|
|
giải đáp
|
Soạn bài: "Thông điệp nhân Ngày Thế giới phòng chống AIDS, 1 - 12 - 2003"
|
|
|
|
Dàn ý tham khảo:I. Tìm hiểu chung. 1. Tiểu dẫn .- Cô-phi Anna: Sinh ngày 8/4/1938 tại Ga-na (một nước Cộng hoà châu Phi). +Qúa trình hoạt động: - Năm 1962: Bắt đầu làm việc ở tổ chức Liên hợp quốc -Năm 1966: Phó tổng thư kí Liên hợp quốc phụ trách gìn giữ hoà bình. -Từ 1/1/1997: Tổng thư kí Liên hợp quốc. Ông đảm nhiệm chức vụ này hai nhiệm kì liền cho tới tháng 1/2007 (10 năm). 2. Văn bản : a. Hoàn cảnh và mục đích sáng tác :- Cô-Phi Anna viết văn bản này gửi nhân dân toàn thế giới nhân ngày thế giới phòng chống HIV/AIDS 1/12/2003. -Mục đích: kêu gọi cá nhân và mọi người chung tay góp sức ngăn chặn hiểm hoạ, nhận thấy sự nguy hiểm của đại dịch này. b. Thể loại :- Văn bản nhật dụng. -Thông điệp: Là những lời thông cáo mang ý nghĩa quan trọng đối với nhiều người, nhiều quốc gia, dân tộc. c. Bố cục :Bài văn chia làm ba đoạn. d. Chủ đề :-Thông điệp nêu rõ hiểm hoạ của toàn nhân loại ® kêu gọi các quốc gia và mọi ngưòi coi đó là nhiệm vụ của chính mình, không nên im lặng, kì thị, phân biệt đối với những ngưòi bị HIV/AIDS. II. Đọc hiểu văn bản. 1. Đọc. 2. Tìm hiểu văn bản :a. Đặc điểm tình hình của văn kiện . -Căn cứ vào tình hình thực tế: +1/4 số thanh niên bị nhiễm HIV ở các nước. +1/4 số trẻ sơ sịnh bị nhiễm. Cứ một phút một ngày trôi qua lại có 10 nguời bị nhiễm. +Khi thông điệp này viết ra (2003) thì sự cố gắng của mọi người, mọi quốc gia chưa đủ. Vì thế thông điệp dự đoán "chúng ta không thể đạt đuợc mục tiêu nào vào 2005". b. Nhiệm vụ của mỗi quốc gia :-Không vì mục tiêu trong sự cạnh tranh mà quên đi thảm hoạ cướp đi cái đáng quý nhất là sinh mệnh và tuổi thọ của con nguời. - Có những câu văn gọn mà độc đáo: "Trong thế giới đó, im lặng đồng nghĩa với chết ". Có những câu tạo ra hình ảnh gợi cảm: "Hãy cùng với chúng tôi giật đổ các thành luỹ của sự im lặng, kì thị và phân biệt đối xử đang vây quanh bệnh dịch này". Lại có những câu văn tạo được độc đáo và giàu hình ảnh: "Hãy đừng để một ai có ảo tưởng rằng chúng ta có thể bảo vệ được chính mình bằng cách dựng lên các bức rào giữa chúng ta và họ. Trong thế giới AIDS khốc liệt này không có khái niệm giữa chúng ta và họ". c. Ý nghĩa của bản thông điệp :-Là tiếng nói kịp thời trước một nguy cơ đang đe doạ cuộc sống của loài người, thể hiện thái độ sống tích cực, một tinh thần trách nhiệm cao tình yêu thương nhân loại sâu sắc. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Nêu cảm nhận của mình về bài nghị luận của Phạm Văn Đồng “ Nguyễn Đình chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc”
|
|
|
|
Bài tham khảo:Nguyễn Đình chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc là bài viết của Phạm Văn Đồng đăng trên Tạp chí Văn học số 7 – 1963 nhân kỷ niệm 75 năm ngày mất của Nguyễn Đình Chiểu (3 – 7 – 1988). Bằng sự từng trải cách mạng, sự gắn bó sâu sắc với đất nước, với nhân dân và cách nghĩ sâu rộng của một nhà văn nghệ lớn, tác giả đã nhìn nhận cuộc đời và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu trong mối liên hệ khăng khít với hoàn cảnh của Tổ quốc lúc bấy giờ và với thời đại hiện nay; từ đó phát hiện ra những điều mới mẻ về nhà thơ yêu nước lớn ở miền Nam, giúp ta càng thêm yêu quý con người và tác phẩm của ông. Bài viết ra đời cách đây hơn 40 năm nhưng vẫn còn nguyên giá trị cả về mặt khoa học và mặt tư tưởng. Văn bản gồm ba phần, ứng với ba luận điểm lớn: -Phần 1: Từ đầu đến “khôn lường thực hư”, nói về con người và quan niệm văn chương của nguyễn Đình Chiều. -Phần 2: Từ “Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu” đến “hai vai nặng nề” nói về thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu. -Phần 3: Phần còn lại, nói về Truyện thơ Lục Vân Tiên. Nhìn chung, cách sắp xếp các luận điểm như vậy là phù hợp với logic nội dung bài viết. Lưu ý ở đây, tác giả nói về thơ văn yêu nước của nguyễn Đình Chiểu trước, sau đó mới nói đến truyện Nôm Lục Vân Tiên. Phải chăng tác giả muốn người đọc chú ý hơn đến thơ văn yêu nuwocs của Đồ Chiểu? Tác giả cho rằng văn thơ của Nguyễn Đình chiểu cũng giống như “những vì sao có ánh sáng khác thường”, “con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy”. Đó là một khái niệm có ý nghĩa phương pháp luận trong cách nhhinf về nhà thơ yêu nước này. Đây chính là vẻ đẹp mộc mạc, giản dị, dân dã của nhà thơ nguyễn Đình Chiểu, vẻ đẹp của loại văn chương hướng về đại chúng, gắn bó máu thịt với nhân dân, phục vụ cuộc sống của người dân, mang tính nhân dân sâu sắc. Văn chương Đồ Chiểu không trau chuốt, óng mượt mà chân chất, phác thực, có chỗ tưởng như thô kệch, nhưng lại chứa đựng trong đó những tư tưởng, tình cảm nồng hậu, cao quý đối với nhân dân. “Nó không phải là vẻ đẹp của những cây lúa xanh uốn mình trong gió nhẹ. Nó đẹp vẻ đẹp của đống thóc mẩy vàng”. (Nguyễn Đình Chú). Vẻ đẹp khác thường này đáng quý lắm, và càng đáng quý hơn khi ta biết nhà thơ đã sáng tác trong hoàn cảnh mù lòa, cuộc sống gặp nhiều khó khăn và bất hạnh. Vì vậy vẻ đẹp của văn chương “thô mà tinh” ấy khiến “con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn mới thấy”. Lâu nay, chúng ta đã quen nhìn loại văn chương trau chuốt, gọt giũa, lời lẽ hoa mĩ với hình tượng hùng vĩ, tráng lệ, phi thường…nên thật khó cảm nhận được tính ý sâu sắc xa, thấy hết vẻ đẹp đích thực của văn thơ Đồ Chiểu. Vì vậy, “phải chăm chú nhìn thì mới thấy”, tức phải dày công, kiên trì nghiên cứu, phải chăm chú nhìn bằng cái nhìn khoa học đúng đắn mới khám phá được vẻ đẹp thơ văn Nguyễn Đình Chiểu. -Ý nghĩa phương pháp trong việc nghiên cứu, đánh giá thơ văn Nguyễn Đình Chiểu: Điều chỉnh cách nhìn để có một định hướng đúng đắn trong việc nghiên cứu, tiếp cận một nhà thơ như Nguyễn Đình Chiểu. Một cuộc sống đẹp, đầy nghị lực, dù gặp nhiều khó khăn và bất hạnh nhưng vẫn đứng thẳng, ngẩng cao đầu mà sống, không phải vì mình mà vì dân vì nước, theo lý tưởng “Kiến nghĩa vất vi vô dõng dã!”, tỏ thái độ bất khuất, bất hợp tác quyết liệt trước sự mua chuộc của thực dân Pháp. Cùng với cuộc sống đẹp đó là một quan niệm sáng tác đúng đắn và tiến bộ: “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm – Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà!” Đó là thơ văn chiến đấu, đánh thẳng vào giặc ngoại xâm và tôi tớ của chúng. Đối với Nguyễn Đình Chiểu, cầm bút, viết văn là một thiên chức. Và ông đã làm đúng thiên chức đó. -Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu phục vụ đắc lực cuộc chiến đấu chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta, làm sống lại trong tâm trí cảu chúng ta phong trào kháng Pháp oanh liệt và bền bỉ của nhân dân Nam Bộ từ 1860 về sau, suốt hai mươi năm trời, với những bài văn tế mà tiêu biểu là Văn tế nghĩa sỹ Cần Giuộc, những bài điếu, tác phẩm Ngư Tiều y thuật vấn đáp…Đó là những tác phẩm sôi sục lòng căm thù và dạt dào lòng yêu nước với những hình tượng cao đẹp của người nông dân – nghĩa sỹ đánh giặc, những lãnh tụ của nghĩa quân, những tấm gương bất khuất trước kẻ thù… Nói đến truyện thơ Lục Vân Tiên – Phạm Văn Đồng xem như là một bài ca hào hùng mà tha thiết về lý tưởng đạo đức của tác giả - cũng là lý tưởng đạo đức của nhân dân, ca ngợi những con người trọng nghĩa, khinh tài, trước sau một lòng, mặc dầu khổ cực, gian nguy, quyết phấn đấu vì nghĩa lớn như Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, Tiểu Đồng, Vương Tử Trực, Hớn Minh…Bằng cách nhìn mới mẻ và đứng đắn, tác giả đã có sự nhìn nhận và đánh giá lại “giá trị văn nghệ của bản trường ca thật là hấp dẫn từ đầu đến cuối” này. Đây là một sự “điều chỉnh” cần thiết để khôi phục lại giá trị nghệ thuật vốn có của tác phẩm. -Cho đến nay, vẫn còn nhiều người chưa hiểu hết giá trị của văn chương Nguyễn Đình Chiểu, trong đó có không ít người, còn nhìn nhận phiến diện về thơ văn ông, thậm chí còn “chê” văn thơ ông là thô ráp, nôm na… Hãy sáng tỏ hơn nữa trong thời đại ngày nay để khôi phục lại giá trị đích thực của nhà thơ yêu nước lớn miền Nam từng có ảnh hưởng to lớn và sâu rộng trong nhân dân ta, không chỉ thời bấy giờ mà ngay cả trong cuộc sống hiện nay. Bài văn nghị luận không chỉ xác đáng, chặt chẽ mà còn xúc động, thiết tha với nhiều hình ảnh, ngôn từ đặc sắc, khiến người đọc còn nhớ mãi. ( “Giúp em tự học Ngữ văn lớp 12” – Nguyễn Xuân Lạc chủ biên)
|
|
|
|
giải đáp
|
Soạn bài: "Nguyễn Đình Chiểu , ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc"
|
|
|
|
Bài tham khảo:Mục tiêu bài học:-Tiếp thu được cách nhìn nhận, đánh giá đúng đắn, sâu sắc mới mẻ của PVĐ về con người và thơ văn NĐC từ đó thấy rõ ràng trong bầu trời văn nghệ của dân tộc Việt Nam, NĐC là một vì sao “càng nhìn càng sáng”. - Thấy sức thuyết phục, lôi cuốn của bài văn: các lí lẽ xác đáng, lập luận chặt chẽ, ngôn từ trong sáng, giàu hình ảnh, giàu nhiệt huyết, kết hợp hài hòa giữa sự trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống với những vấn đề trọng đại đang đặt ra cho thời kì mình - Củng cố kĩ năng viết bài văn nghị luận - Hiểu và trân trọng cụ Nguyễn Đình Chiểu I.Tìm hiểu chung:
1.Tác giả- Phạm Văn Đồng( 1906-2000). - Quê: Đức Tân, Mộ Đức, Quảng Ngãi. - PVĐ là nhà cách mạng lớn của nước ta trong thế kỉ XX ,đặc biệt trong lĩnh vực chính trị,ngoại giao. Ông có nhiều cống hiến to lớn trong việc xây dựng và quản lí nhà nước Việt Nam , đồng thời cũng là nhà giáo dục tâm huyết , nhà lí luận văn hóa văn nghệ lớn - PVĐ để lại những tác phẩm lớn , quan trọng, nhiều định hướng, đường lối quan trọng về phát triển nền văn học nghệ thuật mới . - Tác phẩm tiêu biểu: + “ Tổ quốc ta, nhân dân ta và người nghệ sĩ”. Trong tác phẩm này có bài viết về: Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Chí Minh. + Các bài: Hiểu biết, khám phá và sáng tạo để phục vụ tổ quốc và chủ nghĩa xã hội(1968), Tiếng Việt một công cụ cực kì lợi hại trong công cuộc cách mạng tưtưởng, văn hóa( 1979)… 2.Văn bản
a. Hoàn cảnh và mục đích sáng tác
