đều nằm trong nhận thức mới về lẽ sống của Tố Hữu. “Buộc” là đoàn kết gắn bó, tự nguyện gắn bó đời mình với nhân dân cần lao, với hết thảy nhân dân lao động Việt Nam Để tình trang trải với trăm nơi
Xác định vị trí của mình là đứng trong hàng ngũ nhân dân lao động chưa đủ, Tố Hữu còn biểu hiện một tinh thần đoàn kết, tình cảm nồng thắm, chan hòa với nhân dân.Tình yêu người, yêu đời trong Tố Hữu đã nâng lên thành chủ nghĩa nhân đạo cộng sản.Nhà thơ muốn được như Mác: “Vì lẽ sống, hy sinh cho cuộc sống – Đời với Mác là tình cao nghĩa rộng”., mong ước xây dựng một khối đời vững chắc làm nên sức mạnh quần chúng cách mạng.Từ đó Tố Hữu đã thể hiện niềm hãnh diện khi được là một thành viên ruột thịt trong đại gia đình những người nghèo khổ bất hạnh: Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ
Không áo cơm cù bấc cù bơ.
Tố Hữu nguyện sẽ đứng vào hàng ngũ những người “than bụi, lầy bùn”là lực lượng tiếp nối của “vạn kiếp phôi pha”, là lực lượng ngày mai lớn mạnh của “vạn đầu em nhỏ”,để đấu tranh cho ngày mai tươi sáng.Điệp từ “là” được nhắc đi nhắc lại, nó vang lên một âm hưởng mạnh mẽ lắng đọng trong tâm hồn ta một niềm cảm phục, quý mến người trai trẻ yêu đời, yêu người này. Với một tình cảm cá nhân đằm thắm, trong sáng, “Từ ấy” đã nói một cách thật tự nhiên nhuần nhụy về lí tưởng, về chính trị và thật sự là tiếng hát của một thanh niên, một người cộng sản chân chính luôn tuôn trào trong mình mạch nguồn của lí tưởng cách mạng. Bài thơ “Từ ấy” của Tố Hữu là một bài thơ vừa có tính triết lý sâu sắc, vừa rất gần gũi, bình dị, thân thuộc. Sau mấy chục năm đọc lại, những vần thơ đó vẫn là một câu hỏi thấm thía mà những người cộng sản hôm nay không thể không suy ngẫm một cách nghiêm túc để tự mình tìm ra lời giải đáp thấu đáo. Giữa cái chung và cái riêng, giữa cộng đồng – tập thể và cá nhân, giữa vật chất tầm thường và tinh thần – tư tưởng của người cộng sản. Cả cuộc đời Tố Hữu đã hiến dâng cho tổ quốc, cho Đảng và nhân dân. Khi biết sắp phải đi xa, ông cũng chỉ nghĩ là về một nơi mà ta vẫn gọi là “cõi tạm”. Ông mong muốn tiếp tục được hiến dâng: Tạm biệt đời ta yêu quý nhất Còn mấy vần thơ, một nắm tro. Thơ gửi bạn đường. Tro bón đất Sống là cho. Chết cũng là cho.
Bởi thế, con người, cuộc đời, sự nghiệp cách mạng và thi ca của Tố Hữu luôn sống mãi trong niềm tin yêu, kính trọng của Đảng và nhân dân.. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại của bài thơ "Chiều tối"
|
|
|
|
Bài tham khảo Hồ Chí Minh là nhà Cách mạng vĩ đại của dân tộc ta, đồng thời là một tác gia lớn. Bác để lại một sự nghiệp sáng tác đồ sộ, nổi bật nhất là tập “Nhật kí trong tù”.Trong số 133 bài thơ của tập nhật kí, “Mộ” là một bài thơ nhỏ nhắn, xinh xắn, đáng yêu. Đó là bài thơ thứ 31, được sáng tác vào cuối thu năm 1942, trên con đường từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo, ghi lại cảnh xóm núi lúc ngày tàn. Đằng sau đó là vẻ đẹp tâm hồn Hồ Chí Minh. Bài thơ tiêu biểu cho sự kết hợp hài hòa giữa cổ điển và hiện đại. Điều đó được thể hiện ở một số phương diện: Thi đề, thi liệu, bút pháp, ngôn ngữ, … Trước tiên là thi đề. Nội dung trữ tình của bài thơ thuộc về một trong những đề tài khá quen thuộc trong thơ cổ điển phương Đông đó là hoàng hôn và nỗi niềm cô đơn. Tuy nhiên, điểm đáng chú ý ở đây là ngay trong thi đề, Bác đã đưa