|
|
|
|
giải đáp
|
Soạn bài: "Đám tang lão Gô - ri - ô"
|
|
|
|
A. Mục tiêu bài học: Giúp HS: - Nắm được những thao tác nghệ thuật cụ thể mà Ban-dắc sử dụng trong bài văn này để khắc họa một đám tang. - Cảm nhận dụng ý nghệ thuật sâu xa của nhà văn muốn phê phán thói đời đen bạc qua các nhân vật trong một xã hội coi đồng tiền cao hơn tình nghĩa. B. Phương pháp và hình thức tiến hành tổ chức dạy học:- GV chỉ tập trung vào một đoạn trích ngắn trong tiểu thuyết Lão Gô-ri-ô của Ban-dắc. - Phần lớn thời gian phải dành cho bài Đám tang lão Gô-ri-ô. GV chỉ nên chọn vài chi tiết coi như để dẫn vào bài. C. Tiến trình tổ chức dạy học:* Tổ chức kiểm tra bài cũ: - Anh ( chị ) hãy nêu mục đích và yêu cầu tóm tắt văn bản nghị luận ? - Anh ( chị ) hãy trình bày phương pháp tóm tắt văn bản nghị luận ? * Tiến trình bài mới: I. Tiểu dẫn: 1. Tác giả:- Ban-dắc là nhà tiểu thuyết Pháp, một bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực. - Ông viết gần 100 tác phẩm tập hợp lại thành bộ Tấn trò đời mà phần lớn là tiểu thuyết, sáng tác từ năm 1829 đến trước khi ông mất. Bộ Tấn trò đời gồm khoảng 2500 nhân vật, trong đó với hơn 400 nhân vật trở đi trở lại những truyện khác nhau, đã cho ta thấy những mảnh đời khác nhau trong mối liên hệ với quy luật nghiệt ngã của cuộc đời. - Nghệ thuật kể chuyện của Ban-dắc: ông thường tạo ra một môi trường, một cái nền để nhân vật chính xuất hiện, cái nền ấy có thể rộng, từ những chi tiết về xã hội, lịch sử đương thời đến khung cảnh của một thành phố, thị trấn; hẹp hơn, có thể một ngôi nhà, một quán trọ. - Những tác phẩm chính: Miếng da lừa ( 1831 ), Lão Gô-ri-ô ( 1834 ), Ảo mộng tiêu tan ( 1837 - 1843 ),... 2. Tác phẩm:- Tiểu thuyết Lão Gô-ri-ô xuất bản năm 1834. - Nhân vật trung tâm của tiểu thuyết là người cha già khốn khổ - lão Gô-ri-ô. Ngoài ra, còn có các nhân vật chính như hai cô con gái Đen -phin và A-na-xta-di, chàng thanh niên Ra-xti-nhắc. - Chủ đề: Tiểu thuyết đã phê phán xã hội tư sản, với sức mạnh của đồng tiền đã làm tha hóa nhân tính, tình người. - Tóm tắt tác phẩm: sgk trang 132. 3. Đoạn trích: a. Vị trí đoạn trích:Đoạn trích Đám tang lão Gô-ri-ô được trích từ phần cuối của tiểu thuyết Lão Gô-ri-ô. b. Chủ đề đoạn trích: Đoạn trích đã miêu tả và phê phán con người và xã hội tư sản Pháp nửa đầu thế kỉ XX mà tiêu điểm là đồng tiền và danh vọng giả dối đã tha hóa con người như một sức mạnh ma quái và khủng khiếp. II. Bố cục văn bản: Đoạn trích có thể chia làm 4 phần: - Đoạn 1 ( từ đầu từng làm điều gì nên tội ): từ quán trọ bà Vô-ke đến nhà thờ Thánh-Ê-chiên-đuy-Mông. - Đoạn 2 ( tiếp theo đã năm giờ rưỡi rồi ): cuộc hành lễ ở nhà thờ. - Đoạn 3 ( tiếp theo Cri-xtô-phơ bèn bỏ đi ): từ nhà thờ Thánh-Ê-chiên-đuy-Mông đến nghĩa trang Cha-La-se-dơ và việc chôn cất. - Đoạn 4 ( còn lại ): tâm trạng và ý nghĩ của Ra-xti-nhắc khi còn lại một mình sau khi chôn cất xong. III. Đọc hiểu văn bản: 1. Bi kịch của lão Gô-ri-ô: Trong đoạn trích, trực tiếp và rõ nhất là lời của Cri-xtô-phơ với Ra-xti-nhắc về người đã khuất: - Ông cụ là người tử tế và đứng đắn, chưa bao giờ to tiếng, không hề làm hại ai và chưa từng làm điều gì nên tội. Đây là lời nhận xét chính xác, khi cái quan định luận, của một người sống một thời gian dài với lão Gô-ri-ô - Ông là một người cha đặc biệt, hết lòng thương yêu, chiều chuộng đến sùng kính các con gái của mình từ khi chúng sinh ra cho đến khi chúng trưởng thành, lập gia đình riêng và trở thành những phu nhân, bá tước phu nhân, quý tộc, quyền