- Bài viết đăng trên tạp chí văn học số 7-1963, nhân kỉ niệm ngày mất của Nguyễn Đình Chiểu – nhà thơ mù yêu nước sâu sắc , người đã dựng nên bức tượng đài bi tráng về người nghĩa dân vùng lên đánh Pháp cứu nước trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc .( 3/7/1888). - Tác phẩm được đánh giá là : áng văn tiêu biểu trong văn xuôi nghị luận nửa cuối thế kỉ XX ở nước ta , được chọn in trong tuyển tập Tiểu luận –Phê bình “ Văn học Việt Nam sau cách mạng tháng tám” ( NXB văn học , hà Nội 1993 ) - Năm 1963, tình hình chiến tranh ở miền Nam có nhiều biến động lớn : Mỹ leo thang khủng bố phong trào cách mạng , Phong trào Đồng Khởi Bến Tre ( nơi Nguyễn Đình Chiểu trút hơi thở cuối cùng ) diễn ra sôi trào , ác liệt : Quê ta sông dậy tiếng chèo ghe , Ghe đưa trăm xác đi đòi mạng , Rầm rập ngày đêm lên Bến Tre . Người chết đi cùng người sống đây Tử sinh một dạ trả thù này , Võ trang mấy trận vang Bình Đại , Cờ phất bừng tươi đất Mỏ Cày . ( Lá thư Bến Tre – Tố Hữu )
- Trong giới nghiên cứu , một số người còn đánh giá thấp giá trị văn chương Nguyễn Đình Chiểu hoặc hiểu chưa đúng vai trò của văn chương Nguyễn Đình Chiểu với lịch sử văn học nước nhà . Nhiều nhà nghiên cứu quan niệm văn chương cần phải gọt giũa , trau truốt , hoa mĩ . Trong khi tiêu chí ấy lại không thể áp dụng vào trường hợp Nguyễn Đình Chiểu vì ông là nhà thơ mù , điều kiện chỉnh sửa gọt giũa ngôn từ rất hạn chế . - Tác phẩm nhằm mục đích : tưởng nhớ Nguyễn Đình Chiểu , định hướng điều chỉnh cách nhìn nhận về giá trị , vị trí thơ văn Nguyễn Đình Chiểu . khơi dậy tinh thần yêu nước , đấu tranh chống Mĩ cứu nước . b. Luận đề tác phẩm- Nguyễn Đình Chiểu là ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc c.Bố cục: 3 phần Phần mở bài: từ đầu đến “một trăm năm”. => Nêu vấn đề:Cách nhìn mới mẻ , khoa học về Nguyễn Đình Chiểu . Phần thân bài: tiếp đến “ còn vì văn hay của “ Lục Vân Tiên” =>trình bày những quan điểm mới mẻ về văn thơ Nguyễn Đình Chiểu : - Luận điểm 1: Con người và quan niệm văn chương của Nguyễn Đình Chiểu . - Luận điểm 2: Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu. - Luận điểm 3: Truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu. Phần kết bài: phần còn lại. => Nêu cách đánh giá đúng đắn con người và sự nghiệp thơ văn của NĐC.Qua đó thể hiện tình cảm đối với NĐC * Nhận xét về kết cấu : - Thông thường , trong bài văn nghị luận về một tác giả văn học nào đó , người ta thường phân tích các tác phẩm chính của tác giả , sau mới đánh giá về con người , vai trò của nhà văn . Nhưng ở bài viết này , tác giả Phạm Văn Đồng làm ngược lại , trình bày con người –quan điểm sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu trước , sau đó mới trình bày về các tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Đình Chiểu . - Bài viết cũng không trình bày các luận điểm theo trật tự thời gian ( tác phẩm sáng tác trước thì trình bày trước ) . Ở đây , tác phẩm Lục Vân Tiên được sáng tác trước thì lại được PV Đ đưa vào cuối bài viết . => Với trật tự này , Phạm Văn Đồng muốn nhấn mạnh Nguyến Đình Chiểu là con người đặc biệt , để hiểu thơ văn ông trước hết phải hiểu con người ông , văn thơ ông gắn liền với thực tế , vận mệnh dân tộc . II. Đọc-Hiểu văn bản1.Phần mở đầu (Nêu vấn đề) : Cách nhìn khoa học mới mẻ về N Đ C - Cách đặt vấn đề trực tiếp : Khẳng định N Đ C là ngôi sao , một nhà thơ lớn , cần được sáng tỏ hơn nữa ; - Dùng hình ảnh ẩn dụ so sánh : + N Đ C như “ Ngôi sao” – tinh tú , kết tinh tinh hoa vẻ đẹp của trời đất , vũ trụ . + ”Ngôi sao N Đ C có ánh sáng khác thường” => ánh sáng đẹp nhưng chưa quen nhìn nên khó phát hiện ra . + “ Cần phải chăm chú nhìn mới thấy” => cách nói ẩn dụ , nghĩa là cần phải nghiên cứu kĩ lưỡng , nghiêm túc mới khám phá được vẻ đẹp văn thơ Nguyễn Đình Chiểu . - Nêu phản đề , lí do chưa đánh giá đúng giá trị văn thơ N Đ C : + Một là “ chỉ biết Nguyễn Đình Chiểu là tác giả của Lục Vân Tiên và hiểu Lục Vân Tiên khá thiên lệch về nội dung và văn …” . + Hai là “ còn rất ít biết thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu”. * Nhận xét đoạn mở đầu : - Đoạn văn ngắn gọn , nêu vấn đề một cách dễ hiểu , hấp dẫn , thuyết phục , mang tính gợi mở , khái quát được những nội dung sẽ diễn giải ở phần sau ( đánh giá Lục Vân Tiên , đánh giá thơ văn yêu nước Nguyễn Đình Chiểu) . - Đoạn văn đã nêu được Nội dung vấn đề : Nguyễn Đình Chiểu là một nhân cách trong sáng, một nhà thơ yêu nước, tác gia văn học cần được nghiên cứu tìm hiểu và đề cao hơn nữa. - Cách nhìn nhận về Nguyễn Đình Chiểu đúng đắn , sâu sắc , khoa học ,mới mẻ . - Cách nhìn này vừa bộc lộ niềm ngưỡng mộ tài năng , tâm huyết của danh nhân Nguyễn Đình Chiểu , vừa mang tính định hướng cho việc nghiên cứu tiếp cận thơ văn Nguyễn Đình Chiểu . 2. Cách triển khai vấn đề :a. Luận điểm 1: Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ yêu nước . - Luận cứ 1 quê hương, thời cuộc và mất mát riêng và tư tưởng . + Nhà nho sống trong cảnh nước nhà lâm nguy , khắp nơi nhân dân đấu tranh đánh giặc cứu nước + Nhà thơ mù + Dùng văn thơ ghi lại tâm huyết với dân tộc , ghi lại thời kì lịch sử khổ nhục –vĩ đại , làm vũ khí chiến đấu. => Vẻ đẹp tấm gương trong sáng : tinh thần yêu nước căm thù giặc , nghị lực vượt khó để vươn lên phi thường . - Luận cứ 2 : quan điểm thơ văn . + Nhà văn trước hết phải có nhân cách : Cảnh riêng và cảnh đất nước càng đen tối thì khí tiết càng phải cao cả , rạng rỡ : Sự đời thà khuất đôi tròng thịt – Lòng đạo xin tròn một tấm gương” và “ Kiễn nghĩa bất vi vô dõng dã” ( Thấy việc nghĩa mà không làm thì không phải là kẻ anh hùng ) => Nguyễn Đình Chiểu coi trọng nhân cách và trách nhiệm của nhà văn với thời cuộc . + Trong thơ văn phải ngụ khen chê rõ ràng : Học theo ngòi bút chí công – Trong thơ cho ngụ tấm lòng Xuân Thu” + Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu là thơ văn chiến đấu, đánh thẳng vào giặc ngoại xâm và tôi tớ của chúng : Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm – Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” và “ Thấy nay cũng nhóm văn chương – Voc dê da cọp khôn lường thực hư !” => Quan điểm rất tích cực , tiến bộ ,sâu sắc , gắn nhà văn và văn chương với hiện thực cuộc sống , với vận mệnh dân tộc , coi trọng chức năng giáo huấn , phê phán , cảnh tỉnh của văn chương . b.Luận điểm 2 : Nội dung thơ văn yêu nước Nguyễn Đình Chiểu . - Luận cứ 1 : Phạm Văn Đồng khẳng định thơ văn Nguyễn Đình Chiểu tái dựng sống động không khí kháng Pháp oanh liệt , bền bỉ của nhân dân Nam Bộ : + Quân triều đình đánh Pháp thua , đầu hàng, cắt đất cho giặc . + Các tầng lớp nhân dân ( nông dân , sĩ phu) vùng dậy đánh giặc . + Sự lan rộng của cuộc chiến tranh nhân dân . - Luận cứ 2: Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu ca ngợi những người anh hùng cứu nước ; khóc than tiếc thương những liệt sĩ tận trung, trọn nghĩa với dân với nước : Trương Định , Thủ khoa Huân , Nguyễn Trung Trực , ... - Luận cứ 3 : Đánh giá tác phẩm “ Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” + “ Khúc ca của những người anh hùng thất thế nhưng vẫn hiên ngang” . “Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc” . “Muôn kiếp nguyện được trả thù kia” + Liên tưởng , so sánh với áng văn chính luận bất hủ : Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi . - Luận cứ 4 : “Xúc cảnh” : đoá hoa, hòn ngọc, … => Nhận xét : - Cách đánh giá thơ văn yêu nước Nguyễn Đình Chiểu sâu sắc, khoa học , chặt chẽ và toàn diện . - Dẫn chứng tiêu biểu , xúc động , giọng văn khi hào hùng sôi sục , khi nghẹn ngào thương cảm . - Phạm Văn Đồng qua đó : Bộc lộ thái độ ngợi ca ngòi bút của Nguyễn Đình Chiểu và tâm huyết với truyền thống yêu nước , bất khuất cảu nhân dân ta c. Luận điểm 3 : Đánh giá tác phẩm lớn nhất của Nguyễn Đình Chiểu : Lục Vân Tiên . - Luận cứ 1 : giá trị nội dung của tác phẩm Lục Vân Tiên : + ca ngợi chính nghĩa , những đạo đức đáng quí ở đời , ca ngợi những con người trung nghĩa . + hình tượng nhân vật không khô cứng theo khuôn mẫu của văn học Nho gia mà gần gũi , giản dị , sống động. - Luận cứ 2 : giá trị nghệ thuật. +Lối văn nôm na giản dị , là văn nói , văn kể . + Nhiều người thuộc , nhớ, truyền miệng nhau tác phẩm , nhân dân miền Nam say sưa tác phẩm . => Nhận xét : - Phạm Văn Đồng đã chỉ rõ rằng : Người ta say sưa nghe Lục Vân Tiên không chỉ về nội dung mà vì văn hay của Lục Vân Tiên , hay chính ở sự giản dị , mộc mạc , chân chất , dễ hiểu , dễ thuộc , gần gũi với lời ăn tiếng nói của nhân dân.. Đây là nhận định có cơ sở khoa học xác đáng . - Đó cũng chính là định hướng phê bình văn học: Khi đánh giá giá trị một tác giả , tác phẩm văn chương , không nên chỉ căn cứ vào tính hoa mĩ trau truốt của ngôn từ mà còn phải căn cứ vào ảnh hưởng của nội dung tác phẩm đến tâm thức người đọc , sức sống của tác phẩm trong người đọc . 3. Kết thúc vấn đề :- Khẳng định lại vị trí , vai trò của Nguyễn Đình Chiểu trong lịch sử văn học : + Một chí sĩ yêu nước , một nhà thơ lớn của nước ta . + Thơ văn ông nêu cao sứ mạng của văn học , người nghệ sĩ –chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng . - Bộc lộ lòng tưởng nhớ , tự hào về Nguyễn Đình Chiểu . III.Tổng kết- Bài văn là một tiểu luận văn chương đặc sắc , có sức lôi cuốn mạnh mẽ do cách nghị luận xác đáng , chặt chẽ , xúc động thiết tha , nhiều hình ảnh ngôn từ đặc sắc , đặt sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu trong mối liên hệ với cuộc kháng chiến chống Mĩ. - Đây là bài viết có nội dung mới mẻ, sâu sắc , xúc động , ngợi ca Nguyễn Đình Chiểu –người trọn đời dùng ngòi bút làm vũ khí chiến đấu cho dân , cho nước , một ngôi sao sáng trong nền văn nghệ dân tộc Việt Nam - Tác phẩm còn bộc lộ thái độ trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống và mối liên quan sâu sắc giữa truyền thống với những vấn đề trọng đại của dân tộc . Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Nêu quan điểm của em về thơ văn Nguyễn Đình Chiểu.