vào bài thơ những yếu tố hiện đại. Đó là sự chuyển dịch từ không gian vũ trụ mang tính chất vĩnh viễn, vĩnh hằng đậm màu sắc ước lệ ở hai câu thơ đầu sang không gian đời thường, mang tính chất sinh hoạt vừa cụ thể vừa sống động ở hai câu sau, điều mà trong thao tác tư duy thơ, các nhà thơ trung đại ít khi thể hiện. Chính sự phá cách trong việc mở rộng biên độ của đề tài đã chi phối việc sử dụng thi liệu. Đã có một sự sáng tạo mới về thi liệu mà cụ thể là việc sử dụng hình ảnh thơ. Ngoài những hình ảnh quen thuộc: vân (cô vân), điểu (quyện diểu), lâm (quy lâm), sơn (sơn thôn)…là những chất liệu mới: thiếu nữ, ma bao túc (xay ngô), lô (lò than)… Điều này không chỉ cho thấy tính hiện đại của bài thơ qua sự vận động của thi tứ mà quan trong hơn, còn cho thấy tính hiên đại của bài thơ qua quan niệm thẫm mĩ. Đối với Hồ Chí Minh, khung cảnh sinh hoạt sống động kia mới thực sự là nội dung chính của bức tranh. Hãy chú ý cách tô đậm các đường nét chính và gam màu chủ đạo của khung cảnh chiều tối nếu ta nhìn bài thơ từ góc nhìn của hội họa. Hình ảnh thiếu nữ xay ngô và lò than rực hồng kia không ngẫu nhiên và cũng không chỉ đóng vai trò của một thứ chất liệu thông thường. Nó toát lên sức quyến rũ của sự sống, nét duyên dáng, trẻ trung của con người. Đó là vẻ đẹp của cuộc sống mà tác giả Ngục trung nhất kí luôn lưu tâm và là một thứ lửa sưởi ấm cõi lòng nhân vật trữ tình của bài thơ. Vì lí tưởng mà Người theo đuổi, đă từng chấp nhận xa Tổ quốc, quê hương và sẵn lòng chịu đựng vô vàn những thử thách, gian truân khác trên chặng đường đấu tranh suốt ba mươi năm… Tiếp theo, nét cổ điển và hiện đại của bài thơ Chiều tối cũng được thể hiện khá nổi bật trong bút pháp.Ta có thể nhận thấy bút pháp gợi tả, chấm phá theo phong cách vẽ tranh thủy mặc được tác giả sử dụng một cách hiệu quả. Ngay cả trong khi sử dụng bút pháp chấm phá theo lối cổ điển, tác giả đã để dấu ấn người nghệ sĩ hiện đại của mình qua thái độ và cảm xúc riêng (khá trực tiếp) lên tạo vật. Tiếp cận hệ thống hình ảnh cụ thể của bài thơ, người đọc có thể nhận ra một cách rõ ràng là tác giả không chỉ muốn dừng lại trong hình ảnh còn chung chung của điểu (một cánh chim) mà muốn cá biệt hóa bằng nét vẽ quyện điểu (một cánh chim mỏi mệt); cũng không muốn đơn giản hóa trong một khái niệm là vân mà cố tình tạo thêm những điểm nhấn cô vân mạn mạn (đám mây đơn lẻ uể oải, chậm chạp trôi)… Sự chia sẻ về tình cảm và thái độ ngay trong khi sử dụng bút pháp cổ điển ở hai câu đầu của bài thơ cho thấy sự hiện diện của cái “Tôi” trữ tình và là một bằng chứng cho thấy Hồ Chí Minh thuộc kiểu mẫu nhà thơ hiện đại. Điều này càng là một hiển nhiên khi tác giả chuyển từ bút pháp gợi tả, chấm phá sang bút pháp miêu tả, thực tả. Cuối cùng, trong sử dụng ngôn ngữ, màu sắc cổ điển mà hiện đại của bài thơ lại càng rõ với sự gia tăng và ưu tiên cho động từ và ngôn ngữ thông dụng của bạch thoại (Bạch thoại tức là ngôn ngữ nói của người Hán; ngôn ngữ viết dựa trên ngôn ngữ nói ấy; phân biệt với văn ngôn, văn bạch thoại) * Mộ (Chiều tối) là một bài thơ đáng yêu: Màu sắc cổ điển hàm súc kết hợp với tính chất trẻ trung, hiện đại, bình dị. Tứ thơ vận động từ cảnh đến tình, từ trong bóng tối đến sự sống, ánh sáng và tương lai. Nét vẽ tinh tế, thể hiện một hồn thơ “bát ngát tình”. Đây là bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Hồ Chí Minh. Bài thơ thể hiện tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, ý chí vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt của nhà thơ – chiến sĩ Hồ Chí Minh. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Tâm trạng Hàn Mạc Tử qua "Đây thôn Vĩ Dạ"
