|
|
giải đáp
|
Phân tích ý nghĩa kết thúc truyện Chiếc thuyền ngoài xa
|
|
|
|
Nhìn thấy hai cảnh: - Cảnh 1: Cảnh sương hồng buổi sáng mai - Cảnh 2: Cảnh người đàn bà vùng biển bước ra từ bức tranh Ý nghĩa: - Cảnh 1: Vẻ đẹp thơ mộng của nghệ thuật - Cảnh 2: Hiện thực đời sống, lam lũ, khó nhọc => thông điệp: Hãy làm cho nghệ thuật và đời sống trở nên gần gũi.
|
|
|
|
giải đáp
|
cho biết những số phận bất hạnh sau chiến tranh được thể hiện như thế nào trong tác phẩm :"số phận con người "
|
|
|
|
Thể hiện qua hai nhân vật: - Xô - cô - lốp: Tham gia quân đội, bị thương, bị đày đọa trong trại tập trung; vợ và hai con gái bị chết vì bom phát xít Đức, con trai đi lính và hi sinh đúng ngày chiến thắng; sau chiến tranh Xô - cô - lốp không biết đi đâu về đâu. - Bé Va - ni - a lang thang, rách rưới, hằng ngày nhặt nhạnh kiếm ăn nơi hàng quán, ban đêm bạ đâu ngủ đó; cha chết trận, mẹ chết bom, không biết quê hương, không người thân thích. => Cổ máy chiến tranh đã nghiền nát những tổ ấm, những hạnh phúc và cả những thân phận. Trong cuộc chiến chống phát xít của nhân dân Xô Viết vĩ đại không chỉ có vinh quang mà còn có nhiều đau thương, mất mát
|
|
|
|
giải đáp
|
Thiên nhiên trong tập: "Nhật kí trong tù"
|
|
|
|
Xưa nay, thiên nhiên là đề tài rộng lớn và nguồn cảm hứng sáng tạo vô tận trong thi ca, nghệ thuật, nhất là trong thơ ca phương Đông. Thiên nhiên có vai trò hết sức quan trọng đối với đời sống tinh thần của con người bởi nó là nơi gửi gắm, chia sẻ buồn vui, làm cho tâm hồn thêm thanh cao, trong sáng. Giống như các nhà thơ xưa, Hồ Chí Minh cũng dành cho thiên nhiên một tấm lòng ưu ái. Đúng như giáo sư Đặng Thai Mai đã nhận xét : “Trong “Nhật kí trong tù”, thiên nhiên chiếm một địa vị danh dự”. Những bài thơ tả cảnh thể hiện rất rõ cảm hứng dạt dào của Bác trước thiên nhiên. Có bài chỉ vài nét phác họa đơn sơ, song cũng có bài như một bức tranh sơn mài lộng lẫy. Nhưng bao trùm lên tất cả vẫn là vẻ đẹp phong phú, đa dạng của thiên nhiên. Mặc dù thân thể bị giam cầm trong ngục tối nhưng trái tim nhạy cảm của Bác vẫn dễ dàng rung động trước một ánh nắng mai rọi chiếu nơi cửa ngục âm u : Trong ngục giờ đây còn tối mịt, Ánh hồng trước mặt đã bừng soi. (“Buổi sớm”).
Hoặc giao cảm chan hòa với đêm trăng đẹp : Trong tù không rượu cũng không hoa, Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ. Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ, Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ. (“Ngắm trăng”).
Bác đã quên đi trong phút chốc cái hiện thực phũ phàng, nghiệt ngã chố lao tù để thảnh thơi mà “thưởng nguyệt” như cái thú thanh cao của thi sĩ muôn đời. Vẻ đẹp thiên nhiên ở đây giản dị mà độc đáo : ánh trăng soi qua khung cửa sổ nhà lao và trở thành tri âm, tri kỉ của người tù. Cách ngắm trăng độc đáo có một không hai ấy thể hiện tâm hồn nghệ sĩ đa cảm và tinh tế. Trăng làm đẹp người, người làm đẹp trăng. Cái nhìn thi vị hóa của Bác khiến trăng thêm đẹp và vẻ đẹp của trăng làm cho tâm hồn Bác rung động sâu xa như tâm hồn thi sĩ. Giữa trăng với người có mối giao hòa đặc biệt. Mặt trời, trăng sao, tiếng chim hót sớm mai, hương hoa hồng thoảng vào trong ngục…tượng trưng cho mơ ước, niềm vui, khát vọng tự do của người tù cộng sản Hồ Chí Minh. Đặc biệt là hình tượng mặt trời xuất hiện nhiều lần trong thơ Bác đã trở thành biểu tượng thiêng liêng của niềm tin vào tương lai tươi sáng của Cách mạng, của cuộc đời. Trên đường chuyển lao, đi trong đêm khuya giá lạnh nhưng Bác vẫn vượt lên gian khổ để thưởng thức vẻ đẹp thiên nhiên : Gà gáy một lần đêm chửa tan, Chòm sao đưa nguyệt vượt lên ngàn; Người đi cất bước trên đường thẳm, Rát mặt đêm thu, trận gió hàn. Phương Đông màu trắng chuyển sang hồng, Bóng tối đêm tàn, quét sạch không; Hơi ấm bao la trùm vũ trụ, Người đi, thi hứng bỗng thêm nồng. (“Giải đi sớm”)
Thiên nhiên trong “Nhật kí trong tù” đẹp đẽ và ấm áp tình người. Nó thực sự trở thành nguồn động viên, an ủi to lớn đối với người tù đặc biệt Hồ Chí Minh : Mặc dù bị trói chân tay, Chim ca rộn núi, hương bay ngát rừng. Vui say ai cấm ta đừng, Đường xa âu cũng bớt chừng quạnh hiu. (“Trên đường đi”).
Có lúc, thiên nhiên hiện lên như những thử thách nghiệt ngã tưởng chừng khó có thể vượt qua : “Đi đường mới biết gian lao. Núi cao rồi lại núi cao trập trùng” (“Đi đường”). Hoặc đêm thu giá lạnh, gió quất ràn rạt từng trận, từng trận vào mặt “Người đi cất bước trên đường thẳm” (“Chiều tối”). Chiều tàn, Bác vẫn phải dẫn bước trên con đường núi quanh co, hiu quạnh, giữa thiên nhiên dữ dội và khắc nghiệt : “Gió sắc tựa gươm mài đá núi. Rét như dùi nhọn chích cành cây” (“Hoàng hôn”). Vượt qua tất cả những gian nan thử thách ấy, Bác trở nên con người vĩ đại. Thiên nhiên muôn màu muôn vẻ luôn là người bạn song hành với Bác trong suốt cuộc đời. Bác đã dành cho thiên nhiên một vị trí xứng đáng trong tâm hồn và trong thơ mình. Đó cũng là biểu hiện của tình cảm phong phú cùng tấm lòng nhân ái mênh mông của người chiến sĩ – thi sĩ Hồ Chí Minh.
|
|
|
|
giải đáp
|
Tìm hiểu: "Nhật kí trong tù"
|
|
|
|
I. Hoàn cảnh sáng tác
8/1942 NAQ- HCM trở lại TQ tranh thủ sự ủng hộ của thế giới với cuộc chiến tranh chống xâm lược. Ngày 29/8/42 tại Túc Vinh Quảng Tây Người bị chính quyền TGT bắt giam. 13 tháng tù bị giải đi qua 30 nhà lao của 13 huyện thuộc QT, Người st 133 bài thơ bằng chữ Hán và lấy tiêu đề là Ngục trung nhật kí.
II. Giá trị của tác phẩm
1. Nội dung
a. Phản ánh chân thực bộ mặt đen tối của nhà tù & chính quyền phản động Tưởng Giới Thạch
- Bắt giam vô lí người vô tội: Cháu bé trong nhà lao TD; Gia quyến người bị bắt lính.
- Xã hội bất công vô nhân đạo đày ải người tù dã man: Cấm hút thuốc lá, Tiền vào nhà giam, Cờ bạc.
- Hình ảnh những người tù luôn đói cơm rách áo, tiều tuỵ khổ ải đến chết: Cơm tù, một người tù cờ bạc vừa chết, Bốn tháng rồi.
b. Bức chân dung tinh thần tự hoạ của HCM: Đại nhân, Đại trí , Đại dũng. (Viên Ưng)
- Tâm hồn lớn:
+ Lòng nhân đạo sâu sắc mang tinh thần của giai cấp vô sản ( thương yêu không phân biệt với người cùng khổ): -Dành tình yêu thương cho mọi kiếp người , c/đ đau khổ mà Bác gặp trong tù và trên đ/n TQ
- Thương nhớ đất nước và nd Việt Nam đang sống trong cảnh nô lệ: Om nặng , không ngủ được, Tức cảnh….
+ Tình yêu thiên nhiên nồng nàn, sâu sắc : TN trong thơ sinh động có hồn , gửi gắm tâm sự & thể hiện tâm hồn Bác.
+ Yêu tự do tha thiết đấu tranh suốt đời cho tự do của nd: Bị hạn chế.
-Trí tuệ lớn ; tầm tư tưởng lớn:
+ Nhận thức quy luật cuộc sống theo hướng biện chứng tích cực:
+ Tầm nhìn khái quát, tổng kết được những bài học quý trong cuộc sống và trong đấu tranh: Học đánh cờ, Nghe tiếng giã gạo, Đi đường.
- Dũng khí lớn:
+ Giữ vững tinh thần ý chí CM,kiên cường trong mọi hoàn cảnh gian khổ.
+ Tinh thần lạc quan vượt mọi kkhó khăn trước mắt: Ngắm trăng, Trên đường đi, Giải đi sớm.
=> HCM là một tâm hồn yêu nước, một tấm lòng nhân đạo lớn, một cốt cách nghệ sĩ lớn.
2. Nghệ thuật
Tập thơ thể hiện bút pháp nghệ thuật đặc sắc & phong cách độc đáo của HCM.
a. Thơ bác bình dị mà sâu sắc: Lính gác khiêng lợn đi cùng, Nghe tiếng giã gạo.
b. Cổ điển và hiện đại.
- Cổ điển.
+ Đề tài( lên núi , Đi đường..)
+ Miêu tả thiên nhiên = bút pháp chấm phá ghi lại linh hồn của tạo vật .
+ NV trữ tình ung dung tự tại, nhàn tản hoà hợp với tự nhiên, vũ trụ.
- Hiện đại:
+ HT thơ vận động hướng tới sự sống , ánh sáng & tương lai.
+ Con người trong quan hệ TN là c/sĩ.
c. Phong phú đặc sắc trong giọng điệu: Trữ tình , dí dỏm ,triết lí.
|
|
|
|
giải đáp
|
Một số bài thơ trong tập: "Nhật kí trong tù"
|
|
|
|
Ngâm thơ ta vốn không ham, Nhưng vì trong ngục biết làm chi đây; Ngày dài ngâm đợi cho khuây, Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do.
Túc Vinh mà để ta mang nhục, Cố ý dằng dai, chậm bước mình; Bịa chuyện tình nghi là gián điệp, Cho người vô cớ mất thanh danh.
Đi khắp đèo cao, khắp núi cao, Ngờ đâu đường phẳng lại lao đao! Núi cao gặp hổ mà vô sự, Đường phẳng gặp người bị tống lao?!
Ta là đại biểu dân Việt Nam, Tìm đến Trung Hoa để hội đàm; Ai ngỡ đất bằng gây sóng gió, Phải làm “khách quý” ở nhà giam!
Ta người ngay thẳng, lòng trong trắng, Lại bị tình nghi là Hán gian; Xử thế từ xưa không phải dễ, Mà nay, xử thế khó khăn hơn.
Đầu tường sớm sớm vầng dương mọc, Chiếu cửa nhà lao, cửa vẫn cài; Trong ngục giờ đây còn tối mịt, Ánh hồng trước mặt đã bừng soi.
Nghĩ việc trên đời kỳ lạ thật, Cùm chân sau trước cũng tranh nhau; Được cùm chân mới yên bề ngủ, Không được cùm chân biết ngủ đâu?
Nhàn rỗi đem cờ học đánh chơi, Thiên binh vạn mã đuổi nhau hoài; Tấn công, thoái thủ nên thần tốc, Chân lẹ, tài cao ắt thắng người.
Trong tù không rượu cũng không hoa, Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ; Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ, Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.
Trong lao tù cũ đón tù mới, Trên trời mây tạnh đuổi mây mưa; Tạnh, mưa, mây nổi bay đi hết, Còn lại trong tù khách tự do.
Sớm dậy, người người đua bắt rận, Tám giờ chuông điểm, bữa ban mai; Khuyên anh hãy gắn ăn no bụng, Bĩ cực rồi ra ắt thái lai.
Trong tù khoan khoái giấc ban trưa, Một giấc miên man suốt mấy giờ; Mơ thấy cưỡi rồng lên thượng giới, Tỉnh ra trong ngục vẫn nằm trơ.
Hai giờ ngục mở thông hơi, Tù nhân ngẩng mặt ngắm trời tự do; Tự do tiên khách trên trời, Biết chăng trong ngục có người khách tiên?
Dữ tợn hung thần miệng chực nhai, Đêm đêm há hốc nuốt chân người; Mọi người bị nuốt chân bên phải, Co duỗi còn chân bên trái thôi.
Phải nhìn cho rộng suy cho kỹ, Kiên quyết, không ngừng thế tấn công; Lạc nước, hai xe đành bỏ phí, Gặp thời, một tốt cũng thành công.
Vốn trước hai bên ngang thế lực, Mà sau thắng lợi một bên giành; Tấn công, phòng thủ không sơ hở, Đại tướng anh hùng mới xứng danh.