quý. Lão vui lòng và tự nguyện hi sinh tất cả vì con cái, đến bán cả nhà cửa, phải thuê quán trọ để ở ; bị con gái bòn rút đến những đồng cuối cùng,… Nhưng lão vận không oán giận, trách móc chúng một lời. Đến lúc hấp hối, lão vẫn chỉ mong được thấy mặt các con. Lão đã ra đi vĩnh viễn trong niềm ân hận khôn nguôi ấy. - Ông là một người cha bất hạnh, tự nguyện làm nô lệ mù quáng cho những đứa con bất hiếu của mình. Bi kịch của người cha già đáng thương ấy còn thể hiện gián tiếp ngay trong đám tang điêu tàn của lão. - Đám tang của lão không có một người thân ( dù lão vẫn có hai con gái và hai co rể ở ngay trong thành phố ). Hơn nữa, đây còn là một đám tang sơ sài, vội vã, qua quýt do một thanh niên ở trọ lo liệu. * Tóm lại, lão Gô-ri-ô vừa là nạn nhân của đồng tiền, vừa là nạn nhân của chính mình. Hậu quả của lão thật đáng thương, đáng buồn mà tất cả la do con gái, con rể lão gây ra. Nhưng xét đến cùng, tự lão cũng gây ra một phần không nhỏ trong bi kịch của chính mình. 2. Cảnh đám tang lão Gô-ri-ô:- Đám tang lão Gô-ri-ô được đặt vào thời gian và không gian xác định: + Về thời gian, nhà văn chú ý đến sự chính xác từng phút. Ba lần yếu tố giờ giấc được nhắc đến: nghi lễ cử hành ở nhà thờ hết hai mươi phút theo lời người kể chuyện, ngay sau đó vị linh mục nói là đã năm giờ rưỡi, rồi người kể chuyện lại cho biết đến sáu giờ xác ông cụ Gô-ri-ô được hạ huyệt. Quãng thời gian từ khi xuất phát ở nhà trọ của bà Vô-ke đến lúc hành lễ ở nhà thờ tuy nhà văn không nói rõ nhưng ta vẫn cảm nhận được qua chi tiết nhà thờ không cách xa phố Mới-Nữ-thánh-Giơ-nơ-vi-e mấy tí, song phải chờ hai vị linh mục, chú bé hát lễ và người bõ nhà thờ. Chắc cũng chỉ kéo dài khoảng vài chục phút như quãng thời gian từ khi hạ huyệt đến lúc Ra-xti-nhắc rời nghĩa trang Cha-La-se-dơ. + Về không gian, những địa điểm chính xác được nhắc đến trong đoạn văn càng góp phần tô đậm thêm ấn tượng như thật, nhất là đối với những người dân đã từng sống ở Pa-ri. Tuy chỉ là hư cấu nghệ thuật, nhưng quán trọ của bà Vô-ke có địa chỉ, nó được đặt vào phố Mới-Nữ-thánh-Giơ-nơ-vi-e-vơ ở ngoại ô Pa-ri vào thập niên thứ hai của thế kỉ XIX. Ngày nay thuộc vùng ngoại ô ấy thuộc nội thành, ở quận 5 có một phố mang tên gần giống như thế: phố Nữ-thánh- Giơ-nơ-vi-e-vơ. Nhà thờ Thánh-Ê-chiên-đuy-Mông là ngôi nhà thờ có thật xây dựng từ thế kỉ thứ XIII ở quảng trường Păng-tê-ông, nghĩa là rất gần với phố nơi nhà văn chọn làm địa điểm cho quán trọ. Nhà thờ này là nơi đặt thánh tích nữ thánh Giơ-nơ-vi-e-vơ, vị nữ thánh bảo trợ kinh thành Pa-ri. Nghĩa trang Cha-La-se-dơ cũng là một nghĩa trang có thật, ở xa hơn về phía Đông Bắc, lập ra năm 1804, trước khi xảy ra câu chuyện trong tiểu thuyết này không lâu. - Lão Gô-ri-ô bấy giờ đã chết, nằm trong quan tài, những vẫn cứ là nhân vật trung tâm của đoạn trích, cũng như lão là nhân vật trung tâm của tiểu thuyết. Nhà văn dùng nhiều biện pháp nghệ thuật cụ thể nhằm khắc họa đậm nét số phận bi đát của lão: + Khung cảnh đám tang là diễn ra ở một vùng ô buồn tẻ ( ngày nay cả khu vực ấy, từ dãy phố, nhà thờ Thánh-Ê-chiên-đuy-Mông đến nghĩa trang Cha-Le-se-dơ, đều thuộc nội thành Pa-ri náo nhiệt ). + Ông chọn thời gian vào lúc ngày tàn. Ánh sáng lờ mờ của giáo đường đã nhỏ lại thấp và tối, rồi đến quang cảnh ngày tàn với một buổi hoàng hôn ẩm ướt là thứ ánh sáng và màu sắc ấy càng trở nên ảm đạm hơn, đáng buồn hơn khi cuối cùng xa xa về phía trung tâm thành phố đã lên đèn. Đám tang nào mà chẳng buồn, nhưng khung