|
|
|
|
Bài tham khảo:Hàn Mặc Tử là một trong số những tài năng độc đáo và thống soái một trường thơ: thơ điên. Chế Lan Viên từng quả quyết rằng : "Tôi xin hứa hẹn với các người rằng, mai sau, những cái tầm thường, mực thước kia sẽ biến tan đi, và còn lại của cái thời kì này chút gì đáng kể đó là Hàn Mặc Tử. Bên cạnh thơ điên, Hàn Mặc Tử còn có những vần thơ trữ tình rất dịu dàng và duyên dáng. Trong số đó có bài thơ “ Đây thôn Vĩ Dạ”. Mở đầu bài thơ về Vĩ Dạ thôn là một câu thơ rất gợi tình, gợi thương: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”
Câu hỏi tu từ mở ra một trời liên tưởng. nó dường như là lời của một người con gái:”sao lâu quá anh không về Vĩ Dạ?. Câu hỏi mang bao giận hờn trách móc mà cũng ẩn chứa biết bao niềm thương nhớ: sao anh không về thăm em. Nhưng ngẫm kĩ thêm chút nữa, cũng có thể nhà thơ đã đã tự đặt câu hỏi cho chính mình:” Sao mình không về thôn Vĩ?” , hỏi cũng để tác giả tự bài tỏ lòng mình, tự giãi bài nỗi niềm thương nhớ. Thôn Vĩ Dạ đã từng in dấu chân của tác giả và những kỉ niệm về người thương. Về với Vĩ Dạ là về với những hình ảnh quen thuộc, với chân trời cảm xúc. Cảnh cũ người xưa thấp thoáng trong vần thơ đẹp mang hoài niệm, bao kỷ niệm sống dậy trong một hồn thơ. Nó gắn liền với cảnh sắc vườn tược và con người xứ Huế mộng mơ: “Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền?”
Tất cả là của quá khứ hay của hiện tại trong tưởng tượng của nhà thơ? Chỉ biết là thiên nhiên và con người thôn vĩ hiện lên thật đẹp. “Nắng hàng cau” là thứ nắng mai tinh khiết khi những hàng cau thẳng tắp vươn lên chào đón bình minh. Viết về cau trước Hàn Mặc Tử có nhiều: “Có nắng chiều đột kích mấy hàng cau”(Nguyên Hồng) “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông..”(Nguyễn Bính).
Nhưng hàng cau trong hừng đông thì chỉ Hàn Mặc Tử mới có. Đó là một cái nhìn mê mải, câu thơ tiếp theo là một lời reo mừng thích thú: “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. Nhìn vào vườn cây xanh mướt ấy con người thấy lòng mình nhẹ nhàng hơn. Đó là lời ca ngợi say sưa của người yêu thiên nhiên và có ân tình đậm đà với thôn Vĩ. Không những thiên nhiên mà con người hiện lên với một hình ảnh cụ thể: “lá trúc che ngang mặt chữ điền” . Mặt chữ điền có thể là khuôn mặt của một người con gái ngay thẳng, phúc hậu và cũng là khuôn mặt của thôn Vĩ, của con người xứ Huế. Hàn Mặc Tử đã tinh tế dùng lá trúc che ngang để khuôn mặt chữ điền hiện lên trong một vẻ đẹp kín đáo. Có thể nói đây là khổ thơ dầu mang nặng những kí ức của tác giả. Tuy câu hỏi đầu mang vẻ ngậm ngùi tiếc nuối nhưng nhanh chóng chìm đi khi tâm hồn nhà thơ bị cuốn vào cảnh sắc. Qua đó ta có thể đồng cảm cho một con người mang mặc cảm bệnh tật nhưng vẫn hướng về cảnh và người thôn Vĩ với tình yêu dạt dào. Khổ thơ sau vẫn nối tiếp mạch thơ, nhưng không còn êm ái mà tan tác chia lìa: “Gió theo lối gió mây đường mây Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay Thuyền ai đậu bến sông trăng đó Có chở trăng về kịp tối nay?”.