Mỗi người nửa chậu nước nhà pha, Rửa mặt pha trà tự ý ta; Ai muốn pha trà, đừng rửa mặt, Ai cần rửa mặt, chớ pha trà.
|
|
|
|
giải đáp
|
Tư liệu về Phan Đình Diệu
|
|
|
|
A.MỤC TIÊU CẦN ĐẠT Giúp HS: - Nắm được những đặc điểm chủ yếu của tư duy hệ thống – nhân tố cực kỳ cần thiết cho công cuộc đổi mới tư duy đang được đặt ra cấp bách hiện nay. - Hiểu được trình tự lập luận của một bài viết vừa mang cảm hứng khoa học vừa mang cảm hứng chính trị - xã hội rõ nét B. PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN - SGK, SGV, tài liệu tham khảo. - Bảng phụ - Thiết kế bài dạy. C. CÁCH THỨC TIẾN HÀNH GV tiến hành giờ dạy theo phương pháp: phát vấn, thuyết giảng, đàm thoại. D. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC 1. Ổn định lớp. 2. Kiểm tra bài cũ. 3. Bài mới : Vào bài : Thế kỷ XX đã qua, một thế kỷ mới đang đến – thế kỷ của khoa học và công nghệ. Thế kỷ ấy mang lại cho chúng ta nhiều vận hội mới, nhiều cơ hội lớn nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức và khó khăn. Trước bối cảnh thế giới đang có sự chuyển mình lớn lao như thế, đòi hỏi chúng ta phải có sự thích ứng bắt kịp với thời đại. Một trong những sự thích ứng đó chính là tư duy. Nhưng tư duy thế nào cho phù hợp – đó là vấn đề được Phan Đình Diệu bàn luận trong “Tư duy hệ thống – nguồn sức sống mới của đổi mới tư duy”. I. TÌM HIỂU CHUNG 1. Tác giả ( SGK) - Phan Đình Diệu sinh năm 1936 - Quê quán: Trung Lộc- Can Lộc - Hà Tĩnh - Ông là giáo sư, tiến sĩ khoa học ... - Bên cạnh việc nghiên cứu toán học, ông còn viết nhiều bài báo đáng chú ý bàn về vấn đề thuộc các lĩnh vực chính trị, xã hội, văn hoá ... 2. Tác Phẩm : - Tư duy hệ thống - nguồn sức sống mới của đổi mới tư duy thực chất là bản rút gọn của tiểu luận Tư duy hệ thống và đổi mới tư duy( do chính tác giả thực hiện ) - In trong cuốn : Một góc nhìn của trí thức . 3. Nhan đề : - Đổi mới tư duy thực chất là thay thế hệ trình ( hay là mẫu thức ) tư duy cũ bằng hệ hình tư duy mới ; mục đích của đổi mới tư duy là nhận thức đầy đủ hơn về các quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội trên cơ sở những khám phá mới của khoa học . - Tư duy hệ thống một mặt là con đẻ của khoa học hiện đại, mặt khác là chất men thúc đẩy khoa học ngày nay có những bước tiến vượt bậc trong việc nắm bắt cái bí ẩn, phong phú vô tận của thế giới. Do vậy, muốn đổi mới tư duy thì cần phải xây dựng tư duy hệ thống hay phải quán triệt quan điểm hệ thống khi suy nghĩ và hành động. II. ĐỌC - HIỂU 1. Chủ đề của đoạn trích : Khẳng định ưu thế của tư duy hệ thống trong việc tạo ra động lực mới cho công cuộc đổi mới tư duy hiện nay. * Bối cảnh thời đại của lời kêu gọi đổi mới tư duy và xây dựng tư duy hệ thống : - Lời kêu gọi đổi mới tư duy và xây dựng tư duy hệ thống được khởi lên từ bối cảnh một thời đại đạt được nhiều thành tựu to lớn làm đảo lộn không ít quan niệm hiểu biết của chúng ta về tồn tại. - Không chỉ thế, nó còn xuất phát từ một trình độ phát triển mới của khoa học, khiến chính khoa học có thể nhận ra những hạn chế của mình trong việc nắm bắt cái “ bề sâu, bề xa” cái phức tạp đa dạng và phong phú, bí ẩn vô tận của thiên nhiên, cuộc sống. 2. Tư duy cơ giới: a. Khái niệm: Là tư duy một chiều, hiểu bộ phận để hiểu toàn thể (đồng nhất tổng cộng bộ phận với toàn thể), tuyệt đối hóa quy luật nhân quả, tất định luận. b. Những nét tiêu biểu của tư duy cơ giới: - TDCG quan niệm tự nhiên như một bộ máy mà ta có thể nhận thức được bằng phương pháp khoa học, bằng phép suy luận diễn dịch. - TDCG xét đoán sự vật, đối tượng trong các quan hệ nhân quả tất định…. - TDCG thường qui các quan hệ trong thực tế về các dạng đơn giản, có thể biểu diễn được bằng các phương trình tuyến tính với một số ít đại lượng. - TDCG gắn liền với quan điểm phân tích, xem rằng để hiểu toàn thể thì phải hiểu chi tiết từng thành phần. ( người ta thường nói : tư duy máy móc, hiểu máy móc cũng là biểu hiện của TGCG) c. Vận mệnh lịch sử - Tư duy cơ giới bắt nguồn từ nền văn minh Hy lạp cổ đại và được phát triển mạnh mẽ từ thế kỷ XVII. - Tư duy cơ giới từng chiếm vị trí gần như tuyệt đối trong nhiều thế kỷ. - Các phương pháp mà TDCG sử dụng đã giúp khoa học và công nghệ đạt được nhiều thành tựu to lớn. - Sang thế kỷ XX, khoa học gắn liền với TDCG đã tỏ ra bất lực trong việc chiếm lĩnh , lý giải nhiều đối tượng phức tạp trong thực tế như: cấu trúc vật chất ở dưới mức nguyên tử, sự hình tận của thế giới. Do vậy, muốn đổi mới tư duy thì cần phải xây dựng tư duy hệ thống hay phải quán triệt quan điểm hệ thống khi suy nghĩ và hành động. II. ĐỌC - HIỂU 1. Chủ đề của đoạn trích : Khẳng định ưu thế của tư duy hệ thống trong việc tạo ra động lực mới cho công cuộc đổi mới tư duy hiện nay. * Bối cảnh thời đại của lời kêu gọi đổi mới tư duy và xây dựng tư duy hệ thống : - Lời kêu gọi đổi mới tư duy và xây dựng tư duy hệ thống được khởi lên từ bối cảnh một thời đại đạt được nhiều thành tựu to lớn làm đảo lộn không ít quan niệm hiểu biết của chúng ta về tồn tại. - Không chỉ thế, nó còn xuất phát từ một trình độ phát triển mới của khoa học, khiến chính khoa học có thể nhận ra những hạn chế của mình trong việc nắm bắt cái “ bề sâu, bề xa” cái phức tạp đa dạng và phong phú, bí ẩn vô tận của thiên nhiên, cuộc sống. 2. Tư duy cơ giới: a. Khái niệm: Là tư duy một chiều, hiểu bộ phận để hiểu toàn thể (đồng nhất tổng cộng bộ phận với toàn thể), tuyệt đối hóa quy luật nhân quả, tất định luận. b. Những nét tiêu biểu của tư duy cơ giới: - TDCG quan niệm tự nhiên như một bộ máy mà ta có thể nhận thức được bằng phương pháp khoa học, bằng phép suy luận diễn dịch. - TDCG xét đoán sự vật, đối tượng trong các quan hệ nhân quả tất định…. - TDCG thường qui các quan hệ trong thực tế về các dạng đơn giản, có thể biểu diễn được bằng các phương trình tuyến tính với một số ít đại lượng. - TDCG gắn liền với quan điểm phân tích, xem rằng để hiểu toàn thể thì phải hiểu chi tiết từng thành phần. ( người ta thường nói : tư duy máy móc, hiểu máy móc cũng là biểu hiện của TGCG) c. Vận mệnh lịch sử - Tư duy cơ giới bắt nguồn từ nền văn minh Hy lạp cổ đại và được phát triển mạnh mẽ từ thế kỷ XVII. - Tư duy cơ giới từng chiếm vị trí gần như tuyệt đối trong nhiều thế kỷ. - Các phương pháp mà TDCG sử dụng đã giúp khoa học và công nghệ đạt được nhiều thành tựu to lớn. - Sang thế kỷ XX, khoa học gắn liền với TDCG đã tỏ ra bất lực trong việc chiếm lĩnh , lý giải nhiều đối tượng phức tạp trong thực tế như: cấu trúc vật chất ở dưới mức nguyên tử, sự hình tận của thế giới. Do vậy, muốn đổi mới tư duy thì cần phải xây dựng tư duy hệ thống hay phải quán triệt quan điểm hệ thống khi suy nghĩ và hành động. 2. Tư duy hệ thống a. Khái niệm - Tư duy hệ thống là phương pháp tư duy hướng đến mở rộng tầm nhìn để hiểu mối liên hệ tồn tại giữa mọi sự vật, nhận thức được nguyên nhân sâu xa ẩn dưới bề nổi của những hiện tượng tưởng chừng như riêng rẽ. Tư duy hệ thống giúp ta thấy bức tranh chính xác hơn của hiện thực được nhìn từ nhiều góc độ, khuyến khích ta suy nghĩ sâu sắc hơn về vấn đề và đưa ra những giải pháp với tầm nhìn xa rộng và bền vững. Vì vậy, nó đặc biệt cần thiết cho những người làm lãnh đạo, nhất là khi phải đưa ra những quyết định, sách lược quan trọng. - Tư duy hệ thống là tư duy động - nhìn vấn đề dựa trên những kiểu mẫu hành xử (pattern of behaviour) theo thời gian, phi tuyến (tư duy vòng lặp), tập trung vào nguyên nhân, xem nguyên nhân như một quá trình chứ không chỉ là sự kiện chỉ xảy ra một lần, với kết quả phản hồi ảnh hưởng trở lại nguyên nhân và những nguyên nhân ảnh hưởng lẫn nhau. *Tóm lại, tư duy hệ thống là: tư duy toàn thể (holistic thinking), mở rộng sự thấu hiểu về các liên kết tồn tại giữa các hiện tượng, giữa sự vật với môi trường. Để hiểu một sự vật thấu đáo, ta không chỉ chú tâm vào chi tiết mà còn phải cân nhắc đến bối cảnh xung quanh nó ; chú trọng vào mối quan hệ giữa các sự vật hơn là từng vật thể riêng lẻ, khuyến khích tương tác linh động giữa các cấp bậc trong hệ thống ; hiểu rằng muốn thay đổi kết quả, trước hết phải thay đổi tiến trình dẫn đến kết quả, khuyến khích cách quản lý tập trung vào tiến trình hơn là thành quả (liên hệ đến giáo dục, cách đánh giá học sinh qua quá trình học hơn chỉ là điểm số của bài thi cuối cùng );Tư duy hồi quy (backward thinking), kiểm tra giả thuyết, đặt ra những câu hỏi hồi tiếp để đi đến tận cùng vấn đề, đây là công cụ bổ túc cho dự đoán (foresight). Đặt ra kế hoạch dựa trên tầm nhìn lý tưởng tốt nhất về tương lai (không giới hạn khả năng của mình). Từ đó, suy nghĩ ngược lại để xác định những phương thức có tiềm năng dẫn đến kết quả mong muốn đó. Chọn giải pháp thích hợp nhất và tối ưu hóa tất cả những bộ phận, mối quan hệ trong hệ thống theo đó. Chưa dừng lại ở đây, với những thay đổi mới, vòng lặp sẽ tiếp tục được lập lại để kiểm tra, điều chỉnh theo những phản hồi từ hệ thống. Là những hệ thống gồm nhiều bộ phận tương tác với nhau, quy định lẫn nhau tạo ra tính hợp trội, tính trật tự, tính tổ chức, cái toàn thể lớn hơn tổng của cái bộ phận và quy định tính chất của cái bộ phận. b. Đặc điểm nổi bật nhất của tư duy hệ thống: - Đặc điểm nổi bật nhất của tư duy hệ thống là “Nhìn nhận vũ trụ như một toàn thể thống nhất, không thể tách rời, trong đó tất cả các đơn vị cấu thành và các hiện tượng cơ bản sinh ra từ chúng, đều tác động qua lại với nhau, chúng không thể được hiểu như những đơn vị độc lập mà là những phần liên thuộc hữu cơ với nhau của cái toàn thể.” - Tác giả còn nêu rõ những phẩm chất hợp trội của hệ thống : “… chính cái toàn thể xác định tính chất và hoạt động của của những riêng lẻ. Toàn thể không phải là một tổng gộp của các thành phần riêng lẻ, rời rạc mà là một chỉnh thể thống nhất gồm các thành phần tương tác với nhau, chính qua sự tương tác hữu cơ đó, mà toàn thể có những thuộc tính hợp trội, đó là những thuộc tính của toàn thể mà từng thành phần không thể có” Cách lí giải vấn đề của tác giả cho phép ta hiểu thế nào về cái gọi là phẩm chất hợp trội của hệ thống : Là cái được tạo nên bởi sự tương tác giữa tất cả các thành phần tham gia vào hệ thống. Như vậy, thành phần nào cũng có đóng góp phần mình vào phẩm chất hợp trội của toàn thể thông qua sự tương tác với các thành phần khác, và ngược lại , phẩm chất hợp trội sẽ làm tăng giá trị, tăng phẩm chất của từng thành phần một . Phẩm chất hợp trội là thuộc tính của toàn thể, là một hiện tượng siêu tổng cộng chứ không phải là tổng số đơn giản của phẩm chất từng thành phần . - Tg đưa ra hai ví dụ làm rõ: + VD1 : “ Độc lập, thống nhất ….là những thuộc tính hợp trội của một đất nước trong tòan thể, chứ không thể là của một bộ phận nào trong đất nước đó”. + VD2 “ Dân chủ bình đẳng…..là thuộc tính của một xã hội chứ không phải là của từng người riêng lẻ trong xã hội đó. + Ví dụ khác: Muốn tìm hiểu giọng điệu của một bài thơ trữ tình ta không thể chỉ dựa riêng ở một yếu tố cấu thành nào đó mà phải thấy giọng điệu là cái toát ra từ toàn thể tác phẩm. Nghiên cứu cái nhìn nghệ thuật của một nhà văn, việc cần làm là phải chỉ ra được tính hệ thống của thao tác xử lý ngôn từ mà nhà văn đã sử dụng cùng những động cơ ngầm ẩn chi phối nó. Đó tư duy mới, đang thịnh hành hôm nay. *Lưu ý: Tổng gộp >< toàn thể ↓ ↓ Tồn tại : cụ thể Trừu tượng Chính vì toàn thể có hình thức tồn tại như thế nên muốn nắm bắt nó, ta phải sử dụng tư duy hệ thống . Ví dụ : - Tư duy hệ thống khuyến khích chúng ta thấy rừng chứ không chỉ từng cái cây, “see the forest for the trees”. Đứng trong rừng, ta chỉ thấy cây, muốn thấy cả khu rừng ta cần góc nhìn bao quát như từ trên cao xuống. Tương tự, những vấn đề rắc rối mà ta đang mắc kẹt nhiều khi không thể giải quyết bằng chính lối tư duy đã gây ra nó. Những lúc như vậy, ta cứ thư giãn, tĩnh lặng cho tiềm thức hành động, để tư duy của chúng ta được tự do sáng tạo, thoát khỏi lối mòn cũ. - Chúng ta thường dính mắc vào chi tiết, mà quên đi cái toàn thể. Như câu chuyện những thầy bói mù xem voi, người sờ tai voi thì bảo con voi giống như cái quạt, người sờ chân voi bảo nó giống như cột nhà… Nhưng hai nửa con voi không phải là một con voi, một hệ thống sống không chỉ gồm tổng thể