|
|
|
|
Dán ý tham khảo:+ Phân tích đề: - Nội dung: các ý chính của bài văn nghị luận: Chứng minh một nhận định về thơ văn Nguyễn Đình Chiểu. - Hình thức: nêu và làm rõ. + Hướng dẫn: Cần nêu và làm rõ 2 ý chính - Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu là một ngôi sao “có ánh sáng khác thường”, phải chăm chú nhìn mới thấy” • Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu có đôi chỗ thô mộc, “sơ sót về văn chương”. • Về nội dung tư tưởng cũng như về hình thức nghệ thuật còn nhiều điểm xa lạ, khó hiểu với bạn đọc ngày nay “Tất nhiên những giá trị luân lí mà Nguyễn Đình Chiểu ca ngợi, ở thời đại chúng ta, theo quan điểm của chúng ta thì có phần đã lỗi thời”. Những lí do khiến “ngôi sao” thơ văn Nguyễn Đình Chiểu trên bầu trời văn nghệ dân tộc không phải ai cũng thấy, cũng cảm được “ánh sáng” của nó. Tuy nhiên thơ văn Nguyễn Đình Chiểu không hoàn toàn xa lạ với giới trẻ. - Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu là vì sao “càng nhìn càng thấy sáng” • Tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu đã phản ánh chân xác diện mạo cuộc sống và con người trong một giai đoạn lịch sử đau thương của dân tộc: “ Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu làm sống lại trong tâm trí của chúng ta phong trào kháng Pháp oanh liệt và bền bỉ của nhân dân Nam Bộ từ 1860 về sau, suốt haui mươi năm trời.”, “những tác phẩm đó ( …) quí giá ở chỗ nó(…) ghi lại lịch sử của một thời khổ nhục nhưng vĩ đại!” • Giúp bạn đọc nhận ra những chân lí của đời sống, yêu mến lễ phải và đấu tranh vì một lí tưởng cao quí cho con người và cho đất nước: “Không phải ngẫu nhiên mà thơ văn yêu nước của Nguyễn Dình Chiểu, một phần lớn là các bài văn tế, ca ngợi những người anh hùng suốt đời tận trung với nước, và than khóc những người nghĩa sĩ đã trọn nghĩa với dân”; “Nguyễn Đinh Chiểu cũng như nhiều bậc hiền triết ngày xưa ở Phương Đông hoặc phương Tây, vẫn để lại cho đời sau những điều giáo huấn đáng trọng”; “các nhân vật của Lục Vân Tiên(…) là những người đáng kính, đáng yêu, trọng nghĩa, khinh tài, trước sau một lòng mặc dầu khổ cac, gian nguy, quyết phấn đấu vì nghĩa lớn. • Giá trị nghệ thuật cao. Lưu ý: Ở mỗi một luận cứ, hs lấy dẫn chứng khái quát và phân tích một dẫn chứng cụ thể để làm sáng tỏ. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Đề phân tích bài "Nguyễn Đình Chiểu - ngôi sao sáng của nền văn nghệ dân tộc"
|
|
|
|
Bài tham khảo:Đề: Phân tích cách tổ chức luận điểm của văn bản “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong bầu trời văn nghệ của dân tộc”.+ Phân tích đề: - Nội dung: Cách tổ chức luận điểm của văn bản. - Hình thức: Phân tích cụ thể. + Hướng dẫn: - Vai trò của cách tổ chức luận điểm trong một bài nghị luận văn học. • Luận điểm là gì? Các ý lớn trong một văn bản. • Hệ thống luận điểm: Tập hợp các ý lớn trong bài văn, được triển khai theo một trình tự logic, có mối quan hệ gắn bó qua lại chặt chẽ. • Cách tổ chức hệ thống luận điểm là một trong những yếu tố đặc biệt quan trọng quyết định sự thành bại của văn bản nghị luận. - Giới thiệu tác phẩm > khẳng định: đây là một văn bản nghị luận văn học thành công. Yếu tố đầu tiên tạo nên thành công âý là cách tổ chức hệ thống luận điểm chặt chẽ. - Phân tích: Phân tích theo 3 ý trong phần kiến thức cơ bản: + Hệ thống luận điểm + Sự thống nhất giữa các luận điểm. + Kết cấu độc đáo. Nhận xét: - Cách tổ chức luận điểm linh loạt mà chặt chẽ, tùy thuộc vào mục đích nghị luận. - Thành công trong việc tổ chức luận điểm tạo nên tính logic, mạch lạc và thành công cho văn bản “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong bầu trời văn nghệ của dân tộc”. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Đọc - hiểu "Nguyễn Đình Chiểu - ngôi sao sáng của nên văn nghệ dân tộc"
|
|
|
|
Bài tham khảo:1. Khái quát về tác giả và văn bản
a. Tác giả+ Phạm Văn Đồng không chuyên về lí luận phê bình mà suốt đời theo đuổi sự nghiệp cách mạng, lĩnh vực chính trị, ngoại giao. + Tuy nhiên, vẫn có những tác phẩm đáng chú ý về văn học và nghệ thuật bởi: - Quan niệm viết cũng là một cách phục vụ cách mạng. - Quan tâm, am hiểu và yêu thích văn học nghệ thuật. - Vốn sống lịch lãm, tầm nhìn sâu sắc, nhân cách lớn > đủ để đưa ra những nhận đinh đúng đắn, mới mẻ, sắc sảo về những vấn đề văn nghệ. Điều kiện để có một bài văn nghị luận văn học tốt: có hiểu biết sâu rộng về văn học và các lĩnh vực khác; có quan niệm đúng đắn về thế giới cũng như đời sống con người. b. Văn bản Viết nhân kỉ niệm 75 năm ngày mất của Nguyễn Đình Chiểu (1953) 2. Phân tícha. Cách tổ chức luận điểm + Hệ thống luận điểm: 3 luận điểm tương ứng với 3 câu chủ đề.- Ý 1 (từ đầu – Vóc dê da cọp khôn lường thực hư): Con người và quan niệm văn chương của Nguyễn Đình Chiểu. “ Cuộc đời và thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu là của một chiến sĩ hi sinh phấn đấu vì một nghĩa lớn” - Ý 2 (tiếp – Núi sông còn gánh hai vai nặng nề): Thơ văn yêu nước Nguyễn Đình Chiểu. “ Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu làm sống lại trong tâm trí của chúng ta phong trào kháng Pháp oanh liệt và bền bỉ của nhân dân Nam Bộ từ 1860 về sau, suốt haui mươi năm trời.” - Ý 3 (còn lại): Truyện thơ Lục Vân Tiên. “ (…) Lục Vân Tiên, một tác phẩm lớn nhất của Nguyễn Đình Chiểu, rất phổ biến trong dân gian, nhất là ở miền Nam”. + Sự thống nhất giữa các luận điểm: 3 luận điểm quy tụ làm sáng tỏ một nhận định trung tâm: “ Trên trời có những vì sao có ánh sáng khác thường, nhưng con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy, và càng nhìn thì càng thấy sáng. Văn thơ Nguyễn Đình Chiểu cũng vậy”. + Kết cấu độc đáo: không theo trật tự thời gian sáng tác (Truyện Lục Vân Tiên được sáng tác trước nhưng được phân tích sau, phần viết về Truyện Lục Vân Tiên – “ tác phẩm lớn” lại viết không kĩ bằng phần viết về văn thơ yêu nước…) Mục đích nghị luận quyết định hệ thống luận điểm, cách sắp xếp và mức độ nặng nhẹ của từng luận điểm. b. Tìm hiểu các luận điểm về con người và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu+ Con người và quan niệm thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu: - Con người: không viết lại tiểu sử mà nhấn mạnh vào đặc điểm nổi bật: “khí tiết của một người chí sĩ yêu nước”, trọn đời hi sinh phấn đấu vì nghĩa lớn. - Quan niệm văn chương: thống nhất với con người Nguyễn Đình Chiểu > văn thơ phải là vũ khí chiến đấu sắc bén. + Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu - Nêu bối cảnh lịch sử thời Nguyễn Đình Chiểu cầm bút: “ khổ nhục nhưng vĩ đại” > thơ văn Nguyễn Đình Chiểu “làm sống lại phong trào kháng Pháp bền bỉ và oanh liệt của nhân dân Nam Bộ từ 1860 trở về sau” > nhà văn lớn, tác phẩm lớn khi phản ánh trung thành những đặc điểm bản chất của một giai đoạn lịch sử trọng đại. - Nêu nội dung chính thơ văn Nguyễn Đình Chiểu: • Sáng tác là lời ngợi ca những nghĩa sĩ nông dân dũng cảm, đồng thời là lời than khóc cho những anh hùng thất thế bỏ mình vì dân vì nước. • Mang tính chiến đấu sâu sắc: xây dựng hình tượng “sinh động và não nùng” về những con người “ suốt đời tận trung với nước, trọn nghĩa với dân, giữ trọn khí phách hiên ngang cho dù chiến bại”. - Phân tích một tác phẩm tiêu biểu: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc > thấy tính chiến đấu và sự sáng tạo trong việc xây dựng hình tượng anh hùng hoàn toàn mới trong văn học: nghĩa sĩ nông dân. - Nhấn mạnh vào yếu tố chi phối toàn bộ thơ văn Nguyễn Đình Chiểu: tâm hồn lớn - “Ngòi bút, nghĩa là tâm hồn trung nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu” >Nhận xét: + Phạm Văn Đồng nhìn nhận Nguyễn Đình Chiểu không phải với con mắt hoài cổ, tiếc thương những