cảnh không gian, thời gian này rõ ràng làm tăng thêm tính chất bi đát của đám tang lão Gô-ri-ô. - Ánh đèn rực rỡ và cả âm thanh ( cái tổ ong rào rào ) là ở chỗ xa xa kia, còn nơi đây lặng lẽ đến rợn người: không có tiếng xe ngựa, không nghe tiếng cuốc xẻng, không nghe âm vang những lời cầu kinh vì chúng chỉ được nhắc thoáng qua trong lời kể. Chỉ có ba lần lời nói trực tiếp vang lên, ba câu ngắn ngủi, ba lời đối thoại, nhưng là đối thoại một chiều, một lời của Cri-xtô-phơ, một của vị linh mục và một của Ra-xti-nhắc. - Cri-xtô-phơ nói với Ra-xti-nhắc: Đúng thế đấy, cậu Ơ-gien ạ [...] ông cụ là người tử tế và đứng đắn, chưa bao giờ to tiếng, không hề làm hại ai và chưa từng làm điều gì nên tội. Câu nói này đã làm gợi lên nghịch cảnh tâm lí: người chết càng tốt bụng, hiền lành bao nhiêu thì đám tang càng có vẻ xót xa, trớ trêu bấy nhiêu. - Vị linh mục nói với Ra-xti-nhắc: Không có người đưa đám. Chẳng có ai thân thích đi đưa ma mà chỉ đúng một đám người dưng đếm được trên đầu ngón tay, trong đó có Cri-xtô-phơ và Ra-xti-nhắc. Đi theo chiếc xe chở người xấu số từ quán trọ đến nhà thờ Thánh-Ê-chiên-đuy-Mông chỉ có bốn người nữa là hai vị linh mục, chú bé hát lễ và người bõ nhà thờ. Khi xe chuyển bánh đến nghĩa trang, có thêm hai gia nhân trên chiếc xe ngựa không có người ngồi của bá tước Đơ Re-xtô và của nam tước Đơ Nuy-xin-ghen, nhưng lại bớt đi người bõ nhà thờ và một vị linh mục. Tới nơi, có thêm hai gã đào huyệt, nhưng hai gia nhân chắc là quay về ngay theo với xe tang chứ chẳng đợi chôn cất xong ( tuy không thấy người kể chuyện nhắc đến ). Nhà văn đã khéo léo bố trí để số người đã ít ỏi kia cứ vơi dần đi: mới đầu là bọn gia nhân của hai cô con gái cùng với vị linh mục và chú bé hát lễ sau khi đọc xong bài kinh ngắn ngủi, rồi đến lượt hai gã đào huyệt lúc vùi xong nấm mộ, cuối cùng Cri-xtô-phơ cũng bỏ đi nốt, để lại một mình Ra-xti-nhắc, chàng sinh viên cũng không đứng ở bên mộ mà nhà văn để chàng đi về phía đầu nghĩa địa. 3. Tình người của những nhân vật bị đồng tiền chi phối:- Lão Gô-ri-ô là nạn nhân đau khổ nhất của thói đời đen bạc, các nhân vật ( trừ lão Gô-ri-ô ) thì ít nhiều đều bị biến chất đi trong xã hội đồng tiền: các vị nhà đạo tiến hành nghi lễ xứng đáng với giá tiền bảy mươi quan, Cri-xtô-phơ gắn việc làm của mình với mấy món tiền đãi công kha khá, bài kinh ngắn ngủi cầu cho lão ở nghĩa trang do chàng sinh viên trả tiền, hai gã đào huyệt mới hất được vài xẻng đất thì đã đòi tiền đãi công khiến Ra-xti-nhắc móc túi không còn đồng nào nên đành vay Cri-xtô-phơ hai mươi xu,... Một đoạn văn không dài, nhưng nhà văn đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần đến tiền nhằm để nói mục đích thật sự của những người đưa đám ( trừ hai người vì lòng tốt, lòng thương hại ông lão là Cri-xtô-phơ và Ra-xti-nhắc ). - Hai người con gái của lão Gô-ri-ô không được nhà văn cho xuất hiện ở mấy trang cuối cùng của tiểu thuyết này, nhưng ta lại không thể không nói đến: + Khi thi hài của người quá cố sắp được chuyển đến nhà thờ, người kể chuyện nhắc đến cái hình ảnh thuộc về một thời mà nhà Đen-phin và A-na-xta-di còn bé bỏng, đồng trinh và trong trắng,... + Ở trong nhà thờ, chàng sinh viên đã hoài công tìm hai cô gái. + Khi xe tang sắp chuyển bánh đến nghĩa trang thì xuất hiện hai chiếc xe có treo huy hiệu nhưng không có người ngồi, một của bá tước Đơ Re-xtô và một của nam tước Đơ Nuy-xin-ghen. Bằng những chi tiết trên, nhà văn cho ta thấy được quá trình diễn biến của những đứa