các bộ phận của nó. Mỗi hệ thống là một toàn thể thống nhất. c. Tính ưu việt: - Nắm bắt đúng chân lý bởi cái nhìn đa diện, nhiều chiều, biện chứng: thế giới là những hệ thống gồm nhiều bộ phận tương tác với nhau, quy định nhau tạo ra tính hợp trội . - Tính trật tự, tính tổ chức. - Cái toàn thể lớn hơn tổng thể của các bộ phận và quy định tính chất của bộ phận . - Phát huy sự tưởng tượng và mơ mộng của con người. Giúp con người nắm bắt đúng chân lí tìm được con đường hoá giải mọi nguy cơ, thảm hoạ đối với con người . Ví dụ: + sự ra đời của định luật Acsimet, định luật van vật hấp dẫn… + cái hay, cái đẹp của các hiện tượng văn học( trào lưu, tác giả, tác phẩm..) Giải quyết được những vấn đề mà tư duy cơ giới không thể lý giải. . Ví dụ : Từ mấy thế kỷ nay, bằng con đường phân tích ta đã tìm hiểu được khá sâu về thuộc tính của các thành phần như của một hạt cơ bản, một nguyên tử, một phân tử, một tế bào, một nơ-ron,…; nhưng nay đã đến lúc ta không phải chỉ muốn hiểu một vật, một phân tử, một hạt cơ bản, một tế bào, một nơ-ron,…làm gì, mà là cần hiểu hàng nghìn hàng triệu vật như vậy cùng làm gì. 4. TDKH, TDHT với sự tưởng tượng mơ mộng: - TDKH, TDHT rất cần đến sự tưởng tượng mơ mộng. vì đối tượng chính của KHHT là các hệ thống phức tạp trong thiên nhiên và cuộc sống, mà muốn hiểu được điều đó, chỉ dựa vào khoa học không thì chưa đủ, rất cần phải huy động thêm những tri thức mà ta thu nhận được bằng trực cảm, kinh nghiệm .Có khi, bằng trực cảm, bằng mơ mộng và tưởng tượng , ta có thể thấu nhập được vào bản chất của sự vật, hiện tượng, trong khi sự phân tích lí trí phải tạm dừng bước ở cửa ngoài . - Giữa trí thức và tưởng tượng có mối quan hệ chặt chẽ. Chúng bổ sung cho nhau“ càng nhiều tri thức thì càng có thêm trí tưởng tượng và ngược lại càng giàu tưởng tượng mơ mộng thì sẽ nảy sinh nhiều ý tưởng bất ngờ cho sáng tạo khoa học”. - Tg đã đưa ra nhiều chứng minh từ hiện thực cuộc sống: Ác-si-met; L Niutơn; X Móc-Xơ… Đó là một quan điểm mới, chúng ta cần học tập thực hiện. III.Tổng kết - Tư duy hệ thống là nguồn sức sống mới của đổi mới tư duy : + Chúng ta đang bước vào công cuộc đổi mới tư duy nhằm đáp ứng những đòi hỏi của cuộc sống hiện đại, của thời đại, của sự phát triển đất nước . + Tư duy hệ thống với sự hình dung vũ trụ là một toàn thể thống nhất không thể tách rời, là hệ hình tư duy sẽ giúp chúng ta có được một thế nhìn, cách nhìn mới về thế giới và theo đó là phương cách hành động mới mà chúng ta đang cần phải có . đó là lí do chính để ta khẳng định tư duy hệ thống là chất men, là nguồn lực thúc đẩy công cuộc đổi mới tư duy đạt được kếtt quả mong muốn. - Lập luận của bài viết vừa mang cảm hứng khoa học vừa ang cảm hứng chính trị- xã hội rõ nét. CỦNG CỐ - Tư duy hệ thống là nguồn sức sống mới của đổi mới tư duy? Gợi ý: + Đáp ứng yêu cầu của cuộc sống hiện đại, của thời đại, của sự phát triển đất nước. + Giúp chúng ta có thế nhìn, cách nhìn mới về thế giới và qua đó mà hình thành phương cách hành động mới. - Lập bảng so sánh giữa tư duy cơ giới và tư duy hệ thống. DẶN DÒ - Làm bài tập nâng cao trong SGK. - Chuẩn bị bài mới “Luyện tập về phong cách ngôn ngữ khoa học”.
|
|
|
|
giải đáp
|
Phân tích bài: "Con đường trở thành kẻ sĩ hiện đại"
|
|
|
|
Trong thờTác phẩm của Nguyễn Khắc Việni đại ngày nay, việc tự mỗi người phải xây dựng được một nguyên tắc ứng xử thích hợp để tu dưỡng, hoàn thiện mình và để đóng góp nhiều cho đất nước, cho xã hội là một việc làm cần thiết. Là nhà văn hóa nổi tiếng, một người đã hoạt động hết mình trong việc làm cho thế giới hiểu đúng về đất nước và con người Việt Nam văn minh, dân chủ, tác giả Nguyễn Khắc Viện đã đưa ra chủ kiến rõ ràng, một cách lập luận khúc chiết, vừa có lí vừa có tình trong bài Con đường trở thành kẻ sĩ hiện đại trích từ "Noi theo đạo nhà" trong cuốnBàn về đạo Nho của ông. Bài văn đã đặt ra vấn đề về con đường tu dưỡng và những yếu tố cơ bản làm nên phẩm chất của một trí thức chân chính trong thời đại ngày nay. Hệ tư tưởng Nho giáo là một hệ tư tưởng phong phú, phức tạp, được tiếp cận từ nhiều góc nhìn khác nhau. Bài văn của tác giả Nguyễn Khắc Viện trình bày xoay quanh vấn đề đạo lí, việc tu dưỡng đạo đức cá nhân. Vì thế, góc nhìn Nho giáo của tác giả mang một ý nghĩa mới. Có thể coi bài văn "Con đường trở thành kẻ sĩ hiện đại" là một áng văn nghị luận sắc sảo, có kèm theo những mảnh hồi ức, nhưng không phải là hồi kí văn học, được viết ra với mục đích chính luận khá rõ ràng. Như vậy, dưới góc tiếp cận một áng văn nghị luận mang mục đích chính luận rõ ràng, chúng tôi định hướng tiếp cận bài văn theo các ý cơ bản sau: - Bố cục. - Cách thức lập luận. - Văn phong, ngôn ngữ diễn đạt. Về bố cục, mạch lạc: Bài văn có thể chia thành hai phần lớn: Phần 1: từ đầu đến "con người trưởng thành" Phần 2: phần còn lại. Phần 1 nói về những ưu điểm của Nho giáo, phần 2 chủ yếu đề cập đến sự tu dưỡng của bản thân cũng như các bài học cụ thể được rút ra. Từ đây, mỗi vấn đề được nêu ra trong từng phần tiếp tục được tác giả làm sáng tỏ. Về cách thức lập luận: Lập luận là việc tổ chức trình bày ý kiến, luận điểm sao cho sáng rõ, nổi bật và thuyết phục. Cách lập luận trong bài văn nghị luận thể hiện ở nhiều cấp độ. Lập luận chặt chẽ, sắc sảo, thuyết phục thường biểu hiện qua cách sắp xếp, phối hợp các luận cứ (các lí lẽ, dẫn chứng) nhằm thuyết minh cho luận điểm. Trong bài văn, tác giả đã thể hiện rõ sự linh hoạt, đa dạng trong cách lập luận. Tác giả thường kết hợp nhiều cách lập luận như so sánh, tăng cấp, đối thoại, đối lập, liên tưởng... để chỉ rõ những ưu thế nổi bật của Nho giáo về đạo lí và những chủ kiến của riêng tác giả về con đường của "kẻ sĩ hiện đại". - So sánh, đối lập: "Phân tích xã hội, để hiểu rõ lịch sử, xác định đường lối thì chủ nghĩa Mác hơn hẳn, nhưng Mác trong đạo lí không được nổi bật và cụ thể như trong Nho giáo". "Khi học về các nhà văn Pháp, như Raxin, Huygô chỉ chú ý đến tác phẩm và lời văn. Nhưng khi học về Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Ngô Thì Nhậm, Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu,... chủ yếu là nhớ đến những con người, những thân phận, những con người mà xã hội xưa gọi là nho sĩ". - Đối thoại, đối lập: "Nhân việc Viện Hàn lâm Pháp tặng giải thưởng năm 1992, có người chê trách tôi đã từng thay đổi ý kiến nhiều lần. Đúng, thời thế biến chuyển, tôi có thể thay đổi chính kiến, nhưng không thể thay đổi đạo lí. Đã gọi là đạo lí, không thể xa rời dù là chốc lát. Không vì giàu sang mà sa đọa, không vì nghèo khó mà xa rời, không khuất phục trước uy quyền, thời buổi nào cũng giữ được đường đi". "Nhờ tư liệu phong phú, phương pháp phân tích xác đáng, họ đi sâu vào nhiều điểm còn hơn Nho sĩ của ta. Nhưng đọc sách vở của họ, vẫn thấy thiếu một cái gì, họ vẫn đứng ngoài mà nhìn vào, hiểu được học thuyết triết lí mà không nắm, không thấm được đạo lí. Họ thiếu cả một chiều dày truyền thống. - Đối thoại, so sánh, tăng cấp: "Tôi thích câu chuyện của Hứa Do nghe phái viên của nhà vua lần thứ hai đến mời ra làm quan, liền bỏ đi rửa tai, bảo là rửa sạch những điều dơ bẩn. Nhưng thích hơn cả là chuyện một nhà nho được vua gọi lên, bảo: "Nhà vua nên đến thăm tôi hơn là tôi đến thăm nhà vua". Vua hỏi vì sao - "Vì nếu tôi đến thì tôi mang tiếng là nịnh vua, còn vua đến tôi thì vua được tiếng là tôn trọng người hiền, quí kẻ sĩ (tức trí thức)". Như vậy, hệ thống lập luận của tác giả rất chặt chẽ và giàu sức tác động thuyết phục, tập trung làm nổi bật chủ đề, thể hiện một tinh thần đối thoại bình đẳng, thẳng thắn. Tác giả đưa ra các chủ kiến riêng, độc lập trên cơ sở phân tích các lí lẽ, dẫn chứng một cách duy lí, khoa học. Qua đó, cốt cách của "kẻ sĩ hiện đại" Nguyễn Khắc Viện đã biểu lộ rõ: + Một con người thấm nhuần truyền thống đạo lí Nho gia, nên biết rút tỉa tinh hoa của nó kết hợp với tinh hoa của nhiều học thuyết khác để xác định tư thế, cách thức dấn thân, hành xử của mình. + Một con người thẳng thắn, tự tin bày tỏ chủ kiến một cách chặt chẽ, khoa học. + Một con người luôn đề cao bản lĩnh ứng xử khẳng khái, tự tin của các nhà Nho với vua chúa và với hoàn cảnh, thời thế. Về văn phong, ngôn ngữ: Trong bài văn, tác giả Nguyễn Khắc Viện đã thể hiện tài năng của một cây bút báo chí lão luyện với lối viết giản dị, trong sáng mà cứng cỏi, mạnh mẽ. Ngôn ngữ khúc chiết, hàm súc, giàu sức biểu cảm. Câu văn được sử dụng rất linh hoạt, có nhiều câu văn rút gọn chủ ngữ. Chẳng hạn: "Không nhìn lên trời, không nghĩ đến những gì xảy ra khi chết, không thấy cần thiết biết có thần linh hay không có, không tìm tuyệt đối, không mong trở về với Chúa, thoát khỏi vòng luân hồi, chỉ mong làm con người cho ra con người". "Phải thông qua phong cách và thân phận của một ông bố mới hiểu thấu sách của Khổng Mạnh". "Khi học về các nhà văn Pháp, như Raxin, Huygô chỉ chú ý đến tác phẩm và lời văn. Nhưng khi học về Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Ngô Thì Nhậm, Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu,... chủ yếu là nhớ đến những con người, những thân phận, những con người mà xã hội xưa gọi là nho sĩ". Cách diễn đạt này ít nhiều đã thể hiện tính khách quan trong lập luận, tránh việc phô diễn, tô vẽ cái "tôi" một cách thái quá. Kể chuyện riêng của mình, nêu chủ kiến của mình nhưng không có ý áp đặt mà muốn khẳng định sự cần thiết của việc nêu ví dụ về con đường phấn đấu. Khi tước bỏ đại từ "tôi" làm chủ ngữ chỉ chủ thể của câu nói, tác giả muốn hướng thẳng tới đối tượng, phá bỏ khoảng cách giữa người viết với người tiếp nhận. Bằng cách này, độc giả có thể thâm nhập ngay vào cốt lõi của vấn đề nghị luận. Cũng có khi tác giả sử dụng các câu hàm ý khẳng định, nhấn mạnh: "Có tự kiềm chế, khắc kỉ, khép mình vào lễ nghĩa mới nên người. Có mở rộng tầm nhìn, lấy văn mà tô đẹp mới thành người. Có gắn bó với người khác thì mới thật là người. Có thấu hiểu bản thân, tri thiên mệnh mới là con người trưởng thành". "Có thể liên minh chính trị với quỷ, chỉ kết bạn với người có "đạo", dù là "đạo" khác. Liên minh chỉ nhất thời, nghĩa bạn là lâu dài. Nhìn chung, tác giả đã có một cách nhìn duy lí, thấu suốt về vấn đề, có tinh thần tự chủ cao độ, hiểu và nêu rõ những việc mình cần làm và phải làm. Tác giả chọn cách viết thẳng thắn, không hề né tránh đối thoại với những chê trách mình, thậm chí trái ngược với những quan điểm của mình. Thậm chí, tác giả cũng thừa nhận chính mình cũng thay đổi chính kiến. Từ đó, chân dung của một kẻ sĩ thấm nhuần đạo lí Nho gia, tiếp thu tinh thần duy lí của phương Tây và dấu ấn một cái tôi rất cá tính của một "ông đồ Nghệ" thể hiện rất đậm nét. Nguyễn Khắc Viện là người có đầy đủ thẩm quyền để luận về con đường trở thành "kẻ sĩ hiện đại". Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Tóm tắt "Đám tang lão Gô - ri - ô"
|
|
|
|
"LÃO GÔRIÔ":
("Le père Goriot"), tiểu thuyết (1834 - 35) của nhà văn Pháp Banzăc Ô. (H. de Balzac), trong "Tấn trò đời", phần "Khảo cứu phong tục"."LG" là tác phẩm nói về thế lực của đồng tiền trong xã hội tư bản. Lão Gôriô (Goriot) là một nhà tư sản mới nổi lên thời Cách mạng 1789, nhưng vì con mà sa sút, phải đến sống trong nhà trọ của mụ Vôkê (Vauquer) ở ngoại vi Pari. Lão có hai cô con gái mà lão hết sức yêu chiều, chịu bỏ hết tiền của để kiếm cho con những ông chồng sang trọng, danh giá. Cô chị Araxtadi trở thành bá tước phu nhân, cô em Đenphin cũng lấy được một ông chủ ngân hàng. Nhưng hai cô chỉ xem lão như con bò để vắt sữa. Lão hết tiền là chúng không đoái hoài gì đến lão nữa. Lão ốm nặng chúng không thăm hỏi; lão chết cũng không dự đám tang. Xen vào chuyện của lão Gôriô còn có chuyện của Raxtinhăc (Rastignac), dòng dõi quý tộc tỉnh lẻ, lên Pari học, cũng ở trong nhà trọ của mụ Vôke, và cũng bị xã hội tư sản làm biến chất. Từ một thanh niên nghèo, trong trắng, y hư hỏng dần, ăn chơi đàng điếm, tìm mọi cách để có tiền và có địa vị trong xã hội thượng lưu. Trong tác phẩm "LG", Raxtinhăc chưa hoàn toàn xấu, chính y đã cứu giúp lão Gôriô, cùng bạn góp tiền chôn cất lão. Nhân vật này còn xuất hiện trong nhiều tác phẩm khác của Banzăc và lúc bấy giờ mới thật sự biến chất, trở thành con người đê tiện, độc ác.