giá trị cũ mà luôn nhìn từ trung tâm của cuộc sống hôm nay- cuộc chiến đấu hào hùng của dân tộc để thấu hiểu những giá trị của thơ văn ông. + Viết về Nguyễn Đình Chiểu với sự sắc sảo của hiểu biết, lí lẽ, dẫn chứng và cả tình cảm xúc động mạnh mẽ > giọng văn nghị luận không khô khan mà thấm được cảm xúc. Một trong những yếu tố làm nên thành công của văn bản nghị luận văn học: sự am hiểu và sự xúc động mãnh liệt chân thực về đối tượng. + Lục Vân Tiên: - Nêu nguyên nhân tác phẩm được xem là “tác phẩm lớn nhất” của Nguyễn Đình Chiểu và được phổ biến rộng rãi trong dân gian: “trường ca ca ngợi chính nghĩa, những đạo đức đáng quí trọng ở đời, ca ngợi những người trung nghĩa”. - Bàn luận về những điều mà nhiều người cho là hạn chế trong tác phẩm: • Thừa nhận sự thật: “Những giá trị luân lí mà Nguyễn Đình Chiểu ca ngợi, ở thời đại của chúng ta, theo quan điểm của chúng ta thì có phần đã lỗi thời”, “văn chương của Lục Vân Tiên” có những chỗ “lời văn không hay lắm” > trung thực, công tâm khi phân tích. • Khẳng đinh: đó là những hạn chế không thể tránh khỏi và không phải là chính yếu bằng các lí lẽ và dẫn chứng cụ thể, xác thực: hình tượng con người gần gũi với con người mọi thời, vấn đề xã hội phổ quát xưa nay > “gần gũi với chúng ta”, làm cho chúng ta “cảm xúc và thích thú”; lối kể chuyện “nôm na”, dễ nhớ, dễ truyền bá trong dân gian > người miền Nam “say sưa” nghe kể Truyện Lục Vân Tiên. > Thủ pháp đòn bẩy: nêu hạn chế khẳng đinh giá trị trường tồn của Truyện Lục Văn Tiên. Đánh giá Truyện Lục Vân Tiên trong mối quan hệ với nhân dân> cách tiếp cận tối ưu với tác phẩm này. Muốn viết một bài văn nghị luận văn học sắc sảo cần có cách tiếp cận đối tượng đúng đắn. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Phân tích giúp em ông Hai trong tác phẩm Làng?
|
|
|
|
Tham khảo: Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện ngắn về nông thôn và cuộc sống của
những người nông dân. truyện ngắn 'làng' được ông viết năm 1984- thời
kì đầu cho cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong truyện ngắn này, ông đã
xây dựng thành công nhân vật ông Hai- một con người giàu lòng yêu làng,
yêu nước tha thiết, chính vì vậy khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc ông
cảm thấy rất đau khổ, nhục nhã.
Ngôi làng đối với mỗi người nông dân rất quan trọng. Nó là ngôi nhà
chung cho cộng đồng, họ mạc. đời này qua đời khác, người nông dân gắn bó
với cái làng như máu thịt, ruột rà. Nó là nhà cửa, đất đai, là tổ tiên,
là hiện thân cho đất nước đối với họ. Vốn là một người có tình yêu
làng, yêu nước sâu sắc, ông Hai không muốn đi tản cư bởi ông nghĩ:' mình
sinh ra ở đây từ bé, giờ gặp lúc hữu sự mà bỏ đi thì còn ra gì nữa'
Nhưng khi nghe các chến sỹ cán bộ giảng giải, ông hiểu rằng ' đi kháng
chiến cũng là kháng chiến ' nên ông mới đồng ý.
Những ngày đầu ở nơi tản cư, do mới lên lạ đất , lạ người lại không có
việc gì để làm nên ông hớ làng da diết, cháy bỏng, ông nhớ những ngày
làm việc cùng với anh em, ông cảm thấy như mình được trẻ ra. Hơn thế
nữa, gia đình ông lại ở nhờ nhà của một mụ xấu tính nên ông phải sống
trong tâm trạng ngột ngat, khó chịu. Lúc này, niềm vui của ông chỉ là
hàng ngày đi nghe tin tức thời sự kháng chiến và khoe cái làng chợ Dầu
của ông đánh Tây. Hôm nay, ở phòng thông tin ông nghe được rất nhiều tin
chiến thắng từ trẻ con đến người phụ nữ ; điều này 'làm rột gan ông cứ
múa cả lên, vui quá'. Đang tràn ngập trong niềm vui và sự sung sướng,
ông Hai có cảm giác cảnh vật bên đường như đẹp hơn rất nhiều.
Cũng trên đoạn đường trở về, trong tâm trạng vui vẻ ấy , nhà văn Kim
Lân đã khéo léo đan cài vào đó 1 kịch tính thứ 2- một biến cố bất ngờ
xảy ra. Ông gặp những người đàn bà tản cư từ Gia Lâm lên, khi gặp họ,
ông tưởng mình sẽ nghe được nhiều tin vui hơn nữa nhưng thật bất ngờ,
ông Hai nhận được tin cả làng chợ Dầu làm việc gian theo Tây. Cái tin ấy
là một tin chết người, nó chẳng những làm mất hết niềm tin, sụp đổ niềm
tự hào về làng của ông mà còn khiến ông tủi khổ, nhục nhã vì đã khoe
bao điều hay về nó. Vừa nghe như vậy, ông Hai thấy cổ họng mình nghẹn
ắng lại, da mắt tê rần rật., ông lặng đi tưởng chừng như không thở được;
ông đang ở trong một trạng thái bất ngờ, đột ngột và vô vùng xấu hổ.
Ông vờ lảng sang chuyện khác để trốn những người đàn bà kia nhưng lời
nói của họ như những nhát dao chém vào người ông đau đớn. trên đg trở về
ông chỉ dám cúi gằm mặt xuống đát khhoong dám ngẩng mặt nhìn ai. Vừa về
đến nhà, ông nằm vật ra giường, nước mắt trào ra, ông tức giận chửi bon
Việt gian làng Dầu bán nước nhưng ông lại thấy những lời chửi của mình
thật vô lí. Ông kiểm đếm từng người trong óc nhưng không tìm được ai có
thể phản bội, họ toàn là những người coa tinh thần cả mà. Nhưng thằng
chánh Bêu thì đích thị là người làng ông rồi khiến ông có tâm trạng bối
rối, phân vân, nửa tin nửa ngờ. Chỉ bằng một đoạn văn ngắn, tác giả đã
cụ thể hoá sững sờ, ngạc nhiên cao độ đến bốc lửa, nghẹn ngào đau đớn,
tức giận khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc. Qua đây, một lần nữa, nhà
văn Kim Lân đã chứng tỏ bút lực dồi dào, khả năng phân tích sắc sảo, tái
hiện sinh động trạng thái tình cảm, hành động của ông hai trong biến cố
này.
Cả nhà ông Hai những ngày sau đó, sống trong bầu không khí ảm đảm,
nặng nề, đầy lo lắng. Họ nghĩ đến sự ghẻ lạnh, tẩy chay của mọi người và
đạc biệt lo lắng khi không biết sẽ phải làm thé nào. Ông Hai ăn ko
ngon, ngủ ko yên, lúc nào cũng mơm mớp, bất ổn trong nỗi tủi nhục ê chề.
Thậm chí ông không dám nhắc tới, phải gọi tên cái chuyện phải bội là '
chuyện ấy', Ông tuyệt giao với tất cả mọi người , trốn biệt ở nhà, ko
dám bước chân ra ngoài vì xấu hổ. Và cái chuyện vợ chồng ông lo nhất
cũng đã đến. Bà chủ nhà bóng gió đuổi gđ ông đi, chỉ vì họ là người làng
theo Tây.. Gia đình ông Hai ở vào tình thế căng thẳng, khó khăn nhất:'
thật là tuyệt đường sinh sống', đâu đâu có người chợ Dầu người ta cũng
đuổi như đuổi hủi. Trong tình cảnh ấy ông Hai đã nghĩ hay là quay về
làng nhưng rồi ông đã dứt khoát' về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ cụ
Hồ, chịu đầu hàng Tây là cam chịu kiếp sống nô lệ, cô độc' nên ông đã
quyết định' làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù'.. Đến
đây, tình yêu làng của ông Hai đã hoà quyện vào tình yêu nước. Tình cảm
cách mạng khi bị đặt vào tình huống thử thách gay cấn buộc phải lựa chon
giữa làng và nước, ông Hai đã chấp nhận hi sinh tình cảm làng vì có 1
tình cảm thiêng lêng, lớn hơn- đó là tình cảm dành cho kháng chiến, cho
cụ Hồ. Trong tâm trạng bế tắc và tuyệt vọng ông Hai chỉ còn biết chút
nỗi lòng của mình qua lời nói thủ thỉ, tâm sự với đứa con út của mình.
Thực chất, những lời tâm sự với con chính là lời dãi bày của ông .
Mặc dù đã vơi đi nỗi nặng nề trong lòng phần nào nhưng ông vẫn chưa
vơi đi phần nào lỗi tuyệt vọng, bế tắc trong lòng ông , vì thế nhất
quyết phải có một sự cởi nút ở mức độ cao hơn. Nhà văn Kim Lân đã cho xh
một nhân vật mới: ông chủ tịch xã đã lên tận khu tản cư cải chính lại
tin đồn đó, sự cải chính tin đồn đó thật quan trọng, đúng lúc, nó xoá đi
sự tuyệt vọng trong lòng người dân chợ Dầu. Nó đã đem lại niềm vui
sướng cho ông Hai vì vậy nhà mình bị Tây đốt sạch nhưng ông vẫn mang tin
này đi khoe khắp nơi với thái đọ sung sướng, hớn hở ko một chút nuối
tiếc. Ông cố gắng khoe để thật nhiều người biết như một bằng chứng khẳng
định làng chợ Dầu của ông trung thành với kháng chiến. Hành động của
ông Hai thật vô lí nhưng đặt trong mạch tâm lí, nó có giá trị đề cao
tinh thần hi sinh của ông vì cách mạng, vì kháng chiến Qua đó, ông tự
nhủ lòng mình yêu làng, yêu nước hơn và trung thành với cách mạng.