con ấy, mà nguyên nhân sâu xa là sự nhào nặn của xã hội thượng lưu. Chồng của cô chị là một nhà quý tộc, chồng cô em là một chủ ngân hàng. Địa vị phu nhân của bá tước và vợ của chủ ngân hàng đã giết chết A-na-xta-di và Đen-phin trong tâm hồn họ. Thật bi đát cho số phận người cha Gô-ri-ô có những đứa con như vậy. Ở cùng một thành phố mà lánh mặt cha lúc cha còn sống, xấu hổ vì cha nghèo, lúc cha ốm đau không đến thăm vì còn mải thú vui riêng, khi cha qua đời, không có mặt và đến bây giờ không đưa cha về nơi an nghỉ cuối cùng. Mà đấy là người cha thương con rất mực và chưa từng làm điều gì nên tội. - Chi tiết hai chiếc xe có treo huy hiệu nhưng không có người ngồi là hình ảnh rất đạt mà nhà văn đã đưa vào đám tang. Nó vừa là sự có mặt, vừa là sự vắng mặt của hai vợ chồng Đơ Re-xtô và Đơ Nuy-xin-ghen, nhưng chủ yếu là hai bà vợ. Vắng mặt thật và có mặt giả. Điều này làm gợi nhớ cho những ai quên là lão Gô-ri-ô có hai cô con gái. Nó tăng thêm tính chất bi đát cho số phận và đám tang của người cha bất hạnh. Nếu không có hai chiếc xe ấy, chắc linh hồn người xấu số nằm trong chiếc quan tài kia đỡ đau buồn hơn nếu linh hồn tồn tại. Và những người chứng kiến đám tang cũng đỡ đau buồn hơn. 4. Nhân vật Ra-xti-nhắc:- Ra-xti-nhắc là một thanh niên nghèo ở nông thôn, quyết chí lên Pa-ri lập nghiệp, đang định học Luật. - Thái độ, tình cảm và hành động của Ra-xti-nhắc trong những ngày sống ở quán trọ bà Vô-ke, cạnh phòng lão Gô-ri-ô, nhất là trong đám tang lão Gô-ri-ô chứng tỏ rằng anh vẫn là chàng trai tốt bụng, giàu tình cảm, biết thương người. Bàn tay nắm chặt tay Cri-xtô-phơ trong phút hạ huyệt và những giọt nước mắt của Ra-xti-nhắc là chân thành xúc động trong trắng và thiêng liêng. Anh ta cũng nghèo nhưng đã tự nguyện đứng ra lo liệu đám tang người quá cố bằng những đồng tiền cuối cùng của mình. - Chúng ta xúc động trước tấm lòng của Ra-xti-nhắc với lão Gô-ri-ô và cái nghẹn ngào của chàng xiết chặt bàn tay Cri-xtô-phơ mà không nói nên lời, về giọt nước mắt của chàng như được thăng hoa qua lời bình của người kể chuyện: giọt nước mắt trào ra vì những mối xúc động thiêng liêng của một trái tim trong trắng, cái thứ nước mắt rơi xuống mặt đất rồi từ đó lại vút lên đến tận trời cao. Nhưng đấy lại là giọt nước mắt cuối cùng của người trai trẻ. Nhà văn muốn xây dựng Ra-xti-nhắc thành một nhân vật cũng bị biến chất đi trong xã hội tôn thờ tiền tài và danh vọng. Giọt nước mắt đánh dấu bước ngoặt quá trình phát triển tính cách chàng, trở thành cái mốc phân chia hai giai đoạn của đời chàng. Những điều chứng kiến đau lòng về thói đời đen bạc không làm cho chàng rút ra được những bài học đúng đắn về cách xử thế, mà lại là bài học tiêu cực vứt bỏ bản chất tốt đẹp của mình. - Mầm mống của sự chuyển biến tính cách này thực ra đã có từ lâu, nhưng bây giờ mới là thời điểm quyết định. Vẫn đôi mắt ấy thôi, nhưng lúc nãy là giọt nước mắt trào ra, còn bây giờ là cái nhìn gần như thèm thuồng vào cái nơi tập trung của xã hội thượng lưu, cái nhìn như hút trước nước mật của nó. Ngôn từ của người kể chuyện bắt đầu chuyển sang giọng phê phán. - Dưới ngòi bút của Ban-dắc, cái khoảng thành phố Pa-ri giữa cột đồng trụ của quảng trường Văng-đôm và đỉnh mái tròn điện Anh-va-lít vừa là khung cảnh hiện thực, nơi sinh hoạt của những kẻ giàu sang thời đó, vừa mang ý nghĩa tượng trưng cho xã hội thượng lưu nói chung. Ra-xti-nhắc nhân cách hóa nó, hình dung nó như một đô vật mà chẳng phải chiến thắng. Không phải ngẫu nhiên mà nhà