|
|
|
|
giải đáp
|
Phân tích "Đám tang lão Gô - ri - ô"
|
|
|
|
1. Đoạn trích Đám tang lão Gô-ri-ô được kể theo trật tự thời gian:
- Đám tang từ quán trọ bà Vô-ke đến nhà thờ thánh Ê-chiên-đuy-mông. - Cuộc hành lễ tại nhà thờ. - Đám tang từ nhà thờ đến nghĩa trang Cha La-se-đơ. - Ra-xti-nhắc còn lại một mình sau khi chôn cất xong.
Có thể chia đoạn trích ra làm hai phần:
a. Từ đầu đến..."đã năm giờ rưỡi rồi": Buổi lễ câu hồn dành cho kẻ nghèo khó quá sơ sài và chóng vánh. b. Phân còn lại: việc con gái không đến dự lễ chôn cất Gô-ri-ô khiến Ra-xti-nhắc đau lòng.
2. Những dụng ý nghệ thuật của nhà văn nhằm khắc họa số phận thảm hại của lão Gô-ri-ô:
Do đặc điểm của bút pháp hiện thực, đám tang lão Gô-ri-ô được Banzắc đặt vào một không gian thời gian xác định. Trước tiên là cảnh quán trọ, nơi đặt quan tài của ông bố tội nghiệp này: Chiếc quan tài với một tấm khăn đen phủ chưa kín...một cây ngù rẩy nước phép thô kệch...thậm chí khuôn cửa cũng chẳng được căng màn đen. Sau đó, nhà văn đưa người đọc sang một không gian khác cũng chẳng lấy gì sáng sủa hơn. Đó là nhà thờ Thánh Ê-chiên-đuy-mông, một giáo đường "nhỏ thấp và tối". Sau cùng là nghĩa địa Cha La-se-dơ vùng ngoại ô, lại cũng trong một quang cảnh tương tự: ngày tàn, không khí ẩm ướt, lạnh lẽo, một quang cảnh rầu rĩ, thê thảm.
Đã thế, nghi lễ ma chay lại vội vàng qua quýt, nghi lễ trong nhà thờ hết hai mươi phút, giờ đưa ra nghĩa địa là năm giờ rưỡi, sáu giờ rưỡi hạ huyệt. Nhà văn nêu sự chính xác về thời gian đến từng phút một. Mọi công việc thật chóng vánh đơn sơ: hát một bài thánh thi, bài kinh siêu độ, bài kinh cầu hồn và bài kinh đọc lúc hạ huyệt ngắn ngủi, đọc xong là nhà đạo biến ngay.
Nhưng bi đát, thảm hại và đau đớn hơn cả cho số phận ông bố tội nghiệp này là đám táng ông không có người đưa đám. Một người cha tử tế và đứng đắn chưa bao giờ to tiếng, không hề làm hại ai và chưa từng làm điều gì nên tội ấy lúc nằm xuống lại chẳng một ai thân thích kề bên kể cả hai cô con gái yêu quý của mình.
3. Chứng minh tình người bạc bẽo bị chi phối bởi đồng tiền:
Trong đoạn văn này, bao nhân vật bị đồng tiền làm biến chất đi. Hầu hết họ hành động chỉ vì tiền. Từ hai vị linh mục, chú bé hát lễ và những người bõ nhà thờ đến những người phu đào huyệt, bọn gia nhân của hai cô con gái lão Gô-ri-ô...đều như vậy.
Các vị linh mục làm các thủ tục nghi lễ thật chóng vánh, đơn sơ chỉ vì nghi lễ xứng với giá bảy mươi quan trong một thời kỳ mà tôn giáo không lấy gì làm giàu để cầu kinh làm phúc. Hai gã đào huyệt hốt được vài xẻng đất xuống che lấy chiếc áo quan đã vội ngừng tay lại để đòi tiền.
Hai ông con rể quý tộc trước đó có cử đến hai chiếc xe gia huy nhưng không có người ngồi. Hai cỗ xe không này chỉ làm tăng thêm nỗi chua xót, đau đớn của người đã khuất. Đó vừa là sự có mặt vừa là sự vắng mặt của hai cặp vợ chồng Đơ Re-xtôi và Đơ Nuy-xin-ghen nhưng chủ yếu là của hai bà vợ và cũng là hai cô con gái của người xấu số. Hai cô này và gia đình đều biết chuyện bố mất, nhưng đều "bận" không đến được và không hẹn mà nên việc cả hai cùng cử hai chiếc xe đại diện đến thay, không người, không tiền bạc.
Thà không có hai cỗ xe không ấy, vong hồn người xấu số còn đỡ buồn tủi hơn. Chi tiết "hai cỗ xe không" thể hiện sự nhẫn tâm vô bờ của con người trong quan hệ ruột thịt.
4. Ra-xti-nhắc là một sinh viên tuy nghèo tiền nhưng giàu lòng nhân ái. Anh sống cùng quán trọ với lão Gô-ri-ô nên biết rõ ràng, thấu đáo về sự giàu sang cũng như sự nhẫn tâm của các cô con gái của lão và tình yêu thương con cũng như sự xấu hổ không may mắn của lão. Khi lão Gô-ri-ô mất, Ra-xti-nhắc một mình chạy đến báo tin cho các cô con gái, tự anh đưa quan tài lão đi chôn cất và tự trả tiền mọi thứ trước sự nhẫn tâm của những đứa con, sự lạnh lùng sòng phẳng của thiên hạ. Anh rỏ những giọt nước mắt xúc động thiêng liêng của một trái tim trong trắng vì người chết mặc dù đấy là những giọt nước mắt cuối cùng của thời trai trẻ: "Ngày tàn, một buổi hoàng hôn ẩm ướt kích thích thần kinh. Chàng nhìn ngôi mộ vùi xuống đấy, giọt nước mắt cuối cùng của thời trai trẻ, giọt nước mắt trào ra vì những mối xúc động thiêng liêng của một trái tim trong trắng". "Thứ nước mắt rơi xuống mặt đất rồi từ đó lại vút đến trời cao".
Như đã nói ở đây là những giọt nước mắt trong trắng cuối cùng của Ra-xti-nhắc. Anh sinh viên nghèo này phải chăng không chỉ khóc cho lão Gô-ri-ô mà còn khóc cho cả thế giới, cái thế giới khốn khổ đang bị đảo điên bởi thế lực đồng tiền. Sau đó, không thể nào khác hơn được Ra-xti-nhắc, anh sinh viên tỉnh lẻ kia đã tuyên chiến với cuộc đời nhìn về phía đô thành Pari và nói: "Bây giờ chỉ còn mày với ta". Từ nay, anh sẵn sàng làm tất cả để được giàu sang.
|
|
|
|
giải đáp
|
Phân tích "Cảm hoài"
|
|
|
|
Một triều đình yếu kém, mục ruỗng, kết quả là quốc gia rơi vào vòng nô lệ. Ngọn cờ nghĩa khí phất lên từ trại Trùng Quang cũng không giành lại được cơ đồ . Là một anh hùng thất thế thời ấy , trước lúc ra đi , Đặng Dung đã để lại một nỗi " cảm hoài " .
" Thế sự du du nại lão hà Vô cùng thiên địa nhập hàm ca "
Có phải đó là tiếng thở dài của một người anh hùng thất thế ? " Việc đời trôi mãi nhưng ta đã già rồi " ! Với một cuộc đời chìm nổi, va chạm với rất nhiều thử thách vậy mà bây giờ Đặng Dung phải bó gối ngồi nhìn " thế sự du du " , làm sao tránh được nỗi sầu vạn cổ ? Trong câu hát nghêu ngao của người anh hùng thất thế là cả một nỗi hoài cảm mênh mang " vô cùng thiên địa " ! Vận khứ , tiệc tàn nhưng mối sầu còn mãi với ngàn thu . Giới thiệu mối " cảm hoài " , hai câu đề đã ôm trùm vũ trụ . Một chút đại ngôn cho ta hiểu chí anh hùng . Theo bố cục cổ điển của một bài thất ngôn bát cú thì hai câu tiếp theo phải là câu thực . Thế nhưng "thời lai đồ điếu thành công dị / Vận khứ anh hùng ẩm hận đa " lại được sinh ra dưới hình hài của hai câu luận - đó là một cách nhìn nhận đánh giá sự thành bại ở đời. Đôi khi, ở những bài thơ thất ngôn bát cú, hai câu luận lại mang nét thực . Đó là khi sự kiện đến ồ ạt , dồn dập khiến ta không còn thời gian để mà bàn luận nữa .Chẳng biết đây có phải là bài thơ duy nhất trong văn học Việt Nam có hai câu thực mang nét luận hay không ? Việc đã theo dòng trôi xa , Đặng Dung có đủ độ lùi để uống cạn niềm cay đắng. Ta hình dung ông như một con người ngồi lại bên dòng chảy cuộc đời mà trầm mặc suy ngẫm. Kẻ "đồ" , "điếu' mà ông nói đến trong câu thơ trên là Hàn Tín và Khương Tử Nha, hai anh hùng nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc. Xuất thân từ những kẻ bần hàn , họ vẫn có thể dựng nên công nghiệp, có thể đem tài trí của mình để mộng bá đồ vương. Còn ông xuất thân từ một gia đình danh tướng thì sao?... Cọp chết để da... Đặng Dung ơi ! Tiếng thơm của người anh hùng còn vang mãi . Chẳng phải "lạc nước hai xe đành bỏ phí' ông cho rằng "vận' của mình đã 'khứ'. Thời thế giờ đây không giúp kẻ anh hùng. Ông cay đắng thừa nhận mình bất lực , dẫu không là một kẻ bất tài : " Trí chủ hữu hoài phù địa trục Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà'
Ta cảm thấy choáng ngợp trước hình ảnh thơ to lớn, kì vĩ. Không có sức mạnh như Hercules của thần thoại Hy Lạp, Đặng Dung vẫn muốn nâng trục đất để giúp vua, giúp nước... Nhà Trần đã đi qua nhưng hào khí của một thời lịch sử kiêu hùng còn bừng cháy trong ông. Lòng yêu nước thương dân của ông đã được thể hiện rất rõ qua câu thơ " tẩy binh vô lộ vãn thiên hà " . Ông muốn tẩy binh. Vâng! Rửa áo giáp của một cuộc chiên tranh tàn khốc. Dù biết sẽ rất khó khăn, ông phải rửa nhữg giọt máu của bao sinh linh còn vương trên áo, rửa đi dấu vết của bụi đường trong ngàn dặm chinh an. Với tấm lòng của một người yêu nước, ông sẵn sàng làm điều đó, ông chỉ muốn vươn tới một nền hòa bình thực sự. Nhưng tiếc thay! Nhịp chùng của bài thơ đã tới, "Vô lộ vãn thiên hà". Chỉ có thiên hà mới gột được giáp binh. Nhưng "thiên hà", con sông rộng lớn với muôn vàn tinh tú, chỉ tồn tại trên bầu trời hoặc trong giấc mơ của những người mang chí lớn mà thôi. Mãi đến lúc ra đi ông vẫn mong tìm cho bằng được đường khai thông thiên hà xuống trần gian, cho nền hòa bình, độc lập trở về cùng đất Việt. "Quốc thù vị báo đầu tiên bạch Kỷ độ long tuyền đái nguyệt ma".
Còn gì buồn hơn cho kẻ anh hùng khi nghiệp lớn của cuộc đời dang dở ? Tuổi xanh qua đi, quốc thù còn đó - ta cứ ngỡ bài thơ khép lại trong một tiếng thở dài. "Kỷ độ long tuyền đái nguyệt ma" - câu thơ cuối đã xóa đi những suy diễn tầm thường đó, nó ánh lên một nỗi tự hào, như vầng hào quang của thanh gươm quý ngời lên giữa đêm trăng. Tuổi già, đầu bạc, vận đã qua rồi nhưng người nghĩa sĩ mấy độ mài gươm không có điều gì phải hộ thẹn với đời, dẫu lòng mang bao tiếc nuối. Thanh gươm mà ông từng mài trong đêm trăng ấy có một nét nào đó giống ngọn giáo mà Phạm Ngũ Lão đã từng trấn giữ núi sông. Thanh gươm ấy, hy vọng rằng Đặng Dung vẫn giắt bên hông khi lao mình xuống sông để không lọt vào tay giặc. Trải qua hơn nửa thiên niên kỷ, "Cảm Hoài" vẫn đứng đấy sừng sững, tượng trưng cho một ý chí Việt Nam. Dù bất lực trước cuộc đời, những câu thơ của Đặng Dung vẫn hằn lên những nỗi niềm to lớn, hình như sĩ khí của một đời cầm gươm đã ám ảnh từng câu chữ - "Phi hào kiệt chi sĩ bất năng". Nhà Hồ tan rã là một điều tất yếu nhưng lịch sử lại có thêm tên tuổi Đặng Dung và văn học Việt Nam mãi khắc ghi một mối "Cảm Hoài".
|
|
|
|
giải đáp
|
soạn bài "Cảm hoài"
|
|
|
|
1. Tác giảĐặng Dung (? – 1414) người huyện Thiên Lộc (nay là huyện Can Lộc), tỉnh Hà Tĩnh, con tướng quân Đặng Tất. Ông từng tham gia đánh quân Minh lớn nhỏ hơn trăm trận chưa từng nhụt khí. Năm 1414, Đặng Dung bị giặc Minh bắt đưa sang Trung Quốc, dọc đường ông nhảy xuống sông tự tử. Sáng tác của Đặng Dung chỉ còn lại bài thơ Nỗi lòng, bài thơ từng được Tử Tấn (đời Lê) đánh giá : “phi kẻ sĩ hào kiệt thì không làm nổi”. Thơ ông toát lên vẻ đẹp bi tráng của bậc anh hùng. 2. Tác phẩmBài thơ này được làm theo thể thất ngôn bát cú Đường luật. Mỗi bài thất ngôn bát cú gồm tám câu, mỗi câu bảy chữ ; toàn bài chỉ gieo một vần và thường là vần bằng, gieo ở chữ cuối ; trừ hai câu đầu và hai câu cuối không nhất thiết đối nhau, bốn câu giữa đối với nhau từng cặp ; toàn bài chia làm bốn liên, mỗi liên gồm hai câu kề nhau, trong mỗi liên bằng trắc hai câu đối nhau, chữ thứ hai, bốn, sáu của câu hai ở liên trên và chữ thứ hai, bốn, sáu của câu thứ nhất của liên dưới bằng trắc giống nhau tức là niêm. Cảm hoài là nhan đề thường gặp trong thơ cổ dùng để biểu lộ cảm xúc, hoài bão. Cảm hoài là có cảm xúc trong lòng, tức nỗi lòng. Trong Tây sương kí có câu : "Tri âm giả phương tâm tự đổng, cảm hoài giả đoạn trường bi thống", nghĩa là "Kẻ tri âm lòng thơm tự hiểu, kẻ cảm hoài đứt ruột xót đau". Do vậy thi đề cảm hoài thường nói việc oán hận, bi thương. Bài thơ này làm vào lúc Đặng Dung ra sức tận tuỵ phù rập nhà Trần, đánh giặc cứu nước, nhưng vận nhà Trần đã tàn, cơ đồ đang đổ, khó lòng xoay chuyển. Cảm hoài là một bài thơ giãi bày gan ruột. (Trần Đình Sử, Đọc văn học văn, NXB Giáo dục, 2001) 3. Đọc hiểuCó thể dựa vào bố cục chung của bài thất ngôn bát cú nói trên để phân tích bài thơ Nỗi lòng. Bài thơ này được làm theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, gồm bốn phần : đề, thực, luận, kết. Trong hai câu đề, câu thứ nhất là phá đề, mở ra ý của bài thơ ; câu thứ hai là thừa đề, tiếp ý của phá đề để chuyển vào thân bài. Hai câu thực giải thích ý của đề bài. Hai câu luận phát triển rộng ý của đề bài. Hai câu kết kết thúc ý của toàn bài. 3.1. Ngay từ hai câu đầu bài thơ, một tình thế bi kịch đã được nêu lên :
Việc thế lôi thôi tuổi tác này, Mênh mông trời đất hát và say.
Việc đời còn rối bời, mờ mịt mà người thì đã già, biết làm sao ! Mâu thuẫn không thể giải quyết ấy là nguyên nhân dẫn đến tình thế bi kịch. Bi kịch lực bất tòng tâm. Nỗi buồn vì tuổi tác này còn được nhắc lại trong câu 7 : Quốc thù chưa trả già sao vội, đủ thấy đây là nỗi ám ảnh của nhà thơ. Hơn nữa, vũ trụ đang say sưa, mê mải, đắm chìm (hàm ca là đắm đuối vào chuyện uống rượu và ca múa) trong cuộc vần xoay muôn thuở của nó, như quay lưng lại với thế sự và con người : Mênh mông trời đất hát và say. Tình cảnh ấy khiến người anh hùng càng trở nên cô độc. 3.2. Từ tình thế bi kịch đã được nêu ra ở hai câu đầu, hai câu tiếp theo nêu lên cụ thể hơn nỗi niềm thời thế với tâm trạng oán hận của tác giả :
Gặp thời đồ điếu thừa nên việc, Lỡ vận anh hùng luống nuốt cay.
Nổi bật trong hai câu thơ này là sự đối lập giữa đồ điếu và anh hùng. Đồ điếu nghĩa là mổ thịt, câu cá ; tác giả có ý ám chỉ Phàn Khoái bán thịt chó và Hàn Tín câu cá sau giúp Hán Cao Tổ làm nên sự nghiệp lớn. Tác giả đối lập đồ điếu và anh hùng không phải nhằm xem thường, coi Phàn Khoái và Hàn Tín là bất tài mà chủ yếu để bày tỏ cảm khái thời vận lỡ dở. Bi kịch của một vị tướng già trở nên sâu sắc, thấm thía là bởi nó mang tính phổ quát nhân sinh. 3.3. Tình thế bất lực, cảm giác bi kịch được tiếp tục trong những hình ảnh khoáng đạt, đượm màu bi tráng ở hai câu 5 – 6 :Trí chủ hữu hoài phù địa trục, (Giúp chúa những lăm giằng cốt đất) Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà. (Rửa đòng không thể vén sông mây)
Về hai câu này, GS Trần Đình Sử cho rằng : “Trí chủ” là báo đáp ơn vua. “Phù địa trục” là nâng đỡ trục đất, ý nói nâng đỡ giang sơn đang nghiêng đổ. “Tẩy binh” có nghĩa là xuất binh gặp mưa. Vũ Vương xuất binh phạt Trụ gặp mưa, có người cho là không lợi, nhưng Vũ Vương nói Trời giúp rửa binh khí, có thể xuất chinh. “Tẩy binh” cũng có nghĩa là rửa binh khí để cất đi, ý nói đình chiến. Lúc này Đặng Dung đang đem quân đánh quân xâm lược Minh tham tàn, bạo ngược, chưa phải lúc đình chiến, cho nên chỉ hiểu theo nghĩa thứ nhất. Nhiều sách giải thích câu thơ này là muốn đem lại hoà bình cho đất nước mà không được, e không hợp. Bởi vì tại câu kết bài thơ tác giả vẫn mài gươm dưới trăng để đánh giặc, chứ đâu phải để cất gươm vào kho ! Cho nên câu này nên hiểu : Không có cách gì kéo sông Ngân hà xuống để rửa giáp binh mà làm cuộc xuất chinh. Mặc dù hình ảnh “kéo sông thiên hà” là lấy từ bài Tẩy binh mã của Đỗ Phủ, nhằm rửa binh khí để cất đi không dùng nữa, nhưng ở đây Đặng Dung đã vận dụng sáng tạo thể hiện ý rửa binh khí để ra trận. Hai câu trong bài Tẩy binh mã của Đỗ Phủ : An đắc tráng sĩ vãn thiên hà, Tận tẩy giáp binh trường bất dụng. (Ước gì có tráng sĩ kéo nước sông Ngân xuống, Rửa sạch khí giới, mãi mãi không dùng nữa)
3.4. Mặc dù trong tình thế bi kịch, thế sự bời bời, bản thân lại chưa tìm được hướng đi, song đến cuối bài thơ, tác giả đã thể hiện chí khí quật cường và tinh thần kiên trì chiến đấu :Quốc thù chưa trả già sao vội, Dưới nguyệt mài gươm đã bấy chầy.Hình ảnh vị tướng đầu bạc với mối thù nước đau đáu trong lòng, nung nấu mài kiếm dưới trăng bao phen là hình ảnh mang vẻ đẹp bi hùng, giàu tính biểu tượng. Vẫn không ra ngoài cảm giác bi kịch, trong khi mối thù nước chưa trả đang thôi thúc thì tuổi đã cao, sức lực không còn sung mãn, tâm ấy với lực ấy trong một con người sinh ra bi kịch, nhưng cũng tâm ấy lực ấy mà toát lên vẻ đẹp của chí khí, sự bền bỉ, nhiệt huyết anh hùng, vẻ sáng láng của kẻ lỡ vận, âm thầm mà tâm tráng. 3.5. Anh hùng có làm nên sự nghiệp lớn hay không còn tuỳ thuộc vào thời vận. Đó là quan niệm của người xưa về thành bại của những kẻ có tài năng và chí khí hơn người. Anh hùng có thể xoay chuyển thời thế, nhưng thời thế cũng tạo nên anh hùng. Lỡ vận nên thất bại là mối hận của nhiều bậc anh hùng bao đời. Đặng Dung viết “Vận khứ anh hùng ẩm hận đa” cũng là tỏ lòng mình, một bậc anh hùng lỡ vận đành ôm hận trong lòng. Với những hình ảnh có sức diễn tả mạnh mẽ tình cảm, khát vọng, bài thơ Nỗi lòng thể hiện tấn kịch bi tráng của người anh hùng.
|
|
|
|
giải đáp
|
Cảm nhận "Tì bà hành"
|
|
|
|
Bạch Cư Dị, tự Lạc Thiên, hiệu Hương Sơn Cư Sĩ, người Thiểm Tây, có bản chất thông minh từ nhỏ, năm 6 tuổi đã bắt đầu học làm thơ. Ông đã lớn lên trong một bối cảnh lịch sử triền miên khói lửa binh đao, nên ông gần gũi và thông cảm với nỗi khốn khổ, nghèo khó và cảnh cơ hàn cay đắng của tầng lớp lao động do vương triều phong kiến gây ra, cũng như ông đã đồng tình với niềm ước vọng và phẫn uất của người dân lao động. Những sự cảm thụ đó đã ảnh hưởng rất nhiều đến sự nghiệp thi ca của ông. Bạch Cư Dị đỗ tiến sĩ năm 20 tuổi, được bổ làm quan trong triều đình giữ chức Tả thập di. Ông đã sống trong một thời kỳ đen tối, lúc mà xã hội Trung Quốc đang trên con đường suy thoái, những mâu thuẫn của các phe cánh thống trị trong triều đình khó hàn gắn được. Với bản tính trung thực dám nói thẳng (dù với tinh thần tôn quân), ông đã dám phê phán gay gắt và can đảm đấu tranh cho chính nghĩa, nên ông đã làm mất lòng vua và các quan đại thần. Nhiều kẻ nịnh thần căm ghét, dèm pha, và hạch tội ông. Ông bị giáng chức làm tư mã Giang Châu (815-818), là một chức vị nhàn rỗi, không có công việc gì làm, mang một tâm sự buồn bã chán ngán thế thái nhân tình. Trong thời gian nầy ông sống trong một mái nhà tranh bên ngôi chùa, và dành nhiều thì giờ để tu tiên học đạo. Bài thơ nổi tiếng Tỳ Bà Hành của ông đã được sáng tác trong giai đoạn nầy, được phổ biến rộng rãi trong quần chúng bình dân và được xã hội đón tiếp thưởng thức quí trọng. Đó là bài thơ mang khía cạnh nhân sinh, xã hội, hiện thực đã được truyền tụng trong nhân gian, gắn liền với tên tuổi của nhà thơ. Trên bước đường phiêu bạt, ông đã thấy nhiều khách thập phương yêu thơ ông đã ghi chép lại những bài thơ trên bờ tường của trường làng, chùa chiền, quán trọ, quán rượu, cũng như dán trên mui thuyền và những hội quán thi phú, tập văn của các nho sinh. Ông rất vui sướng, lạc quan tin rằng thơ ông gần gũi với dân chúng và được nhiều người quí trọng và ưa thích. Bạch Cư Dị đại diện cho dòng thơ hiện thực phê phán vì khi ông đã phải sống qua một giai đoạn lịch sử đen tối của chế độ quan liêu phong kiến đồi trụy, Bạch Cư Dị đã dùng thi ca với những lời lẽ giản dị thành thực để mạnh dạn đấu tranh và tố cáo những hành vi áp bức, những bất công trong xã hội, cũng như sự bóc lột của bọn quan lại quý tộc. Thơ của ông phản ảnh được nỗi lòng uất nghẹn và nỗi trầm luân thống khổ của dân chúng trước thế sự thời cuộc ba chìm bảy nổi..