Xây dựng thành công diễn biến tâm trạng nhân vật ông Hai là thành cồn
lón nhất của truyện ngắn 'làng'. Điều đó đã thể hiện dk tài năng của nhà
văn Kim Lân trong việc khám phá chiều sâu tâm lí nhân vật. Và hơn hết,
điều đó đã xây dựng trong lòng độc giả một chân dung sống động, cảm động
của người nông đan Việt Nam chất phác, thật thà.
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Ý nghĩa nhan đề : Tiểu đội xe không kính. Giúp tớ với nhé cả nhà.
|
|
|
|
Tham khảo em nhé
-
Nhan đề Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật là một nhan đề
khác lạ, hay nói cách khác là một nhan đề độc đáo. Khác vì nó không giống với
cách đặt nhan đề thông thường của các nhà thơ, lạ vì người ta hiếm gặp, độc đáo
vì nó mang chất riêng của Phạm Tiến Duật, không phỏng theo, bắt chước, không
giông bất kì ai.
+
Theo nhà thơ, tiểu đội xe rất có ý nghĩa trong lịch sử chiến tranh chống Mĩ. Bởi
vì từ năm 1965 đến 1968, đội hình xe phổ biến chỉ là tiểu đội, không thể biên
chế nhiều thêm do hệ thống đường xá, hệ thống bảo vệ… nên lấy “tiểu đội xe” tạo
được dấu ấn một thời của lịch sử dân tộc.
+
Theo truyền thống thơ ca Việt Nam, người ta thường tả cảnh, tả người, chưa thấy
ai tả ô tô nhưng Phạm Tiến Duật đã tả cái ô tô mà lại là ô tô không kính. Điều
đó không chỉ tạo nên sự độc đáo khác lạ mà còn ngầm nói lên một điều với người
đọc: nét đặc thù của tiểu đội xe, tính chất khốc liệt, dữ dội của những chiến
tranh phá hoại, tinh thần quả cảm, ý chí bất khuất cua người lính trên tuyến đường
Trường Sơn – huyền thoại.
+
Vì tả ô tô mà lại là ô tô không kính nên chẳng có gì nên thơ cả, vì thế nhà thơ
phải thêm vào phần đầu ba chữ: “Bài thơ về…”, để báo trước cho người đọc đây là
một bài thơ chứ không phải một khúc văn xuôi. Bên cạnh đó cũng có thể hiểu chữ
“Bài thơ…” ở đầu câu muốn ngầm nói rằng vấn đề mà nhà thơ muốn nhấn mạnh ở đây
là chất thơ toát lên từ hiện thực khốc liệt chứ không nhằm trọng tâm làm nổi bật
cái khốc liệt.
|
|
|
|
giải đáp
|
So sánh hai nhân vật Hoàng và Độ
|
|
|
|
Hoàng và Độ là hai nhà văn, Hoàng là nhà văn anh, còn Độ thuộc lớp đàn em. Cả hai có cách sống, cách suy nghĩ và cách nhìn đời, nhìn người đối lập hẳn nhau, đặc biệt là khi nhìn người nông dân. Hoàng sống phong lưu, xa hoa, tách rời với quần chúng nhân dân nên anh có cách nhìn lệch lạc, sai trái, phiến diện một chiều về người nông dân. Anh không thể nhìn ra được nét đẹp bên trong tâm hồn họ, mà chỉ thấy cái ngố bề ngoài.
Trong mắt Hoàng những người nông dân nghèo khổ ấy đầy những tính xấu: "Toàn là những người ngu đần, lỗ mãng, ích kỉ, tham lam, bần tiện cả". Dường như với Hoàng mọi sự xấu xa của con người đã tập trung về cả người nông dân. Anh nhìn thấy họ là một lũ lố lăng: "Cái ông thanh niên, các bà phụ nữ lại còn nhố nhăng", anh phiền vì sự "nhăng xị" của họ: "Viết chữ quốc ngữ sai vần mà lại cứ hay nói chuyện chính trị rối rít cả lên. Không chỉ nhố nhăng họ còn lại hay nói chữ mở miệng ra "đề nghị, yêu cầu, phê bình, cảnh cáo". Hoàng cho đó là chuyện thật nực cười. Anh không thấy được sự cố gắng của người nông dân kém hiểu biết nhưng lại rất đỗi yêu nước. Thấy người nông dân đọc thuộc lòng bài "ba giai đoạn", anh cho đó là con vẹt biết nói, dây dưa, lôi thôi, mồm nói vội lắm vậy mà đọc cho anh nghe "cả một bài dài đến năm trang giấy".
Anh lại càng phiến diện hơn khi nhìn người nói dân toàn là những người tò mò, tọc mạch: "Anh chỉ giết một con gà, ngày mai cả làng này đã biết". Hoàng khăng khăng với Độ: "Ngày mai, chuyện anh đến chơi tôi thế nào cũng đã chạy khắp làng. Họ sẽ kể rất rạch ròi tên anh, tuổi anh, anh gầy béo thế nào, có bao nhiêu nốt ruồi ở mặt, có mấy lỗ rách ở ống quần bên trái". Có thể đó là sự thật, bởi Hoàng đã thề không hề bịa chuyện, và người đọc cũng biết người nông dân có tính xấu đó. Nhưng Hoàng đã nói quá, đã thổi phồng lên khiến người nông dân trở nên đầy xấu xa. Anh không hề có cái nhìn thông cảm. Bởi thế, Hoàng mới cho người nông dân mới thật độc ác, tàn nhẫn = chị dâu đẻ mà em bắt ra cái lều ngoài vườn. Hoàng không hề hay giả vờ không biết những tập tục kiêng kị của người nông dân?
Tất cả những tính xấu của người nông dân hiện lên trong mắt Hoàng, lại càng trở nên xấu xa. Hoàng không nhận ra đó là hoàn cảnh nghèo đói đã biến hóa người nông dân, mà anh qui tất cả về bản chất. Anh bêu rếu, nói xấu, mỉa mai chua chát nhưng người nông dân lương thiện đã cưu mang anh. Lối sống vị kỉ, xa rời quần chúng đã đem đến cho Hoàng cách nhìn lệch lạc, một chiều, một phía. Anh thấy người nông dân "quả là không chịu được, không chịu được". Anh khinh bỉ họ đến cùng cực: "Nỗi khinh bỉ của anh phì cả ra ngoài, theo cái bĩu môi dài thườn thượt. Mũi anh nhăn lại như ngửi thấy mùi xác thối".
Là nhà văn đáng lẽ Hoàng phải có tấm lòng nhân ái, cảm thông, nhưng đằng này anh lại hiện lên như một kẻ tàn nhẫn, ích kỉ. Bởi không chỉ là nhà văn, Hoàng là một "tay chợ đen tài tình" sống phong lưu giữa cảnh nghèo đói của dân tộc, giữa lúc những người nông dân nghèo vật chất nhưng giàu tinh thần cũng lăn xả thân mình đóng góp cho đất nước. Hoàng không nhìn thấy cái nguyên có thật đẹp đẽ bên trong, mà chỉ thấy cái ngố bên ngoài và đánh giá họ qua một cái nhìn phiến diện không nên có ở một nhà văn. Chính vì không hề có cái tâm, lòng nhân ái mà Hoàng đã chỉ thấy những gì xấu xa của người nông dân. Hoàng tiêu biểu cho lớp nhà văn ích kỉ, sai lệch về cách nhìn, về thái độ đối với người nông dân và cuộc kháng chiến lúc bấy giờ.
Trái hẳn với Hoàng, Độ lại có cái nhìn đầy cảm thông đối với người nông dân. Anh nhận thấy lịch sử đã sang trang, thấy được sức mạnh quần chúng, thấy được cốt lõi bên trong của người nông dân.
Trước đây, Độ cũng có cái nhìn lệch lạc, phiến diện như Hoàng. Anh đã từng bi quan, chán nản. Nhưng khi cách mạng mở ra, Độ đã "ngã ngữa người ra" vì thấy được sức mạnh thật sự của quần chúng, vẻ đẹp tâm hồn người nông dân.
Độ nhận ra họ là những con người rất giàu lòng yêu nước, sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc: "Vô số anh răng đen mắt toét, gọi lựu đạn là nựu đạn, hát "Tiến quân ca" như người buồn ngủ cầu kinh mà lúc ra trận thì xung phong can đảm lắm". Anh đã "đi khắp làng này đến làng kia" để tìm hiểu ngõ ngách sâu kín trong tâm hồn người nông dân, anh khao khát thấu được nét đẹp của họ, vì với anh thì những người nông dân "vẫn còn là một bí mật". "bí ẩn", bởi Độ đã thấy được sức mạnh tiềm ẩn của họ, chứ không như Hoàng, chỉ thấy phơi bày trước mắt bao nhiêu là tính xấu.
Độ biết người nông dân yêu nước lắm, vì thế, cùng một sự việc anh thanh niên đọc thuộc lòng bài "ba gia đoạn". Độ không cho anh ta là con vẹt biết nói, mà Độ thấy được bó tre anh thanh niên vác đi để ngăn quân thù. Tấm lòng nhân hậu, đầy cảm thông của Độ đã nhìn thấu một trái tim yêu nước bên trong "cái ngố bề ngoài".
Phải hòa nhập vào nông dân, phải trải qua những khó khăn, gian khổ mà người nông dân chịu đựng, Độ mới cảm nhận và hiểu sâu sắc suy nghĩ, tâm hồn của họ đến thế. Dù chỉ là một "anh tuyên truyền viên nhãi nhép" nhưng có thể nói Độ đã đóng góp được rất nhiều cho đất nước. Anh đã có cái nhìn đúng đắn, chân thật mà cũng đầy cảm thông, cái nhìn của một tấm lòng nhân ái, chứ không phải của tâm hồn hẹp hòi, ích kỉ như Độ.
Nếu như Hoàng chỉ nhìn thấy vẻ bề ngoài rồi từ đó thổi phồng, qui thành bản chất thì Độ cũng thấy sự thật rành rành, nhưng không dừng lại ở đó, Độ nhìn thấu vào tận sâu thẳm bên trong tâm hồn người nông dân. Nếu như cái nhìn của Hoàng là phiến diện, lệch lạc một chiều, một phía thì Độ có cái nhìn tiến bộ, đúng đắn, đầy cảm thông.
Qua hai cái nhìn trái ngược, đối lập của hai nhân vật Hoàng và Độ. Nam Cao đã bộc lộ quan điểm đầy tiến bộ về cái nhìn đời, nhìn người của văn nghệ sĩ kháng chiến. Nhà văn phải "sống đã rồi hãy viết", phải nhìn ra thấu hiểu trái tim con người, mà muốn làm được điều đó thì nhà văn cần có một trái tim nhân hậu, có cái tâm.