văn viết hoa từ Xã Hội ở câu cuối. - Ra-xti-nhắc thách thức với Xã Hội: Giờ đây còn mày với ta, nhưng thực ra lời thách thức ấy báo hiệu sự đầu hàng. Từ nay chàng sẽ sống theo quy luật của xã hội thượng lưu kia và chàng chấp nhận lối sống đó, một lối sống giả dối, không tình người của nó. Chàng sẽ làm tất cả để được giàu sang và danh giá. - Đám tang lão Gô-ri-ô kết thúc tiểu thuyết này, khép lại cuộc đời của lão Gô-ri-ô, nhưng lại mở ra cuộc đời của Ra-xti-nhắc. Chàng sẽ giàu có, sẽ leo cao trên bậc thang danh vọng và quyền thế, nhưng càng giàu sang thì chàng càng mất dần tâm hồn và tính cách của chàng sinh viên nghèo Ra-xti-nhắc thuở xưa ngụ tại quán trọ bà Vô-ke. IV. Ghi nhớ:- Nội dung: Đoạn trích đã nói lên cảnh đám tang của lão Gô-ri-ô - một đám tang thiếu vắng tính người. Đồng thời qua đó, nhà văn còn muốn phê phán thói đời đen bạc qua các nhân vật trong một xã hội coi đồng tiền cao hơn tình nghĩa. - Nghệ thuật: Nhà văn chỉ kể, chứ tránh không tả, mà kể cũng rất lướt, không dừng lại ở một cảnh nào cả ( nên ta không hình dung được nghi lễ cử hành ở nhà thờ và việc chôn cất ở nghĩa trang ). V. Bài tập nâng cao:- Kể và tả là hai thao tác chủ yếu của người kể chuyện trong các tác phẩm tự sự: + Kể gắn với diễn biến của các sự kiện trong thời gian. + Tả gắn với không gian với không gian bên trong, ngoài, trên, dưới,… với trang phục, diện mạo của các nhân vật. + Mối quan hệ giữa kể và tả: khi kết hợp với tả tỉ mỉ, chi tiết sẽ gây ấn tượng cho người đọc về sự kiện kéo dài. Khi kể kết hợp với tả sơ sài gây ấn tượng cho người đọc về sự kiện chưa đủ. Không tả mà chỉ kể lướt qua gây cảm giác về sự kiện sơ sài. - Đám tang lão Gô-ri-ô ( trích Lão Gô-ri-ô ) không hề tả mà chỉ kể, cũng chỉ kể lướt qua nhưng tác giả đã gây ấn tượng về tình người bạc bẽo. Đám tang xảy ra nhanh chóng bao nhiêu thì tình người càng bạc bẽo bấy nhiêu. Nghĩa tử là nghĩa tận, người ta đối với nhau như thế đấy. Mọi việc làm diễn ra qua quýt và mục đích cũng chỉ vì tiền. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Tư liệu về Trần Thủ Độ
|
|
|
|
Trần Thủ Độ (1194 - 1264) là người có công rất lớn trong việc dứt bỏ nhà Lý đã tàn tạ mà lập ra triều Trần (1226 - 1400). Hậu thế mãi mãi ghi nhớ câu nói thể hiện khí phách hiên ngang đáng kính của ông trong cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ xâm lăng lần thứ nhất : Đầu thần chưa rơi xuống đất, bệ hạ chớ có lo gì nhưng ít ai chú ý đến những chi tiết rất độc đáo khác trong lí lịch cuộc đời của Đại Việt sử kí toàn thư (bản kỉ, quyển 5, tờ 28b Và 29a) chép như sau : “Thủ Độ tuy không có học vấn nhưng tài hơn người, làm quan triều Lý được mọi người suy tôn. Thái Tôn lấy được thiên hạ đều nhờ vào mưu sức của ông cả, vì thế, ông được nhà nước dựa cậy, quyền át cả vua. Bấy giờ có kẻ đàn hặc ông, vào gặp Thái Tông, khóc mà nói rằng: Bệ hạ còn thơ ấu - mà Thủ Độ thì quyền át cả vua, xã tắc rồi sẽ ra sao?”. Thái Tông lập tức ra lệnh cho xe ngựa đến dinh Thủ Độ, bắt cả người đàn hặc ấy đem theo và kể hết những lời người ấy nói cho Thủ Độ biết. Thủ Độ trả lời rằng : Quả có đúng như những lời hắn nói thật”. Xong, đem tiền, lụa mà thưởng cho. Linh Từ Quốc Mẫu có lần ngồi kiệu đi qua thềm cấm, bị quân hiệu ngăn lại, về dinh khóc với Thủ Độ rằng: “Mụ này làm vợ ông mà bị bọn quân hiệu khinh nhờn đến thế ư?”