Thường thì gió và mây luôn gắn kết với nhau nhưng từ nay xa cách nhau. Gió mây ở đây không phải là hiện thực mà nó mang tâm trạng của người trong cảnh chia lìa. Nhớ Vĩ Dạ nhưng không thể trở về nơi ấy được nữa nên buồn và nỗi buồn đã tràn ra cảnh vật :”Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”. Dòng nước thấm cái buồn của ngoại cảnh hay chính là cái buồn thiu của tâm cảnh. Thiên nhiên đẹp nhưng cũng thật lạnh lẽo, nó mang đầy tâm trạng u buồn, cô đơn của nhà thơ trước sự xa cách, thờ ơ của cuộc đời đối với mình. Dù vậy tâm hồn thơ của tác giả vẫn chan chứa tình yêu :”Thuyền ai đậu bến sông trăng đó-Có chở trăng về kịp tối nay?” Trăng từng xuất hiện rất nhiều trong thơ Hàn Mặc Tử với đủ hình dạng, trạng thái khác nhau : ”Trăng nằm sóng xoãi trên cành liễu Đợi gió thu về để lả lơi.”
Nhưng Còn ánh trăng ở đây lại là một ánh trăng huyền ảo, một không gian tràn đầy trăng và thơ. Thuyền ở đây là thuyền của người thôn Vĩ hay con thuyền của chính tác giả? Chỉ biết con thuyền chở đầy trăng. Dòng sông Hương dát ánh trăng trở thành dãy ngân hà của vũ trụ. liệu con thuyền ấy có chở trăng về kịp tối nay hay là một tối khác? Câu hỏi này cũng là câu hỏi của tác giả liệu mình có đến được bến bờ thời gian khi mà cuộc sống ngày một khép lại. Có lẽ chỉ có trăng là hiểu dược nỗi lòng của nhà thơ, có thể là một người bạn đồng hành cùng ông vơi đi cảm giác cô đơn và mặc cảm bệnh tật. Qua một loạt các câu hỏi tu từ vườn ai thuyền ai dến cuối cùng là “tình ai”: “Mo khách đường xa khách đường xa Áo em trắng quá nhìn không ra Ở đây sương khói mờ nhân ảnh Ai biết tình ai có đậm đà”
Hàn Mặc Tử đắm chìm trong cảnh vật nhưng vẫn không thôi trăn trở. Thôn Vĩ và con người thôn Vĩ hiền lành phúc hậu, xinh đẹp, tất cả cũng chỉ là phiếm định, là “ai” mà thôi. Cuộc trở về trong hoài niệm càng mơ hồ đến cuối cùng nhà thơ trở nên xa lạ trong kí ức của mình.” Khách dường xa là ai?” Ai mơ khách đường xa? Có phải là hình dáng của “thuyền ai” “vườn ai”? Hay tác giả lại là một khách đường xa đang trở về trong mơ nên :”Áo em trắng quá nhìn không ra”, tất cả tạo thành một lời trăn trở “Ai biết tình ai có đậm đà“. Đó là câu hỏi tu từ đặt ở cuối bài thơ khiến cho nỗi niềm riêng của nhà thơ càng trở nên xót xa, làm tăng lên nỗi cô đơn trong tâm một con người thiết tha yêu đời yêu người. Hỏi mà không biết ai hỏi, hỏi ai. Hỏi mà không có câu trả lời. Câu hỏi rơi vào hư vô, day dứt ám ảnh không nguôi để lại dư âm trong lòng người đọc. Đây thôn Vĩ Dạ” là một bức tranh đẹp về cảnh và người của một miền quê đất nước qua tâm hồn thơ mộng, giàu trí tưởng tượng và đầy yêu thương của một nhà thơ đa tình đa cảm. Bằng thủ pháp nghệ thuật liên tưởng cùng với những câu hỏi tu từ xuyên suốt bài thơ, tác giả Hàn Mặc Tử đã phác họa ra trước mắt ta một khung cảnh nên thơ, đầy sức sống và ẩn trong đấy là nỗi lòng của chính nhà thơ: nỗi đau đớn trước sự cô đơn, buồn chán trần thế, đau cho số phận ngắn ngủi của mình. Đây thôn Vĩ Dạ sẽ mãi là tiếng lòng của một tâm hồn yêu thương con người, tạo vật nhưng đầy bất hạnh. Sưu tầm
|
|