Bạch Cư Dị chủ trương đổi mới thi ca, ông muốn thi ca phải gắn bó với đời sống, phản ảnh hiện thực xã hội, tràn đầy tư tưởng nhân đạo, nhân văn. Bạch Cư Dị đã nói "Làm văn phải vì thời thế mà làm, làm thơ phải vì thực tại mà viết" (Văn chương hợp vi thời nhi trước, thi ca hợp vi sự nhi tác ). Thơ Bạch Cư Dị phù hợp chủ nghĩa hiện thực theo con đường “phục cổ để cách tân”, muốn nói lên những thảm cảnh đen tối, xấu xa ngăn cản bước tiến của xã hội và đất nước. Bài Trường Hận Ca của ông diễn tả mối tình đẹp của Đường Minh Hoàng và Dương Quí Phi, nhưng cũng có những ý tưởng sâu sắc thầm kín mỉa mai.
Bài Tỳ Bà Hành của ông có tình tiết mạch lạc, khúc chiết và sinh động, theo lối “thuật hoài” (miêu tả), cảm ngộ, để gửi gắm tâm sự, nỗi buồn riêng tư thầm kín của tác giả như một người mang số phận hẩm hiu, để mà thông cảm xót thương như người ca nữ trong câu truyện, gặp nhiều cảnh éo le, không may mắn trên đường đời. Bài thơ ngân vang một cảm xúc ngậm ngùi, một nỗi buồn thắm thía …Ông đã nói "sự việc dẫn dắt ở ngoài, tình lý rung động bên trong, theo cảm xúc mà diễn đạt ra lời ngâm vịnh". Đó là những lời bộc bạch chân tình, nói lên cái tâm huyết của một người trí thức muốn bày tỏ tấm lòng ưu thời mẫn thế, cũng như nỗi bi phẫn của tác giả bị chèn ép, bạc đãi trong một xã hội phong kiến đầy dẫy bất công. Bài thơ giàu chất trí tuệ, sâu sắc cảm động đã gióng lên tiếng chuông cảnh cáo một chế độ phong kiến đã chà đạp lên nhân phẩm, tình cảm, hạnh phúc, và quyền sống của người phụ nữ. Nhà thơ đã tìm thấy một tâm hồn đồng điệu, một tương thức tri âm qua người kỹ nữ gặp trên sông Tầm Dương. Bài thơ có những giao động của nhịp điệu, cái trữ tình của ngữ điệu, và cái xao xuyến của nhạc điệu, tạo nên một phong cách đặc biệt, thể hiện cái phong cốt và thần thái của người nghệ sĩ tài hoa, cũng như quan niệm và thái độ của tác giả về đời sống. Bạch Cư Dị trong một lá thư gửi người bạn đã nói lên những suy nghĩ sâu sắc về thi ca: "Cái cảm hóa được lòng người chẳng gì trọng yếu bằng tình cảm, chẳng gì đi trước được ngôn ngữ, chẳng gì gần gũi bằng âm thanh, chẳng gì sâu sắc bằng ý nghĩa. Với thơ gốc là tình cảm, mầm lá là ngôn ngữ, hoa là âm thanh, quả là ý nghĩa" (Nguyễn Khắc Phi dịch). Bài thơ Tỳ Bà Hành đã tạo nên một phong cách mỹ thuật, tư duy thâm thúy bằng cách kết hợp đầy đủ các yếu tố: tình cảm, ngôn ngữ, âm thanh và ý nghĩa.
Năm Nguyên Hòa thứ 10 (815) Bạch Cư Dị bị giáng chức và đổi đi làm Tư Mã Giang Châu, và ông cũng đã trút niềm tâm sự u uẩn nầy qua bài thơ:
Chu Trung Dạ Vũ
Giang vân ám du du Giang phong lãnh tu tu Dạ vũ trích thuyền bối Dạ lãng đả thuyền đầu Thuyền trung hữu bệnh khách Tả giáng hướng Giang Châu Bạch Cư Dị
Trong Thuyền Đêm Mưa
Mây đen nghịt, nước sông trôi Gió sông lạnh ngắt bồi hồi khách thơ Mui thuyền thánh thót hạt mưa Bập bềnh sóng vỗ đong đưa mái thuyền Trong khoang khách bệnh nằm yên Chẳng may giáng chức về miền Giang Châu Hải Đà
Bài Tỳ Bà Hành được viết vào thời gian nầy (lúc Bạch Cư Dị bị giáng chức làm Tư mã Giang Châu), bài thơ gồm 616 chữ được sáng tác ngay trên thuyền. Giang Châu có núi Khuông Lư, bến Tầm Dương đều là nơi danh lam thắng cảnh. Một bữa xuống thuyền thong dong dạo chơi, trong một đêm trăng thu vằng vặc, sóng nước bập bềnh, ông nghe một tiếng đàn thánh thót văng vẳng, lúc biến hóa lâm ly, lúc dạt dào xúc động xao xuyến, lúc ngưng bặt luyến tiếc từ một chiếc thuyền lơ lửng trôi gần đó. Ông ghé thuyền, và gặp người kỹ nữ đang gảy đàn tỳ bà. Bạch Cư Dị đã cảm thấy mình đồng cảnh ngộ với người kỹ nữ lưu lạc trên bến sông đêm thanh vắng. Cô đào đã gảy cho Bạch Cư Dị nghe những khúc đàn tuyệt hảo, trầm bổng xao động người nghe .Sau đó người kỹ nữ sụt sùi thương tiếc số phận hồng nhan đa truân và đã bộc bạch thổ lộ tâm tình riêng tư của mình cho ông nghe. Cảnh và tình hòa hợp. Âm đàn và tâm trạng chan hoà cảm xúc, cảnh ngộ. Mỗi tiếng đàn ngân lên như nỗi niềm nuối tiếc xốn xang của người ca nữ hòa mình với nhịp đập bồi hồi thổn thức của con tim người thơ. Chợt có mối đồng cảm, đồng tình giữa người thơ long đong trên bước đường sự nghiệp công danh với cuộc đời trôi dạt, bị bỏ rơi quên lãng của người ca nữ đáng thương. Giữa nguồn cảm xúc lai láng tuôn tràn, Bạch Cư Dị đã tài hoa sáng tác một mạch bài Tỳ Bà Hành đầy nhừng hình ảnh tâm trạng thực và sinh động, và ông ngâm bài thơ luôn cho cô nghe. Xúc động trước chân tình tha thiết của nhà thơ, người nghệ sĩ lại đưa những ngón tay mềm mại lên phím đàn để tạ ơn người viễn khách trên sông. Trăng vẫn sáng trên sao, sóng nước vẫn bập bềnh, sương khói lãng đãng che phủ khoan thuyền. Trời không lất phất những hạt mưa.. nhưng sao mưa vẫn rơi thánh thót gieo vang những âm điệu buồn vời vợi trong lòng ai ?
"Lệ ai chan chứa hơn người ? Giang Châu tư mã đượm mùi áo xanh"
Bản dịch Tỳ Bà Hành của Phan Huy Vịnh được nhiều người công nhận là bản dịch xuất sắc nhất. Bài thơ nguyên tác chữ Hán gồm 88 câu 7 chữ hay 616 chữ. Phan Huy Vịnh dịch Nôm theo thể song thất lục bát (7-7-6-8), thành 22 đoạn, giữ nguyên số lượng (616) chữ. Theo tác giả Trần Thị Băng Thanh (Từ Điển Văn Học – nxb Khoa Học Xã Hội): "cho đến nay, những người yêu thích văn chương biết đến Phan Huy Vịnh là nhờ bản dịch của bài Tỳ Bà Hành - nguyên tác là của Bạch Cư Dị. Tỳ Bà Hành miêu tả tâm trạng quan Tư Mã Giang Châu họ Bạch trong đêm nghe người ca nữ đã luống tuổi ở bến Tầm Dương, đánh đàn tỳ bà và kể chuyện cuộc đời chìm nổi của mình. Bản dịch gồm 22 khổ thơ song thất lục bát. Đóng góp lớn nhất của Phan Huy Vịnh là sử dụng tiếng Việt. Cũng là những từ ngữ thông thường, những thủ pháp tu từ quen thuộc, nhưng sự chọn lọc tinh tế và sắp đặt sáng tạo, đã làm cho tác phẩm có sức truyền cảm đặc biệt và đạt đến đỉnh cao về nghệ thuật dịch. Từ lâu bản dịch Tỳ Bà Hành đã được phổ cập rộng rãi và coi là một tác phẩm văn học xuất sắc, có đời sống độc lập với nguyên tác. Nó đã chứng minh khả năng diễn đạt và nhạc tính phong phú của ngôn ngữ Việt Nam" (TTB)
Cũng theo tác giả Ngô Văn Phú: "Riêng bản dịch Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị, sau này là một bài rất thịnh hành để hát ca trù, được các nhà nho, các quan viên hát ả đào (kể cả thời Tây học) rất yêu thích. Năm 1986, trong một cuộc tuyển chọn những điệu hát đặc sắc của các quốc gia của UNESCO thuộc Liên hợp quốc, bài Tỳ Bà Hành (bản dịch), được nghệ sĩ Quách thị Hồ thể hiện bằng thể hát nói, đã được tặng giải thưởng cao. Đó cũng là sự phát triễn, kết hợp tài tình giữa bản dịch thơ (lời) và âm nhạc".
Tỳ Bà Hành là một bài thơ cổ kính, súc tích, lồng vào một câu chuyện thi vị, tạo ra một âm hưởng nhạc thơ nhẹ nhàng, tha thiết làm xao động lòng người. Cái thân phận bèo bọt của người thiếu phụ đã dùng tiếng đàn để bộc lộ nỗi than oán và uất hận của mình. Bạch Cư Dị là nhà thơ đã mạnh dạn đề cập đến giá trị của người phụ nữ, cái bất công của xã hội phong kiến đối với vai trò của người phụ nữ. Những âm thanh của tiếng đàn được diễn tả rất tài hoa, những uẩn khúc thầm kín riêng tư của nỗi lòng, những ưu tư dằn vặt thăm thẳm đáy lòng như đã tuôn trào ra để hòa nhịp cùng với những âm thanh của tiếng mưa rào rạt, tiếng oanh ríu rít, tiếng nước tuôn róc rách, tiếng dao xô xát, tiếng lụa xé kêu vang.. lúc trầm lúc bổng, những giây phút ngừng lại im bật, thì lại bỗng rung lên những tiếng tơ lạnh ngắt run rẫy, lối diễn tả thật tuyệt vời. Những đợt sóng cảm xúc cứ dạt dào tuôn trào ra, tạo nên những chấn động dư ba, làm nao lòng, ủ rũ người nghe. Những tiếng rung luyến láy chuyển nhịp theo từng ngón tay mềm mại nõn nà của người thiếu nữ, như muốn níu kéo lại âm vang của một thời niên thiếu ngây thơ, như muốn thở ra những tiếng não nuột của một tâm trạng chán chường, như buồn thương nuối tiếc một dĩ vãng vàng son đã mất hút tự hôm nào. Bỗng tiếng đàn tắt lịm, hụt hẫng như tiếng khóc khô không lệ, buồn tủi tiếc thương cho một thiên đàn ước vọng đã xụp đổ tan tành. Người thơ đã dùng những ước lệ, ẩn dụ, những cái đẹp trữ tình lãng mạn của thi ảnh qua những ngôn từ chắt lọc tinh tế tạo thành nhừng hình tượng tinh túy khơi động cảm xúc lòng người, làm trái tim rung động bần thần, làm tâm hồn xao xuyến, man mác bâng khuâng. Đó là thanh âm rung vang của tiếng đàn Tỳ Bà.