Nhan đề "Đôi mắt" giản dị nhưng rất gợi mở, rất đặc sắc đã thâu tóm được giá trị tư tưởng của cả bài. Tác phẩm không chỉ dừng lại ở cách nhìn về người nông dân của Hoàng và Độ, mà còn mở rộng ra là cách nhìn đời và người cho mọi người. Với tác phẩm này, đặc biệt qua hai cách nhìn tương phản, đối lập. Nam Cao đã gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh những nhà văn ích kỉ, chỉ quan tâm đến bản thân mình. Đồng thời ông cũng lên án những ai có cái nhìn phiến diện một chiều lệch lạc, biểu dương cái nhìn đúng đắn, toàn diện. Ông quan niệm nhà văn trước hết phải có tấm lòng để xác định đúng chổ, đúng lập trường. Từ đó có cách nhìn đúng mà viết nên tác phẩm hay, có ích cho đất nước, nhân dân. Nếu không, dù có tài giỏi đến mấy cũng chỉ là kẻ vô dụng, làm trò cười cho mọi người và tác phẩm dù có hay đến mấy cũng sẽ không được đón nhận.
|
|
|
|
giải đáp
|
Nghệ thuật miêu tả tâm lí trong "Đời thừa"
|
|
|
|
Bài tham khảo:
1. Nam Cao đã diễn tả, phân tích rất sâu sắc những giằng xé trong tâm hồn Hộ
Trước hết là những day dứt của Hộ về nghề nghiệp. Anh có khát vọng cao đẹp, muốn nâng cao giá trị đời sống của mình bằng lao động sáng tạo nghệ thuật, cống hiến cho đời những tác phẩm giá trị. Nhưng thực tại đen tối, hoàn cảnh gia đình túng quẫn, buộc anh phải viết thứ văn chương “vô vị, nhạt nhẽo”. Anh đau khổ vì thấy mình đã trở thành một kẻ “vô ích, một người thừa”.
Nam cao còn miêu tả rất tinh tế những dằn vặt của Hộ về nhân cách.Hộ vốn là người nhân hậu, vị tha.Trong bất cứ hoàn cảnh nào Hộ cũng không từ bỏ tình thương để làm một kẻ tàn nhẫn.Nhưng do bức xúc về công việc viết lách, anh trút hết buồn bực lên đầu vợ con, gây đau khổ cho người mình yêu thương, rồi lại hối hận về chính điều đó.
2. NC đã khéo léo tạo tình huống đầy kịch tính để đẩy xung đột nội tâm của nhân vật lên đỉnh điểm.
Xung đột nội tâm của Hộ thể hiện ở mâu thuẫn không thể dung hòa giữa sống với hoài bão nghệ thuật và sống với nguyên tắc tình thương. Chính vì không thể chọn một trong hai con đường nên NC rơi vào bế tắc.
Tâm trạng căng thẳng bế tắc của Hộ được diễn tả theo một cái vòng quẩn quanh: khát vọng – thất vọng - nhẫn tâm - hối hận – khát vọng - thất vọng ngày càng nặng nề hơn.
3. NC rất linh hoạt trong việc ngôn ngữ để miêu tả nội tâm
Có chỗ nhà văn dùng lời người kể chuyện để miêu tả tâm lý nhân vật: ”Hắn băn khoăn nghĩ đến một tác phẩm nó sẽ làm mờ hết các tác phẩm khác cùng ra một thời. ”Có khi là lời nhân vật tự biểu hiện nội tâm của mình: ”Ta đành phí một vài năm để kiếm tiền”. Có lúc vừa là lời người kể chuyện, vừa là lời nội tâm nhân vật: ”Khốn nạn! Khốn nạn thay cho hắn... Chao ôi! Hắn đã viết những gì? Tất cả góp phần diễn tả sinh động tâm lý nhân vật Hộ.
4. BCT Bổ sung
Mạch truyện được kể bằng việc chuyển từ tâm lý nhân vật này sang tâm lý nhân vật kia, kết hợp với kỹ thuật để cho nhân vật hồi tưởng. Thí dụ: Từ đang hồi tưởng nhớ lại những ân nghĩa của Hộ, Nam Cao chuyển:
”Bởi thế, nên luôn mấy năm trời, Hộ thấy Từ là một người vợ rất ngoan, rất phục tùng, rất tận tâm. Và đáng lẽ thì Hộ phải sung sướng lắm.
Nhưng Hộ chỉ sung sướng được ít lâu thôi. Sau cái hành vi đẹp của hắn, và cái hành vi ấy được trả công bằng một tình yêu rất êm đềm, hắn chỉ còn nghĩ đến gia đình, chỉ cốt làm sao nuôi được gia đình. Hộ vốn nghèo. Hắn là một nhà văn.”
Kết cấu truyện được viết theo mạch sau đây: Hộ đang đọc báo (ở hiện tại) rồi hồi tưởng về quá khứ (để giới thiệu nhân vật, căn nguyên sự việc) sau đó trở về hiện tại. Từ nhắc Hộ tiền nợ tháng này. Truyện phát triển về tương lai: Hộ đi xuống phố và kết truyện là một cảnh nhà Hộ sáng hôm sau. Nhờ kết câu tâm lý - hồi tưởng, NC tái hiện được số phận của nhân vật trong một truyện ngắn. Vì thế truyện ngắn NC thường có dung lượng phản ánh thực tại rộng trong thời gian không gian. Mạch thời gian và không gian bị tước bỏ, chỉ còn lại rất ít.
Có sự kết hợp một cách tài năng giữa cách viết hồi tưởng với việc phân tích tâm lý, miêu tả sự việc và ngôn ngữ đối thoại, đặt trong những tình huống đặc biệt. Chẳng hạn, cảnh nhà Hộ sáng hôm sau. Khi tỉnh dậy, Hộ quan sát. Nhà cửa vẫn tươm tất. Hộ nhớ lại sự việc hồi hôm, rồi đến chỗ Từ nằm trên võng, kết bằng cảnh ba người cùng khóc, kết bằng một bài ca dao.
“Sáng hôm sau. Hắn thức dậy trên cái giường nhà hắn. Hắn thấy mình mẩy đau như dần, đầu nặng, miệng khô và đắng. Cổ thì ráo và rát cháy. Hắn đưa tay với ấm nước ở trên bàn để uống. ấm nước đầy và nước hãy còn ấm. Ðó là sự ý tứ của Từ. Hộ hiểu thế, và lòng buồn nao nao. Bởi hắn lờ mờ nhớ ra rằng: hình như đêm qua hắn say rượu, đi la cà chán rồi về, lại gây sự với Từ; hình như hắn lại đánh cả Từ, đuổi Từ đi, rồi mới đóng cửa lại và đi ngủ... Hắn đột nhiên hoảng sợ, nhổm dậy, mắt nhớn nhác tìm Từ...
Bây giờ Từ đang thiếp đi trên võng, đứa con nhỏ nằm bên. Từ vốn dậy sớm quen. Sáng nay, chắc Từ mệt quá, vừa mới lịm đi, nên mới ngủ trưa như thế. Ðầu Từ ngoẹo về một bên. Một tay Từ trật ra ngoài mép võng, sã xuống, cái bàn tay hơi xòe ra lỏng lẻo. Dáng nằm thật là khó nhọc và khổ não. Hắn bùi ngùi. Chao ôi! Trông Từ nằm thật đáng thương..”
|
|
|
|
giải đáp
|
Nghệ thuật truyện ngắn Nam Cao
|
|
|
|
Truyện ngắn Nam Cao trước cách mạng Tháng Tám là truyện ngắn tâm lý... Ngay từ những dòng mở đầu cuả truyện, Nam Cao đã dẫn ta nhập ngay vào dòng chảy suy nghĩ, dòng chảy tâm trạng cuả nhân vật. Tính chất “đang suy nghĩ”, "đang đối thoại”, “đang độc thoại”. ”đang nói chuyện trong tâm tưởng” cuả nhân vật là một đặc trưng phong cách nghệ thuật của Nam Cao. Tác giả không kể lại những suy nghĩ của nhân vật. Suy nghĩ của nhân vật không phải là một dòng ý thức tuôn chảy. Không có sự phân tích những trạng thái tâm lý, cảm xúc. Nhưng nhân vật đang nói to lên (trong đầu), nói toạc ra (với chính mình), đang mở toang cánh cửa tâm hồn mình. Giọng điệu tâm lý là giọng đang nói to cho mọi người nghe. Người đọc khó nhận ra đâu là giọng kể cuả tác giả, đâu là giọng nói trong đầu nhân vật. Có sự chuyển hoá rất tự nhiên giữa hai giọng này: “Ầy là lúc hắn lò dò về đến sân . Hắn đang đi bỗng giật mình. Một con chó đang thiu thiu trong một bụi dong ở đầu sân nhảy choàng ra. Một tí nữa thì nó đớp vào chân hắn. Hắn nhảy cẫng lên một cái và hắn sực nhớ ra rằng: Nhà hắn có một con chó vện, con chó vện ấy hay trông gà hoá cuốc, nên lắm khi chực đớp cả chân người nhà. Đó là một cái tật không thể tha thứ được. Bởi không ai nuôi chó để nó cắn què chân bao giờ. Ờ mà lại điều này nữa: nuôi mèo hay nuôi chó cũng phải tuỳ cảnh gia đình; nhà giàu nuôi là phải; bởi nhà giàu sợ trộm mà lại nhiều cơm hớt; còn nghèo rớt mồng tơi như nhà hắn nuôi làm gì? Giá thử nhà còn trẻ nhỏ, thì nuôi chó cũng được việc. Nhưng nhà không còn trẻ nhỏ. Thằng cu con đã lên ba. Nó đã có thể ra vườn được. Hạt gạo năm nay khó chuốc như hạt ngọc. Đến bữa ăn phải tính đầu để chia cơm. Cứ tình hình ấy, thì phải dở hơi lắm lắm mới nuôi một con chó để chẳng có việc gì cho nó làm… Thế là đủ lắm. Hắn sung sướng vì đã nghĩ ra điều ấy. Hắn gật đầu luôn mấy cái. Rồi hắn đưa mắt nhìn trộm con chó vện…” (Trẻ con không được ăn thịt chó). Trong khi thể hiện tâm lý nhân vật, Nam cao đã gọt tỉa hết những chi tiềt miêu tả ngoại cảnh. Văn Nam Cao có rất ít những đoạn tả cảnh, những đoạn dẫn truyện. Câu truyện là dòng tâm lý vận động không ngừng. Cảnh vật bên ngoài (nếu có) cũng thấm đấm tâm lý nhân vật. Thời gian hiện thực rất ít lộ ra. Đó là thời gian tâm lý, không xác định. Nam Cao hay diễn đạt thời gian bằng những từ phiếm chỉ: “Từ đấy”, “được ít lâu”, “từ ngày có ông Lang Rận”, “nhưng một đêm muà đông rét mướt kia”, “thế rồi một hôm”, ít lâu nay”, “buổi tối hôm ấy”… Có khi câu chuyện là lược sử cả một quãng đời dài cuả nhân vật (Dì Hảo, Ở Hiền). Thời gian cũng cũng lược giản còn vưà đủ để người đọc hiểu là nhân vật đã trải qua quãng thời gian ấy. Thời gian không phải là yếu tố chi phối tâm lý nhân vật và cốt truyện, mà tâm lý nhân vật tự vận động đẩy câu chuyện đi tới. Nhân vật suy đi, tính lại rồi hành động. Mạch truyện phát triển trên mạch tâm lý vận động. suy nghĩ diễn ra trong đầu nhân vật trước, từ đó thúc đẩy hành động... Tất cả tự nhiên như sự việc