. Thủ Độ tức giận liền sai người đi bắt người quân hiệu kia. Người quân hiệu ấy nghĩ rằng mình chắc là phải chết. Đến nơi Thủ Độ vặn hỏi trước mặt Linh Từ, người quân hiệu ấy cứ theo sự thực mà trả lời. Thủ Độ nói: ”Ngươi ở chức thấp mà gia được luật pháp, ta còn trách gì được nữa”. Nói xong, đem vàng lụa thưởng cho. Có lần Thủ Độ đi duyệt định hộ khẩu, bà Quốc Mẫu xin riêng cho một người được làm chức câu đương, Thủ Độ gật đầu rồi ghi rõ họ tên quê quán người đó. Khi xét duyệt đến xã ấy, liền hỏi tên nọ ở đâu, người đó mừng rỡ chạy đến. Thủ Độ bảo hắn: Người vì có công chúa xin cho được làm câu đương, không thể ví như những câu đương khác được, phải chặt một ngón chân để phân biệt với người khác!”. Người đó van xin mãi mới tha cho. Từ đó không ai dám đến thăm Thủ Độ vì việc riêng nữa. Thái Tông có lần muốn cho người anh của Thủ Độ là An Quốc làm tể tướng, Thủ Độ tâu: An Quốc là anh thần, nếu cho là giỏi hơn thần thì thần xin trát sĩ, còn nếu cho thần giỏi hơn An Quốc thì không thể cử An Quốc. Nếu anh em đều làm tể tướng cả thì việc triều đình sẽ ra sao?”. Vua bèn thôi. Thủ Độ tuy làm tể tướng nhưng mọi việc đều để ý chu tất, vì thế đã giúp nên vương nghiệp và giữ được tiếng tốt cho đến lúc mất”. Lời bàn : Chính quyền nhà Trần là chính quyền của quý tộc họ Trần. Chính quyền ấy cho phép con em quý tộc được quyền sống dựa vào uy danh và bổng lộc của cha ông. Song, đọc chuyện Trần Thủ Độ, ai dám bảo con cháu ông sẽ dựa hơi ông để ức hiếp người đời! Chú thích: - Linh Từ Quốc Mẫu (gọi tắt là Quốc Mẫu) hay công chúa nói đến trong ghi chép trên chính là bà Trần Thị Dung vợ của Trần Thủ Độ. Bà vốn là con gái của Trần Lý, từng là hoàng hậu của vua Lý Huệ Tông, nhà Lý đổ, bà bị giáng là Thiên Cực công chúa và đem gả cho Trần Thủ Độ. Do có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ xâm lược lần thứ nhất, khi mất, bà được phong là Linh Từ Quốc Mẫu. - Chức câu đương: chỉ là một chức dịch nhỏ ở xã. (Theo Việt sử giai thoại của Nguyễn Khắc thuần - NXB Giáo Dục)
|
|
|
|
giải đáp
|
Thuyết minh bài: 'Thái sư Trần Thủ Độ"
|
|
|
|
rần Thủ Độ là nhân vật trụ cột của triều Trần. Ông là công thần sáng lập triều Trần và là người thực tế nắm quyền lãnh đạo đất nước những năm đầu triều Trần, khoảng gần 40 năm (1226-1264). Sử chép: "Thái Tôn lấy được thiên hạ đều là mưu sức của Thủ Độ cả, cho nên nhà nước phải nhờ cậy, quyền hơn cả vua". Trần Thủ Độ cũng là nhân vật bị các sử thần thời phong kiến chê trách nhiều. Dưới ngòi bút của họ, Trần Thủ Độ hiện ra như một quyền thần vô học, có tài mà không có đức, có công với nhà Trần, lại có tội với nhà Lý. Nhưng khi chép về việc "Trần Thủ Độ giết hết tôn thất nhà Lý" trong Đại Việt sử ký toàn thư; Ngô Sĩ Liên cũng chú trong ngoặc đơn là "việc này chưa chắc đã có thực". Nhân dân lại đánh giá ông với cách nhìn khác quan điểm Nho giáo. Trong đền thờ ông trên đồi Lim (Tiên Sơn, Hà Bắc) có hai câu đối treo ở trước bàn thờ như sau: Công đáo vu kim, bất đán Trần gia nhị bách tải. Luận định thiên cổ, kỳ tại Nam thiên đệ nhất lưu. (Công đức của ông để mãi đến ngày nay, không chỉ bó hẹp trong hai trăm năm đời nhà Trần. Sau nghìn đời, công luận đã định, ông đáng liệt vào bậc thứ nhất dưới trời Nam). (**) Trần Thủ Độ sinh năm Giáp Dần (1194) ở làng Lưu Xá, huyện Ngự Thiên, lộ Long Hưng, nay là xã Canh Tân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Tổ tiên ông vốn nối đời làm nghề đánh cá, từ Yên Sinh (Đông Triều, Quảng Ninh) về vùng sông nước Hiển Khánh, Tức Mặc ven bờ sông Hồng (thuộc tỉnh Nam Định ngày nay), rồi sang ở vùng Bát Xá - Tam Nông (tám làng Xá, ba làng Nông) cạnh dòng sông Luộc. Đến đời thân phụ của Trần