Em bước xuống từ trong tranh Cây Tỳ Bà nức nở Ngón đàn em trăn trở Vần thơ em buông lửng lơ Bỏ lại vầng trăng quạnh hiu Bỏ lại sau lưng khoảng không nham nhở Em bước xuống vẫn ôm cây Tỳ Bà nức nở Lang thang cuối đất cùng trời Tiếng Tỳ Bà gõ cửa Tiếng Tỳ Bà đòi nợ cho nàng Kiều Kiếp đoạn trường muôn thuở Đàn trăn trở thơ buông lửng lơ Hồn Tỳ Bà ( nhạc sĩ: Ngọc Khuê)
Câu chuyện trong bài thơ Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị đã thầm nói lên một triết lý nhân sinh, cái chua xót ngậm ngùi của cảnh đời dâu bể, ba chìm bảy nổi, cảnh đoạn trường hưng phế của tạo hóa, mà con người chỉ là một sinh vật nhỏ nhoi, bất lực trước cuộc đời hư ảo như bóng câu bên cửa sổ, như thoáng mây bay cuối trời. Chung cái tâm sự hận sầu ray rức được diễn đạt qua cung điệu đàn, lời ca, tiếng hát đó là bài Long Thành Cầm Giả Ca của Nguyễn Du. Nguyễn Du trong một bài ca về người gãy đàn đất Long Thành (Long Thành Cầm Giả Ca), có kể rằng vào tuổi thiếu niên, ông đến kinh đô để thăm người anh, và có dịp được dự một hội nữ nhạc, trong đó có một thiếu nữ đất Long Thành, gảy đàn Nguyễn (tức là đàn Nguyệt, do Nguyễn Hàm, một trong thất hiền vườn Trúc đời Tấn sáng chế ), rất điêu luyện, đã gảy những khúc đàn hay nhất trời đất (tự thị thiên thượng nhân gian đệ nhất thanh) tài danh lừng lẫy, lại hát hay và ăn nói duyên dáng quyến rũ vô cùng. Sau đó Nguyễn Du trở vào Nam, mãi một thời gian sau ông phụng mệnh đi sứ Trung Quốc, tạt ngang Long Thành, bạn bè mở tiệc, khoản đãi ông và có gọi đoàn nữ nhạc đến giúp vui, mà ông không quen mặt biết tên , và bất chợt gặp lại người kỹ nữ đó. Sau đây trích một đoạn trong lời tiểu dẫn của Nguyễn Du (Quách Tấn dịch): "Tiệc khởi múa hát. Kế tiếng đàn trổi lên, nghe trong trẻo khác thường không chút giống thời khúc. Lòng tôi kinh dị. Nhìn người gảy đàn, thì thấy thân gầy, thần khô, mặt đen, sắc trong như quỷ, áo quần toàn vải thô, bạc màu lại vá nhiều mảnh trắng, ngồi lầm lì ở cuối chiếu, không nói cũng không cười, hình trạng thật khó coi. Tôi không biết là ai, nhưng nghe tiếng đàn thì dường như có quen, nên động lòng trắc ẩn. Tiệc tan, hỏi thăm thì ra là người trước kia đã gặp. Than ôi! Người ấy sao đến nỗi thế nầy! Cuối ngửa bồi hồi, nghĩ đến cảnh cổ kim, lòng tôi cảm kích vô hạn. Đời người trăm năm, những cảnh vinh nhục buồn vui thật không sao lường được! Sau khi từ biệt, trên đường đi, cảm thương khôn nén, nên soạn bài ca để gởi hứng: Người Đẹp Đất Long Thành – Long Thành Giai Nhân" (Nguyễn Du)
|
|
|
|
giải đáp
|
Phân tích "Tì bà hành"
|
|
|
|
"Tỳ bà hành", tuyệt phẩm thi ca của nhà thơ lớn đời Đường Bạch Cư Dị có lẽ là một trong những bài thơ Trung Hoa có “tầm phủ sóng” rộng nhất với người thưởng thức Việt Nam nhiều thế hệ. Chỉ cần nhìn vào sự kiện bản dịch Việt ngữ của tác phẩm này đã trở thành ngón nghề tủ của hầu hết các đào nương ca trù danh tiếng, và là tiết mục gần như không thể vắng mặt trong những cuộc “chát tom tom chát” tự cổ chí kim là đủ rõ. Nhưng không chỉ có vậy, ở vị trí một danh tác của văn chương cổ Trung Hoa, Tỳ bà hành còn, trực tiếp hoặc gián tiếp, tạo ra từ nó một phổ hệ những bài thơ có chung dạng thức Đàn - Trăng - Nước trong thơ Việt Nam hiện đại. “Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách/ Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu...” - ngay từ những câu đầu tiên, Tỳ bà hành đã phác ra một bối cảnh không - thời gian đặc định: mùa thu, đêm, bến sông vắng. Trên bối cảnh ấy, đã diễn ra cuộc tao ngộ “bình thủy tương phùng” giữa hai kẻ tồn tại “bên lề”: một ông quan - nghệ sĩ bị biếm trích và một ca kỹ ở buổi hoàng hôn của nghề nghiệp. Như thế, và chỉ cần môtíp như thế là đã quá đủ để các nhà thơ lãng mạn Việt Nam, những người luôn sống với cảm thức tiền định rằng thế giới này là Tôi và phần còn lại, lấy đó làm môtíp chủ đề cho những biến tấu thi ca của mình. Vũ Hoàng Chương, người thơ tự nhận mình là một cá nhân thuộc về những kẻ “bị quê hương ruồng bỏ giống loài khinh” và những kẻ “đầu thai nhầm thế kỷ”, chỉ cần một đêm trăng cắm thuyền trên sông lạ là đã ngay lập tức sống trong nỗi sầu Tầm Dương: “Cắm thuyền sông lạ một đêm thơ/ Trăng thượng tuần cao sáng ngập bờ/ Đâu đó Tầm Dương sầu lắng đợi/ Nghe hồn ly phụ khóc trên tơ/... Cánh rượu thu gần vạn dặm khơi/ Nẻo say hư thực bóng muôn đời/ Ai đem xáo trộn sầu kim cổ/ Trăng nước Đà giang mộng Liêu trai” (Đà giang). Trong thi phẩm này, ở hai câu: “Đè theo đôi tiếng tỳ hư ảo/ Dâng tới thuyền ai ngủ bến không”, không khó lắm để chúng ta nhận ra ngọn nguồn xa xôi của nó là một ý thơ trong bài Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế: “Cô Tô thành ngoại Hàn San tự/ Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền” (Chùa Hàn Sơn nằm ở ngoài thành Cô Tô, nửa đêm tiếng chuông tìm đến với khách trên thuyền). Tuy vậy, điều đó chỉ là thứ yếu, căn bản thì lực hướng tâm của Đà giang vẫn là Tỳ bà hành. Không chỉ bởi trong bài Đà giang tác giả đã hai lần nhắc đến từ Tầm Dương, mà chính là bởi sự thể hiện của cái dạng thức Đàn - Trăng - Nước ở đó. Một sự thể hiện rất đặc biệt. Có Trăng, có Nước, Trăng thật và Nước thật (Cắm thuyền sông lạ một đêm thơ/ Trăng thượng tuần cao sáng ngập bờ) nhưng Đàn thì chỉ là âm thanh trong vọng tưởng, âm thanh như từ tiền kiếp đã chờ sẵn để dội vào hồn thi nhân (Đâu đó Tầm Dương sầu lắng đợi/ Nghe hồn ly phụ khóc trên tơ). Một thứ “đồng thanh tương ứng” giữa những kẻ mang căn bệnh “u uất nỗi chơ vơ”, cho dẫu họ không cùng thời đại, không cùng chủng tộc. Vậy nên câu hỏi ở cuối bài (Ai đem xáo trộn sầu kim cổ/ Trăng nước Đà giang mộng Liêu trai) xuất hiện như là một câu hỏi không cần có câu trả lời. Nếu Vũ Hoàng Chương bắc một nhịp cầu đến bến Tầm Dương từ Đà giang, thì nhịp cầu ấy của Văn Cao lại được bắc từ Hương giang. Điểm khác biệt cơ bản giữa Đà giang và Một đêm đàn lạnh trên sông Huế là ở chỗ: Đà giang là tiếng nói độc thoại, cho mình, Đà giang không có tiếng đàn thực vì hoàn toàn thiếu vắng người chơi đàn; còn Một đêm đàn lạnh trên sông Huế là tiếng nói hướng tới một người nghe, tiếng đàn ở đây là tiếng đàn có thực vì có người chơi thực, và đó là sự hoán vị nếu so với Tỳ bà hành: người chơi đàn là chủ thể xưng Tôi, chứ không phải là người kỹ nữ như trong Tỳ bà hành. Tuy thế, thật thú vị khi, giống như Đà giang, trong Một đêm đàn lạnh trên sông Huế xuất hiện những câu phảng phất vị của Phong Kiều dạ bạc. Đọc hai câu: “Tà tà trăng lặn hiu hiu gió/ Ánh lửa chài xa thấp thoáng trôi” hẳn là người ta phải nhớ đến hai câu của Trương Kế: “Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên/ Giang phong ngư hỏa đối sầu miên” (Tản Đà dịch tuyệt hay: Trăng tà chiếc quạ kêu sương/ Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ). Trong bài thơ của Văn Cao, người đọc có thể nhận thấy rất rõ dấu ấn của cái chủ ý tạo nên tính nhạc bằng thủ pháp láy từ, láy câu (các từ trong câu đều là thanh bằng). Hãy thử đọc những câu: “Nẩy nẩy tơ đồng nhịp nhịp đôi/ Lòng nâng ngòn ngọt lại đầu môi/ Này em hát khúc tương tư nhé/ Ngâm khẽ em ơi nhẹ nhẹ lời/ Sao đàn u hoài gì mùa thu?/ Sao đàn u hoài gì mùa thu?/ Tri âm nghe thử dây đồng vọng/ Lạc lõng đêm vàng khi nhạc ru” ta sẽ cảm nhận được cái miên man sông nước, cái dư âm như bất tận của giọng ca Huế trên sông Hương. Nhưng quan trọng hơn, bài thơ là dấu ấn của tình tri kỷ được hình thành qua âm nhạc, một cuộc tao ngộ khiến cho song phương, người đàn người hát, cơ hồ quên cả thời gian và không gian: “Như Tử Kỳ nghe nhạc Bá Nha/ Em nghe anh dạo khúc thu xa/ Thuyền xuôi về bến mô thuyền hỉ/ Sông trắng bờ xa lộ bóng nhà...” Bởi thế mà giờ phút chia tay diễn ra đầy lưu luyến: “Em cạn lời thôi anh dứt nhạc/ Biệt ly đôi phách ngó đàn tranh/ Một đêm đàn lạnh trên sông Huế/ Ôi nhớ nhung hoài vạt áo xanh”. Nỗi sầu biệt ly như đã từ người mà ngấm vào đàn vào phách. Nỗi sầu ấy còn như kéo dài qua mười mấy thế kỷ đằng đẵng, từ “Giang Châu tư mã đượm màu áo xanh” trong thơ của Bạch Cư Dị đến người mang “vạt áo xanh” trong thơ của Văn Cao. Nói đến phổ hệ những thi phẩm Việt Nam có chung dạng thức Đàn – Trăng - Nước có thể được quy chiếu vào “mẫu gốc” là bài thơ Tỳ bà hành, tất phải nói đến Nguyệt cầm của Xuân Diệu: “Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh/ Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần/ Đàn buồn, đàn lạnh, ôi đàn chậm/ Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân/... Bốn bề ánh nhạc, biển pha lê/ Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề/ Sương bạc làm thinh, khuya nín thở/ Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê”. Nhiều nhà nghiên cứu và phê bình văn học đã viết về thi phẩm này và đã chú ý đến tính chất “lạ” của nó. Hoài Thanh nói đến “cái xôn xao gửi vào những hàng chữ lạ lùng này”. Với câu: “Vì nghe nương tử trong câu hát/ Đã chết đêm rằm theo nước xanh”, Hoàng Ngọc Hiến thú nhận “vẫn chưa hiểu câu thơ này, nhưng càng ngày càng thấy hay”... Có thể nói, Nguyệt cầm, trong phổ hệ Đàn - Trăng - Nước, là thi phẩm ít “dính líu” đến Tỳ bà hành nhất, cho dẫu có một lần chữ Tầm Dương được nhắc đến (Trăng nhớ Tầm Dương nhạc nhớ người). Nguồn cảm hứng ở Nguyệt cầm không phải là mối quan hệ tri kỷ giữa những kẻ “bên lề” hay nỗi sầu ly biệt sau một đêm trăng nghe đàn trên sông, mà là bản thân âm nhạc, là nhạc cảm, là “sầu âm nhạc” - như chính cụm từ Xuân Diệu đã sử dụng trong bài. Đặt cạnh các bài thơ của Thế Lữ, Vũ Hoàng Chương, Văn Cao, thì đây là một biến tấu rất xa trên chủ đề chung. Trong bài tiểu luận Một thời đại trong thi ca in ở đầu thi tuyển Thi nhân Việt Nam, khi đi tìm những nguồn của Thơ Mới, Hoài Thanh đã nhận ra một nguồn quan trọng: thơ Đường. Dấu ấn của Đường thi trên thơ ca lãng mạn Việt Nam trước 1945 đương nhiên không chỉ là những hình thức thể loại đã trở thành mẫu mực của nó (tập thơ Mùa cổ điển của Quách Tấn là một ví dụ tiêu biểu), mà còn ở các hệ đề tài và ở sự gợi tứ gợi hứng cho những biến tấu trên các hệ đề tài ấy. Phổ hệ các bài thơ có dạng thức Đàn - Trăng - Nước xuất sinh từ Tỳ bà hành cho thấy rõ điều đó. Có thể nói, đó chính là những vọng âm Việt Nam từ một bài thơ thuộc vào hàng tuyệt phẩm của thơ ca cổ Trung Hoa. Nói chung, đây là điều bình thường ở mối quan hệ văn học vùng, giữa một nền văn học hạt nhân với một nền văn học vệ tinh. Điều bất bình thường chỉ là câu chuyện của thời hiện tại, khi mà Đường thi tỏ ra không còn sức hấp dẫn với sáng tạo của các nhà thơ Việt Nam như trước. Không phải vì Đường thi đã “bớt” hay, mà dường như vì trong nền thơ của chúng ta, đã qua rồi cái thế hệ những thi nhân đa văn hóa như Xuân Diệu, Vũ Hoàng Chương, Văn Cao... những người xuất thân Tây học nhưng luôn nỗ lực với Hán học, hiểu và yêu những giá trị của văn chương cổ. Hoài Nam