phải xảy ra như vậy. Tính cách nhân vật hiện lên như khắc như tạc. Khó nhận ra bàn tay đạo diễn cuả tác giả. Tâm lý gợi tâm lý, ý tưởng gợi liên tưởng, suy diễn, đòi phải hành động, dẫn đến kết thúc bất ngờ, khi dồn nén tâm lý lên đỉnh điểm. “Anh Đĩ Chuột rít hai hàm răng lại. Hai chân giận dữ đạp phắt cái ghế đổ văng xuống đất. Cái tròng rút mạnh lại. Cái bộ xương bọc da giãy giụa như một con gà bị bẫy, sau cùng, nó chỉ còn giật từng cái chậm dưới sợi thừng lủng lẳng” (Nghèo). Đĩ Chuột treo cổ tự tử, chết một cách tội nghiệp. Mọi chi tiết trước đó trong truyện như những sức ép tâm lý ngày càng tăng lên, mãnh liệt như nước dâng, như lưả cháy, khiến cho Đĩ Chuột không thể nào hành động khác được. Anh ta dứt khoát cho đầu vào thòng lọng và giận dữ đạp phăng ghế. Cái chết cuả Chí Phèo, cuả lão Hạc cũng diễn ra như vậy, bất ngờ, quyết liệt, dữ dội. Nhân vật không thể cưỡng lại những dồn nén tâm lý. Hành động cuả nhân vật phải diễn ra, như một tất yếu, để kết thúc tiến trình tâm lý đã phát khởi. Trong truyện Đón Khách, tuy tình huống là vui vẻ, nhưng mạch tâm lý được tích tụ ngầm ngầm, đầy ứ lên, và uất nghẹn ở kết thúc truyện. Trước mâm cơm tết “cơm trắng, cá ngon, giò đầy mâm, bánh chưng rền lắm” cả nhà ngồi lặng im. Ông Đồ cứ nghẹn luôn mãi, đôi mắt ông ầng ậc nước mắt. Uất quá, ác quá mà không nói ra được. Truyện kết thúc, gây một ấn tượng rất mạnh trong lòng người đọc, để lại một dư vị thấm thiá, lâu dài, phải suy nghĩ. Để thực hiện được sự vận động tâm lý, gắn liền mạch truyện, loại bỏ thời gian, Nam Cao ít dùng hồi tưởng, như thủ pháp quen thuộc. Ông thường dùng liên tưởng, từ sự việc này, ông để nhân vật gợi ra, gọi ra sự việc khác. Có một mạch lập luận, suy diễn ngầm trong tâm lý nhân vật, trong kết cấu truyện. Một ý tưởng khởi điểm xuất phát, qua nhiều chặng liên tưởng loại suy, qua những sự việc hô ứng liên châu, câu chuyện phải tiến triển theo hướng đã định. Chẳng hạn truyện Những Truyện Không Muốn Viết, tác giả đã lập luận rằng, kể chuyện mình tức là “đổ đốn”. “Cái tôi” là đáng ghét, bỉ ổi, thời còn nói đến làm gì. Tác giả nói đến những cái khác. Cái khác đó là chuyện người đàn ông có vợ, chuyện con chó mực, chuyện thằng say, và cuối cùng không còn dám viết cái gì nữa. Bởi vì viết chuyện gì cũng đụng chạm, kể cả những chuyện “buông cau, cây chuối, cục đất, buổi hoàng hôn hay con lợn, nhưng biết đâu đấy?... Tôi sợ có người lại nhận mình là buồng cau, cây chuối, cục đất, buổi hoàng hôn, hay con lợn để, để mà không bằng lòng. Bởi thế, tuy chẳng muốn, tôi đành lại lấy tôi ra mà viết để cho yên chuyện”. Rõ ràng đó là một lập luận, một cấu trúc vòng tròn phát triển. Truyện Cười cũng có sự vận động tương tự. Mọi diễn biến xoay quanh cái trục lập luận là phải cười, “cứ cười đi, cười nhiều đi“. Truyện Cái Mặt Không Chơi Được cũng xoay quanh chính cái nhan đề ấy mà phát triển qua nhiều tình huống, nhiều thời điểm trong cuộc đời… Tuy nhiên, không phải tất cả mọi truyện ngắn cuả Nam Cao đều có cấu trúc rõ như vậy. Nhưng nếu để ý kỹ, người đọc dễ nhận thấy một mạch lập luận ngầm trong phong cách ngôn ngữ cuả Nam cao, dù là một đoạn văn, hay một cảnh, hoặc cấu trúc truyện. Đoạn sau đây trong Đón Khách là một thí dụ. “Có giời biết đấy; quả thật Sinh không ác. Nhưng mà Sinh nhẹ dạ. Ấy là cái tật chung cuả những người trẻ tuổi. Vả lại, Sinh vẫn tưởng không đời nào lại có những người ngớ ngẩn như thế đươc. Vẫn biết ông Đồ tính thật thà. Nhưng còn bà cụ nữa chứ! Bà phải hiểu rằng Sinh đùa cợt, có ai ngờ bà Đồ cũng lẩn thẩn như ông Đồ nốt. Bởi thế, mới đầu năm mà hàng xóm đã được một mẻ tức cười. Nhưng nói thế thì ai hiểu. Truyện phải kể có đầu, có đuôi. Vậy đầu đuôi như thế này…” Người đọc thường gặp trong suy nghĩ cuả nhân vật hoặc trong chuyển mạch truyện, Nam Cao hay dùng từ ngữ cuả văn nghị luận: “quả thật”, “nhưng mà”, “vả lại”, “bởi thế”, “vậy”, “nên”, “thế mà”, “ấy mà”… Điều đặc sắc là tuy mạch truyện và ngôn ngữ được viềt bằng phong cách chính luận, nhưng văn Nam Cao vẫn tự nhiên. Người đọc tưởng như phải viết như vậy, nhân vật phải cảm nghĩ như vậy, câu chuyện phải tiến triển như vậy không khác đi được. Điều này gợi ra hai cách lý giải, tuy sử dụng ngôn ngữ lập luận nhưng đó chỉ là yếu tố nhỏ trong nhiều biện pháp xây dựng hình tượng nhân vật, đồng thời nó phản ánh tính chất suy tư trong con người Nam Cao. Bùi Công Thuấn
|
|
|
|
giải đáp
|
Giá trị nhân đạo của "Đời thừa"
|
|
|
|
Nam Cao thông cảm sâu sắc với những nỗi thống khổ của người trí thức trong xã hội cũ. Thông cảm nỗi khó nghèo và bất lực trong cuộc mưu sinh. Trong Những Chuyện Không Muốn Viết, Nam Cao thổ lộ điều này: ”cả đời tôi chỉ lo chết đói... nguyện vọng của tôi là có tiền cho vợ đong gạo, mua nước mắm và mua ba xu tiền thuốc cho con”. Nhà văn “điên lên vì kiếm tiền và điên lên cả tiếng con khóc”, đau đầu với những “chuyện tẹp nhẹp vô nghĩa lý” , “Tiền nhà... tiền giặt... tiền thuốc... tiền nước mắm... Còn chịu tất! Tháng vừa rồi tiêu tốn quá, mới mồng mười đã hết tiền”.
NC quằn quại với những bi kịch tinh thần cũa người trí thức, mà đó
cũng là bi kịch của chính ông. Thật nghiệp, chiến tranh loạn lạc, xã
hội VN bị thực dân phong kiến Phát xít là cho bần cùng. Chính ông là
Giáo Thứ trong Sống Mòn.
Lòng thương yêu con người của NC thể hiện tinh tế và sâu nặng trong suốt tác phẩm.
Đó là tình cảnh bi thương của mẹ con Từ. “Từ
khóc như mưa, khóc tưởng chẳng bao giờ còn lặng được. Từ khóc, và ôm
con ngồi nhịn đói, bởi vì Từ chẳng còn biết trông cậy vào ai, trừ bà mẹ
già mù và quanh năm nay ốm, mai đau, mà Từ vẫn phải nuôi. Bà mẹ già
biết làm sao? Bà chỉ còn một cách là còn được ít nước mắt nào thì rỏ cả
ra mà khóc với con, và cả mẹ lẫn con chỉ có một cách là khóc cho đến
khi nào bao nhiêu xương thịt đều chảy ra thành nước mắt hết, để rồi
cùng chết cả”. Câu văn của Nam Cao như xuất phát từ chính trong
nỗi đau của bản thân ông. Ông đã thể hiện nỗi đau của Từ như chính nỗi
đau của mình.
Đó là nỗi đau đớn đến tê dại điên cuồng và chết lặng của Hộ. “Và nhiều khi, không còn chịu nổi cái không khí bực tức ở trong nhà, hắn đang ngồi bỗng đứng phắt lên, mắt chan chứa nước, mặt hầm hầm, vùng vằng đi ra phố, vừa đi vừa nuốt nghẹn.
Hắn đi lang thang, không chủ đích gì. Rồi khi gió mát ở bên ngoài đã
làm cái trán nóng bừng nguội bớt đi và lòng trút nhẹ được ít nhiều uất giận, hắn tạt vào một tiệm giải khát nào mà uống một cốc bia hay cốc nước chanh... Hắn thừ mặt ra
như một kẻ phải đi đày, một buổi chiều âm thầm kia, ngồi trong một làn
khói nặng u buồn mà nhớ quê hương. Hắn cũng nhớ nhung một cái gì rất
xa xôi... những mộng đẹp ngày xưa... một con người rất đáng yêu đã
chẳng là mình nữa. Hắn lắc đầu tự bảo: "Thôi thế là hết! Ta đã hỏng! Ta đã hỏng đứt rồi".
NC khóc cho tình cảnh bế tắc của người trí thức: ”Hắn
ôm chặt lấy cái bàn tay bé nhỏ của Từ vào ngực mình mà khóc. Từ thức
dậy, Từ hiểu ngay, không cần hỏi một câu nào cũng hiểu. Và Từ cảm động. Mắt Từ giàn giụa nước. Từ khẽ rút tay ra, vòng lên cổ chồng, nhẹ nhàng núi hắn vào, để hắn gục đầu lên cạnh ngực Từ. Hắn lại càng khóc to
hơn và cố nói qua tiếng khóc: - Anh... anh... chỉ là... một thằng...
khốn nạn!... - Không!... Anh chỉ là một người khổ sở!... Chính vì em mà
anh khổ...”
Bút
pháp Hiện Thực Phê Phán không giúp NC chỉ ra con đường giải phóng cho
nhân vật của mình, nhưng tình cảm nhân đạo ông dành cho nhân vật thật
đáng quý. Đời Thừa thức tỉnh người đọc về một hiện thực cần phải thay
đổi đi để cứu lấy những con người khổ như Hộ.
|
|
|
|
giải đáp
|
Giá trị hiện thực của tác phẩm "Đời thừa"
|
|
|
|
Đời Thừa không phản ánh trực tiếp hiện thực thời đại của Hộ. Người đọc biết rất ít về khung cảnh xã hội cụ thể. Chỉ vài nét sơ lược. Đó là tình cảnh đói nghèo của Hộ. Nhà văn không thể sống bằng ngòi viết. Hộ viết văn, nhà đông con, vợ ở nhà trông con, lương tháng chỉ đủ sống cho 10 ngày: ”Hộ vốn nghèo. Hắn là một nhà văn, trước kia, với cách viết thận trọng của hắn, hắn chỉ kiếm được vừa đủ để một mình hắn sống một cách eo hẹp, có thể nói là cực khổ.”, ”cả tháng Từ ăn và bắt các con ăn kham khổ, thường thường đói nữa! Quà sáng thì bỏ hẳn, có khi bữa tối cũng chịu nhịn cơm, ăn cháo.”
Tác phẩm tập trung miêu tả cái bi kịch tinh thần của nhà văn, của người trí thức tiểu tư sản trong xã hội cũ khát khao làm một cái gì nâng cao giá trị đời sống của mình, mà kết cục chẳng làm được cái gì, chỉ những lo cơm áo mà đủ mệt? Qua đó đặt ra vấn đề xã hội có ý nghĩa nhân sinh to lớn, đó là làm thế nào để người trí thức có hoài bão, có lý tưởng có thể sống có ích cho đời, thay vì phải sống trong bi kịch đời thừa.
Nam Cao miêu tả tình trạng vong thân của người trí thức qua đó gián tiếp lên ánh chế độ xã hội đã đẩy người trí thức đến tình cảnh bế tắc. Kết thúc tác phẩm là một tình cảnh thật đáng thương. Cả Hộ, Từ và đứa con cùng khóc, vì trước mặt Hộ, tháng tới lấy gì để sống, tiền nợ tháng trước chưa trả, tiền nhuận bút tháng này Hộ đã xài hết. Tình cảnh của Hộ là tình cảng “khốn nạn” thật đáng thương. Từ ru con bằng một bài hát nao lòng.
Ai làm cho gió lên giời, Cho mưa xuống đất, cho người biệt li;
Ai làm cho Nam, Bắc phân kỳ, Cho hai hàng lệ đầm đìa tấm thân...
Đó là câu hỏi không có câu trả lời. Ai làm? Ai làm nên thảm cảnh này?
Giá trị hiện thực đặc sắc của tác phẩm thể hiện ở việc NC đặt vấn đề về trách nhiệm xã hội ngòi bút của nhà văn. “Sự cẩu thả trong văn chương thật đê tiện”. Nhà văn phải là người sáng tạo, phải viết những tác phẩm “làm cho người gần người hơn”, cũng nhắc nhở nhà văn về tính nghệ sĩ ham vui bốc đồng có thể gây ra những hậu quả mà vợ con họ phải chịu. Nhà văn phải có trách nhiệm với gia đình của mình.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bi kịch người trí thức trong "Đời thừa"
|
|
|
|
Bài tham khảo:Khái niệm bi kịch:Kịch phương Tây có các thể loại: Bi kịch, hài kịch, chính kịch, kịch lịch sử. Hài kịch khai thác cái hài (cái cười). Bi kịch (Danh từ) khai thác cái bi (cái buồn) như bi kịch Hamlet, Roméo và Juliette của Shakespear, kết thúc khi các nhân vật chính chết trong khát vọng. Bi kịch (nghĩa Tính từ) diễn tả trạng thái tâm hồn cuả con người khi có một khát vọng mãnh liệt bị hoàn cảnh ngăn trở, đè bẹp không thực hiện được. Chẳng hạn, Chí Phèo có khát vọng mãnh liệt muốn trở về làm người lương thiện, nhưng không được, Chí chết trong khát vọng ấy. Tình trạng cuả Chí là tình trạng bi kịch. Để trình bày bi kịch, ta cần xem xét khát vọng cuả nhân vật là gì? Thực thế đã ngãng trở khát vọng ấy ra sao, và tâm hồn nhân vật lâm vào trạng thái gì? 1. Bi kịch “vỡ mộng văn chương”(hay bi kịch về lý tưởng)Mộng văn chương của Hộ: Hộ coi sự nghiệp văn chương là lý tưởng cuả mình. Hộ dồn hết sức lực tâm huyết cho lý tưởng ấy. “Ðói rét không có nghĩa lý gì đối với gã trẻ tuổi say mê lý tưởng. Lòng hắn đẹp. Ðầu hắn mang một hoài bão lớn”. ”Ðối với hắn lúc ấy, nghệ thuật là tất cả, ngoài nghệ thuật không còn gì đáng quan tâm nữa. Hắn băn khoăn nghĩ đến một tác phẩm nó sẽ làm mờ hết các tác phẩm khác cùng ra một thời...”. Hộ tự nhận thức về sự chọn lựa lý tưởng của mình: “tôi mê văn quá nên mới khổ. Ấy thế, mà tuy khổ thì khổ thật, nhưng thử có người giàu bạc vạn nào thuận đổi lấy cái địa vị của tôi, chưa chắc tôi đã đổi”. Hộ tan vỡ mộng văn chương, bởi vì Hộ không viết được, càng không viết được cái gì cho ra trò. ”Hắn phải cho in nhiều cuốn văn viết vội vàng. Hắn phải viết những bài báo để người ta đọc rồi quên ngay sau lúc đọc”, ”Hắn đã viết những gì? Toàn những cái vô vị, nhạt nhẽo, gợi những tình cảm rất nhẹ, rất nông, diễn một vài ý rất thông thường quấy loãng trong một thứ văn bằng phẳng và quá ư dễ dãi. Hắn chẳng đem một chút mới lạ gì đến văn chương”. Hắn nhận ra thực tế này:"Thôi thế là hết! Ta đã hỏng! Ta đã hỏng đứt rồi". Và hắn nghĩ đến cái tên hắn đang mờ dần đằng sau những tên khác mới trồi ra, rực rỡ hơn...” Hộ lâm vào trạng thái bi kịch của sự sụp đổ lý tưởng, bi kịch đánh mất mình, trạng thái vong thân. ”Hắn thấy mình khổ quá, bực bội quá. Hắn trở nên cau có và gắt gỏng. Hắn gắt gỏng với con, với vợ, với bất cứ ai, với chính mình. Và nhiều khi, không còn chịu nổi cái không khí bực tức ở trong nhà, hắn đang ngồi bỗng đứng phắt lên, mắt chan chứa nước, mặt hầm hầm, vùng vằng đi ra phố, vừa đi vừa nuốt nghẹn. Hắn đi lang thang, không chủ đích gì”. ”Hắn thừ mặt ra như một kẻ phải đi đày, một buổi chiều âm thầm kia, ngồi trong một làn khói nặng u buồn mà nhớ quê hương. Hắn cũng nhớ nhung một cái gì rất xa xôi... những mộng đẹp ngày xưa... một con người rất đáng yêu đã chẳng là mình nữa.” Đối với người trí thức, sự sụp đổ lý tưởng cũng chính là sự sụp đổ của sự tồn tại. Anh ta sống mà không còn tồn tại nữa. Cái bi kịch là ở chỗ phải ý thức về sự vong thân ấy. 2. Bi kịch “người thừa” hay bi kịch về lương tâmHộ có ý thức sâu sắc về trách nhiệm của ngòi bút. Có yêu cầu đúng đắn về sự sáng tạo. “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có”. Hộ có khát vọng viết những tác phẩm lớn. ”Một tác phẩm thật giá trị, phải vượt lên bên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người. Nó phải chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái (5), sự công bình... Nó làm cho người gần người hơn". Hộ ý thức rõ đạo đức nghề nghiệp: ”Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương rồi. Nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện". Nhưng thực tế đã bắt Hộ chà đạp lên đạo đức, lương tâm của chính mình. ”Hộ điên người lên vì phải xoay tiền. Hắn còn điên lên vì con khóc, nhà không lúc nào được yên tĩnh để cho hắn viết hay đọc sách". ”Hắn chẳng đem một chút mới lạ gì đến văn chương”. Hộ lâm vào bi kịch người thừa. “Thế nghĩa là hắn là một kẻ vô ích, một người thừa”. ”Hắn nghĩ thế và buồn lắm, buồn lắm! Còn gì buồn hơn chính mình lại chán mình? Còn gì đau đớn hơn cho một kẻ vẫn khát khao làm một cái gì nâng cao giá trị đời sống của mình, mà kết cục chẳng làm được cái gì, chỉ những lo cơm áo mà đủ mệt? ”Hàng ngày đối diện với trang giấy trắng, hắn lại tự nguyền rủa mình là kẻ khốn nạn. ”Rồi mỗi lần đọc lại một cuốn sách hay một đoạn văn ký tên mình, hắn lại đỏ mặt lên, cau mày, nghiến răng vò nát sách và mắng mình như một thằng khốn nạn... Khốn nạn! Khốn nạn! Khốn nạn thay cho hắn! Bởi vì chính hắn là một thằng khốn nạn! Hắn chính là một kẻ bất lương!” 3. Bi kịch lẽ sống (hay bi kịch gia đình)Hộ sống bằng triết lý tình thương. Hộ cưu mang Từ và quyết liệt giữ lấy lý tưởng sống yêu thương.“hắn không thể bỏ lòng thương; có lẽ hắn nhu nhược, hèn nhát, tầm thường, nhưng hắn vẫn còn được là người: hắn là người chứ không phải là một thứ quái vật bị sai khiến bởi lòng tự ái. Kẻ mạnh không phải là kẻ giẫm lên vai kẻ khác để thỏa mãn lòng ích kỷ. Kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai mình”. Thế nhưng cuộc sống dần dần làm tha hóa Hộ, biến Hộ thành kẻ ác. Hộ gây ra bao điều đau khổ cho Từ và cho chính mình. Đến nỗi nhiều lần Từ định bỏ đi. Đã có lúc Hộ làm Từ khiếp sợ vì cái ác đe dọa.” - Ngày mai... mình có biết không?... Chỉ ngày mai thôi! Là tôi đuổi tất cả mấy mẹ con mình ra khỏi cái nhà này... Tôi đuổi tất, không chừa một đứa nào, kể cả con bé Thảo là con ngoan nhất... Mấy đứa kia đều đáng vật một nhát cho chết cả! Chúng nó chỉ biết ăn với hét! Cả con mẹ nữa, con mẹ là mình ấy... cũng đáng vật một nhát cho chết cả!” Hộ triền miên sống trong bi kịch này. Bỏ nhà đi, uống rượu say, hành hạ vợ con, rồi khi tỉnh rượu thì xin lỗi. Cứ thế, Hộ không sao thoát ra được mặc cảm một thằng hèn. “Hèn biết bao là một thằng con trai không nuôi nổi vợ, con thì còn mong làm nên trò gì nữa?”. 4. Cả ba bi kịch quấn vào nhau thành bi kịch “đời thừa”Hộ không sao thoát ra được. Không thể vừa là nhà văn có trách nhiệm lại vừa dùng ngòi bút để nuôi nổi vợ con. Cũng không thể bỏ gia đình để theo đuổi mộng văn chương. Hộ đau đớn trong bi kịch “đời thừa”, sống thừa, người trí thức có hoài bảo, có trách nhiệm, có lương tâm, vậy mà không làm được gì cho đờimình có ý nghĩa.”Còn gì đau đớn hơn cho một kẻ vẫn khát khao làm một cái gì nâng cao giá trị đời sống của mình, mà kết cục chẳng làm được cái gì, chỉ những lo cơm áo mà đủ mệt?”” 5. Nguyên nhânCuộc sống trong xã hội cũ không thể giúp nhà văn sống bằng ngòi bút. Thực ra ngay cả trong xã hội hôm nay, không phải nhà văn nào cũng có thể sống bằng nhuận bút những gì mình viết ra. Họ phải kiếm sống bằng nhiều nghề khác. Cũng cần nhận rõ nguyên nhân này, chính cá tính nghệ sĩ của Hộ góp thêm một nhân tố cụ thể vào cái nghèo khổ, đẩy Hộ đến bi kịch. Hộ có tính bốc đồng. Gặp bạn là quên hết mọi sự. “Ôi thôi! Mặc kệ gia đình và những cái gì còn lại!... Hắn sẽ uống rất khỏe, nói toàn những chuyện vá trời lấp biển, rồi đi la cà đến hết đêm mới về.” Sưu tầm
|
|