|
|
|
|
giải đáp
|
Lời tựa "Tì bà hành"
|
|
|
|
Năm Nguyên Hoà thứ 10, ta về giữ chức Tư Mã ở quận Cửu giang. Qua mùa thu năm sau, đêm ra tiễn khách bên bến sông Bồn, chợt nghe thuyền ai có tiếng đàn Tỳ Bà vọng lại. Nghe trong tiếng đàn thánh thót, âm vang điệu nhạc ở kinh đô. Bèn hỏi gốc gác. Người đàn trả lời rằng: “Tôi vốn là con hát, quê ở Trường An, học đàn Tỳ Bà với hai danh sư Mục và Tào. Nay tuổi đã cao, nhan sắc tàn tạ, lấy chồng làm con buôn [thường theo thuyền buôn đi đây đi đó]”. Nghe vậy, cho dọn rượu ra đãi, xin nàng đàn lại cho nghe. Ðàn xong cảm xúc vô vàn, nàng bèn kể lại cuộc đời mình từ lúc còn trẻ, vui sướng, cho tới lúc lưu lạc giang hồ khổ nhọc. Ta về đây làm quan đã được hai năm, thanh thản, yên ổn. Hôm nay nghe nàng nầy nói chuyện, cảm thương cho số phận lưu đày! Bèn làm một bài thơ dài tặng nàng ta, gồm 616 lời, gọi là Tỳ Bà Hành. Thơ
|
|
|
|
giải đáp
|
Văn bản Tì bà hành
|
|
|
|
Tầm dương giang đầu dạ tống khách Phong diệp dịch hoa thu sắt sắt Chủ nhân há mã khách tại thuyền Cử tửu dục ẩm vô quản huyền
Túy bất thành hoan, thảm tương biệt Biệt thời mang mang giang tẩm nguyệt Hốt văn thủy thượng tỳ bà thanh Chủ nhân vong qui, khách bất phát
Tầm thanh ám vấn đàn giả thùy ? Tỳ bà thanh đình dục ngữ trì Di thuyền tương cận yêu tương kiến Thiêm tửu hồi đăng trùng khai yến
Thiên hô vạn hoán thủy xuất lai Do bão tỳ bà bán già diện Chuyển trục bát huyền tam lưỡng thanh Vị thành khúc điệu, tiên hữu tình
Huyền huyền yểm ức, thanh thanh tứ Tự tố bình sinh bất đắc chí Đê mi tín thủ tục tục đàn Thuyết tận tâm trung vô hạn sự
Khinh lung mạn nhiên mạt phục khiêu Sơ vi " Nghê thường" hậu "Lục yêu" Đại huyền tào tào như cấp vũ Tiểu huyền thiết thiết như tư ngữ
Tao tao thiết thiết thác tạp đàn Đại châu tiểu châu lạc ngọc bàn Gian quan oanh ngữ hoa để hoạt U yết tuyền lưu thủy hạ than
Thủy tuyền lãnh sáp huyền ngưng tuyệt Ngưng tuyệt bất thông thanh tạm yết Biệt hữu u sầu ám hận sinh Thử thời vô thanh thắng hữu thanh
Ngân bình sạ phá thủy tương bỉnh Thiết kỵ đột xuất đao thương minh Khúc chung thu bát đương tâm hoạch Tứ huyền nhất thanh như liệt bạch Đông thuyền tây phảng tiễu vô ngôn Duy kiến giang tâm thu nguyệt bạch
Trầm ngâm phóng bát sáp huyền trung Chỉnh đốn y thường khởi liễm dung Tự ngôn: " Bản thị kinh thành nữ , Gia tại Hà mô lăng hạ trú Thập tam học đắc tỳ bà thành Danh thuộc giáo phường đệ nhất bộ Khúc băi tằng giao Thiện tài phục Trang thành mỗi bị Thu nương đố Ngũ Lăng niên thiếu tranh triền đầu Nhất khúc hồng tiêu bất tri số Điền đầu ngân tì kích tiết toái Huyết sắc la quần phiên tửu ố Kim niên hoan tiếu phục minh niên Thu nguyệt xuân phong đẳng nhàn độ Đệ tẩu tùng quân, a di tử Mộ khứ triêu lai nhan sắc cố Môn tiền lănh lạc xa mă hi Lão đại giá tác thương nhân phụ Thương nhân trọng lợi, khinh biệt ly Tiền nguyệt Phù Lương mãi trà khứ Khứ lại giang khẩu thủ không thuyền Nhiễu thuyền nguyệt minh giang thủy hàn Dạ thâm hốt mộng thiếu niên sự Mộng đề trang lệ hồng lan can "
Ngă văn tỳ bà dĩ thán tức Hựu văn thử ngữ trùng tức tức Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân Tương phùng hà tất tằng tương thức
"Ngã tằng khứ niên từ đế kinh Trích cư ngọa bệnh Tầm Dương thành Tầm dương địa tịch vô âm nhạc Chung tuế bất văn ty trúc thanh Trú cận Bồn giang địa đê thấp Hoàng lô khổ trúc nhiễu trạch sinh Kỳ gian đán mộ văn hà vật Đỗ quyên đề huyết viên ai minh Xuân giang hoa triêu thu nguyệt dạ Văng văng thủ tửu hoàn độc khuynh Khởi vô sơn ca dữ thôn địch Ẩu á trào triết nan vi thính Kim dạ văn quân Tỳ bà ngữ Như thính tiên nhạc nhĩ tạm minh Mạc từ cánh tọa đàn nhất khúc Vị quân phiên tác tỳ bà hành"
Cảm ngã thử ngôn lương cửu lập Khước tọa xúc huyền huyền chuyển cấp Thê thê bất tự hướng tiền thanh Măn tọa trùng văn giai yểm khấp Tọa trung khấp hạ thùy tối đa ? Giang châu tư mã thanh sam thấp !
Bạch Cư Dị
Dịch thơ:
Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách Quạnh hơi thu , lau lách đìu hiu Người xuống ngựa, khách dừng chèo Chén quỳnh mong cạn, nhớ chiều trúc ti
Say những luống ngại khi chia rẽ Nước mênh mông đượm vẻ gương trong Đàn ai nghe vẳng bên sông Chủ khuây khỏa lại, khách dùng dằng xuôi
Tìm tiếng sẽ hỏi ai đàn tá ? Dừng dây tơ nấn nà làm thinh Đời thuyền ghé lại thăm tình Chong đèn, thêm rượu, còn dành tiệc vui
Mời mọc măi, thấy người bỡ ngỡ Tay ôm đàn che nửa mặt hoa Vặn đàn mấy tiếng dạo qua Dẫu chưa nên khúc tình đà thoảng hay
Nghe não ruột mấy dây buồn bực Dường than niềm tấm tức bấy lâu Mày chau tay gẩy khúc sầu Giải bày hết nỗi trước sau muôn vàn
Ngón buông, bắt khoan khoan dìu dặt Trước Nghê Thường, sau thoắt Lục Yêu Dây to nhường đổ mưa rào Nỉ non dây nhỏ khác nào chuyện riêng
Tiếng cao thấp lựa chen lần gẩy Mâm ngọc đâu bỗng nẩy hạt châu Trong hoa oanh ríu rít nhau Nước tuôn róc rách chảy mau xuống ghềnh
Nước suối lạnh, dây mành ngừng đứt Ngừng đứt nên phút bật tiếng tơ Ôm sầu, mang giận ngẩn ngơ Tiếng tơ lặng ngắt bây giờ càng hay
Bình bạc vỡ tuôn đầy dòng nước Ngựa sắt giong, xô xát tiếng đao Cung đàn trọn khúc thanh tao Tiếng buông xé lụa , lựa vào bốn dây
Thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt Một vầng trăng trong vắt lòng sông Ngậm ngùi đàn bát xếp xong Áo xiêm khép nép hầu mong giãi lời
Rằng "xưa vốn là người kẻ chợ Cồn Hà Mô trú ở lân la Học đàn từ thuở mười ba Giáo phường đệ nhất sổ đà chép tên
Gă Thiện tài sợ phen dừng khúc Ả Thu nương ghen lúc điểm tô Ngũ Lăng chàng trẻ ganh đua Biết bao the thắm chuốc mua tiếng đàn
Vành lược bạc gãy tan nhịp gõ Bức quần hồng hoen ố rượu oi Năm năm lần lữa vui cười Mải trăng hoa chẳng đoái hoài xuân thu
Buồn em trảy lại lo dì thác Sầu hôm mai đổi khác hình dung Cửa ngoài xe ngựa vắng không Thân già mới kết duyên cùng khách thương
Khách trọng lợi, khinh đường ly cách Mải buôn chè sớm tếch nguồn khơi Thuyền không, đậu bến mặc ai Quanh thuyền trăng dãi, nước trôi lạnh lùng
Đêm khua, sực nhớ vòng tuổi trẻ Chợt mơ màng dòng lệ đỏ hoen Nghe đàn ta đã chạnh buồn Lại rầu nghe nỗi nỉ non mấy lời
Cùng một lứa bên trời lận đận Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau Từ xa Kinh khuyết bấy lâu Tầm dương đất trích gối sầu hôm mai
Chốn cùng tịch lấy ai vui thích Tai chẳng nghe đàn địch cả năm Sông Bồn gần chốn cát lầm Lau vàng, trúc vơ, âm thầm quanh hiên
Tiếng chi đó nghe liền sớm tối Cuốc kêu sầu, vượn hót véo von Hoa xuân nở, nguyệt thu tròn Lần lần tay chuốc chén son ngập ngừng
Há chẳng có ca rừng, địch nội ? Giọng líu lo, buồn nỗi khó nghe Tỳ bà nghe dạo canh khuya Dường như tiên nhạc gần kề bên tai
Hãy ngồi lại gẩy chơi khúc nữa Sẽ vì nàng soạn sửa bài ca " Đứng lâu dường cảm lời ta Lại ngồi lựa phím đàn đà kíp dây
Nghe não ruột khác tay đàn trước Khắp tiệc hoa sướt mướt lệ rơi Lệ ai chan chứa hơn người ? Giang Châu tư mã đượm mùi áo xanh
Bản dịch : Phan Huy Vinh
Đêm đưa khách bến Tầm dương, Gió thu san sạt lá vàng bông lau Người xuống ngựa, khách đón chào, Rượu kèo mời uống có đâu sáo đàn
Chén suông ngán nỗi hợp tan, Trăng sông man mác, chứa chan nỗi lòng Tiếng tì chợt vẳng trên sông, Chủ quên trở lại, khách không vội về
Lần tìm sẽ hỏi ai kia, Tiếng đàn nín bặt, người e ngỏ lời Ghé thuyền đến cạnh chào mời, Khêu đèn thêm rượu, lại bày tiệc hoa
Nằn nì mời mãi mới ra, Ôm đàn che nửa, mặt hoa thẫn thờ Ướm dây vặn trục dạo qua, Chưa thành khúc điệu, thiết tha hữu tình
Đắn đo, nắn nót, rõ rành Dường như tố cáo bình sinh nỗi buồn Dang tay cúi mặt gảy luôn, Xiết bao tâm sự như tuôn mạch sầu
Tiếng đàn đi tựa thấp cao, Nghê Thường vừa dứt, lại vào Lục yêu Dây to sầm sập mưa dào, Nỉ non dây nhỏ, thì thào nỗi tây
Nhặt thưa réo rắt mấy dây, Hạt châu to nhỏ rơi đầy trên mâm Trong hoa ríu rít oanh ngâm, Cuối ghềnh nước suối réo ngầm bãi khơi
Tiếng đàn, suối lạnh không trôi, Không trôi ngập ngừng, tạm thôi nhịp nhàng Lắng nghe sầu oán ngổn ngang, Bấy giờ lặng lẽ, lại càng hay hơn
Nước tuôn bình bạc vỡ tan, Giáo gươm thiết kỵ tiếng ran rợn người Khúc xong gảy một tiếng dài, Bốn dây một tiếng như ai xé là
Đông tây thuyền lặng như tờ, Giữa sông bóng sáng thẫn thờ gương nga Trên dây cày móng ngẩn ngơ, Dung y chỉnh đốn, đứng xa phân trình
Kể rằng xưa ở kinh thành, Hà Mô lăng ấy gần quanh là nhà, Học đàn từ thửa mười ba, Giáo phường đệ nhất, tiếng đà đồn xa
Thiện tài phục ngón tỳ bà, Thu nương tấm tức, khi đà giồi trau Ngũ lăng tuổi trẻ đua nhau, Đàn xong một khúc biết bao khăn điều
Lược trăm gõ nhịp gãy nhiều, Chén mời, giọt rượu quần điều ố hoen Năm qua năm lại bao phen, Xuân thu trăng gió đã quen vui vầy
Nỗi buồn dì chết em đày, Sớm chiều thấm thoắt, mặt mày kém xuân Ngựa xe lẻ tẻ trước sân, Về già lấy một thương nhân bạn bè
Trọng tài lợi, nhẹ biệt ly, Phu lương tháng trước chồng đi buôn chè Một mình nấp bóng chiếc ghe, Quanh thuyền nước lạnh trăng kề vẩn vơ
Đêm qua mộng thấy chuyện xưa, Lệ rơi tầm tã, mắt mờ đỏ hoen Tiếng tì đã gợi nỗi phiền, Lại nghe mụ nói, chẳng yên nỗi lòng
Cùng nhau góc bể long đong, Gặp nhau lọ phải đã cùng quen nhau Đế kinh từ biệt bấy lâu, Tầm Dương bị chích lại đau bấy chầy
Có đâu âm nhạc chốn này, Suốt năm tơ trúc chẳng ngày nào nghe Bến Bồn đất thấp ở kề, Lau vàng trúc cỗi bao vi bốn bề
Sớm chiều nghe tiếng vật gì Cuốc kêu vượn hú, ùa bi đêm ngày, Xuân thu hoa nguyệt khoả khuây, Thường thường chuốc chén lại say một mình,
Ca rừng sáo nội đã đành, Liu lo ríu rít nào mình có hay Tì bà giọng ấy đêm nay, Nghe như tiên nhạc bên tai rach ròi.
Gảy thêm khúc nữa hãy ngồi, Tì bà hành sẽ vì ai đặt thành Cảm lời, đứng lúc lặng thinh, Lại ngồi lựa ngón, lanh lanh gảy bài
Véo von khác trước một hồi, Những người ngồi đó lệ rơi ngắn dài Khóc nhiều hơn cả là ai Giang Châu tư mã đẫm mùi áo xanh.
Bản dịch: Trần Trọng Kim
|
|