Thủ Độ và nguyên tổ Trần Lý của nhà Trần thì họ Trần trở nên giàu có, người ở quanh vùng quy phụ, "...nhân có nhiều người cũng nổi lên làm giặc". Nhất là từ khi Trần Lý có người con gái là Trần Thị Dung lấy Hoàng Thái tử Sảm (sau là vua Lý Huệ Tông) thì thanh thế càng lớn. Trần Thủ Độ cùng với những người con ưu tú khác của họ Trần sớm tham gia lập các đội hương binh đi đánh dẹp các thế lực cát cứ khác, lúc đầu nhằm khôi phục cơ nghiệp cho nhà Lý. Năm 1224, ông được nhà Lý phong làm Điện tiền chỉ huy sứ, quản lý các đạo quân bảo vệ kinh thành. "Thủ Độ tuy không có học vấn, nhưng tài lược hơn người, làm quan triều Lý được mọi người suy tôn". Ông mất tháng Giêng năm Giáp Tý (1264), thọ 71 tuổi. Lê Quý Đôn chép trong Kiến văn tiểu lục: "Trần Thủ Độ sau khi chết, chôn ở địa phận xã Phù Ngự, huỵện Ngự Thiên, nơi để mả có hồ đá, dơi đá, chim đá và bình phong bằng đá, chỗ đất ấy rộng đến hai mẫu, cây cối um tùm. Về tư điền, trước vẫn liệt vào hạng thượng đẳng, các quan phủ, huyện, huấn, giáo đến kính tế". Trần Thủ Độ là người có bản lĩnh và cá tính khác thường. Ông xử lý việc gì cũng thẳng thắn, thường quyết đoán theo ý chí của mình, ít chịu để cho tình cảm sai khiến. Cuộc đời và sự nghiệp của Trần Thủ Độ gắn liền với nghiệp đế của họ Trần. Nhưng hiệu quả lịch sử những việc ông làm đã đưa nước nhà qua khỏi cuộc suy vong cuối triều Lý và khởi dựng nên thời đại Đông A rực rỡ những chiến công oanh liệt chống ngoại xâm và những thành tựu xây dựng đất nước. Cuối triều Lý, chính quyền trung ương bất lực trước cuộc suy thoái về kinh tế và hỗn loạn về chính trị. Thiên tai, mất mùa, đói kém xảy ra liên tiếp. Các thế lực cát cứ nổi lên khắp nơi đánh giết lẫn nhau, cướp bóc bừa bãi. Ngoài biên thùy, Chiêm Thành và Chân Lạp thường xuyên quấy phá. Đế quốc Mông Cổ cũng đã tung vó ngựa sang phía Đông đánh Kim, diệt Tây Hạ, chiếm Triều Tiên, chuẩn bị xâm lược Tống và các nước phía Nam. Trong lúc ấy, vua Lý Cao Tông vẫn mải mê rong chơi, say đắm thanh sắc, thích xây dựng cung điện, đền miếu, không thiết gì đến chính sự. Vua Lý Huệ Tông thì nhu nhược, bệnh hoạn, năm Giáp Thân (1224) truyền ngôi cho con gái là Lý Chiêu Hoàng mới 6 tuổi rồi đi tu ở chùa Chân giáo. Trần Thủ Độ đạo diễn cuộc chính biến tháng Chạp năm ất Dậu (tức tháng 1-1226), xếp đặt việc Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh với lời lẽ trong chiếu nhường ngôi rằng: "...Trẫm là nữ chúa, tài đức đều thiếu, không có người giúp đỡ, giặc cướp nổi lên như ong, giữ thế nào nổi ngôi báu nặng nề". Làm cuộc đảo chính thay đổi triều đại mà không xảy ra đổ máu và đảo lộn lớn trong nước, Trần Thủ Độ tỏ ra là một nhà chính trị sáng suốt, khôn khéo. Ngay sau khi lên làm vua, Trần Thái Tông phong Trần Thủ Độ làm Quốc thượng phụ nắm giữ mọi việc cai trị thiên hạ. Năm sau lại phong Trần Thủ Độ làm thái sư giữ tất cả việc hành quân, đánh dẹp trong nước. Ông là một nhà lãnh đạo tài giỏi và tận tụy chăm lo việc nước. Phàm công việc gì làm cho đế nghiệp Đông A vững mạnh, ông đều cương quyết làm bằng được. Năm 70 tuổi, trước lúc chết 5 tháng, sử còn chép việc ông đi tuần ở vùng biên giới Lạng Sơn. "Thủ Độ tuy làm tể tướng mà phàm công việc, không việc gì không để ý. Vì thế đã giúp nên vương nghiệp, giữ được tiếng tốt cho đến lúc mất". Ngay từ những năm đầu triều Trần, ông đã đánh dẹp được các thế lực cát cứ ở các địa phương và tổ chức lại bộ máy hành chính từ trung ương đến cấp xã. Ông đặt ra sổ trướng tịch ghi chép danh sách dân gian trong xã, thôn, từ quan văn, quan võ, binh lính, hoàng nam, trung lão, tàn tật, người ngụ cư... để nắm chắc hộ khẩu trong nước. Có lần duyệt định hộ khẩu, bà Linh Từ quốc mẫu muốn xin riêng cho một người làm câu đương (một chức dịch trong xã). Ông gật đầu, rồi ghi tên họ, tên quê quán. Khi xét đến xã ấy, hỏi tên ấy đâu, người ấy mừng rỡ chạy đến. Trần Thủ Độ nói: "Ngươi vì có công chúa xin cho được làm câu đương, không thể ví như những câu đương khác được, phải chặt một ngón chân để phân biệt". Người ấy kêu van xin thôi, hồi lâu mới tha cho. Từ đấy không ai dám đến thăm vì việc riêng nữa. Ông đề cao tư tưởng pháp trị, định ra luật lệ, quy chế hành chính và gương mẫu thực hiện. Sử còn chép chuyện Linh Từ quốc mẫu có lần ngồi kiệu đi qua chỗ thềm cấm bị người quân hiệu ngăn lại. Về nhà bà khóc bảo với Trần Thủ Độ rằng: "Mụ này làm vợ ông mà bọn quân hiệu ấy khinh nhờn như thế". Thủ Độ giận sai đi bắt. Người quân hiệu ấy chắc là phải chết. Khi đến nơi, Thủ Độ vặn hỏi trước mặt, người quân hiệu đem sự thực trả lời. Thủ Độ nói: "Ngươi ở chức thấp mà biết giữ phép nước như thế, ta còn trách gì nữa". Rồi lấy vàng lụa thưởng cho người ấy. Là người có công dựng nước, có tài trị nước, vua cũng ít khi dám trái ý. Bấy giờ có người đàn hặc ông, vào gặp Thái Tông, khóc mà nói rằng: "Bệ hạ trẻ thơ mà Thủ Độ quyền hơn cả vua, đối với xã tắc sẽ ra sao?". Vua lập tức cùng người ấy đến nhà Trần Thủ Độ và nói lại chuyện đó. Trần Thủ Độ trả lời: "Đúng như lời người ấy đã nói", rồi lấy tiền lụa thưởng cho người ấy. Trần Thái Tông vì quý trọng Thủ Độ nên muốn dùng anh ruột ông là An Quốc làm tể tướng. Ông thẳng thắn nói với vua: "An Quốc là anh thần, nếu là người hiền thì thần nên nghỉ việc, nếu cho thần là hiền hơn An Quốc thì không nên cử An Quốc. Nếu anh em cùng là tể tướng thì việc trong triều đình sẽ ra sao". Vua bèn thôi. Trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất chống quân xâm lược Mông Cổ, Trần Thủ Độ có vai trò hết sức quan trọng. Tháng 12 năm Đinh Tỵ (tức tháng 1-1258), quân Mông Cổ, sau khi tiêu diệt nước Đại Lý (Vân Nam), đã tiến vào lưu vực sông Hồng. Thế giặc rất mạnh. Quân Đại Việt bị đánh lui, vua Thái Tông phải bỏ Thăng Long rút xuống phía nam. Vua ngự thuyền nhỏ đến thuyền em ruột là Thái úy Trần Nhật Hạo hỏi kế. Nhật Hạo lấy ngón tay chấm nước viết hai chữ "Nhập Tống" ở mạn thuyền, ý khuyên vua nên chạy sang nhờ vả nước Tống. Vua bèn rời thuyền đến hỏi Thái sư Trần Thủ Độ, Trần Thủ Độ trả lời: - Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo! Vào lúc gay go nhất của cuộc kháng chiến, câu trả lời đanh thép ấy của ông đã giữ vững được tinh thần dám đánh và quyết thắng của quân dân Đại Việt trong cuộc phản công quyết liệt đánh vào Đông Bộ Đầu ngày 29-1-1258, buộc địch phải rút chạy về nước. Trần Thủ Độ xứng đáng được xếp vào hàng những nhân vật kiệt xuất, đi đầu trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước trong lịch sử dân tộc. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Soạn bài: "Thái sư Trần Thủ Độ"
|
|
|
|
I. YÊU CẦU CƠ BẢNPhương pháp viết sử, đặc biệt là sử biên niên của Đại Việt sử kí toàn thư là kết hợp giữa biên niên với tự sự, lấy thời gian làm trục chính, trên cơ sở đó, các sự kiện lịch sử được trình bày theo trình tự: năm, mùa, tháng, ngày... Tính chất văn trong tác phẩm lịch sử có những đặc điểm riêng. Đại Việt sử kí toàn thư nói chung và phần bài viết về Thái sư Trần Thủ Độ nói riêng đã đạt tới trình độ một tác phẩm nghệ thuật hoàn hảo. Tác giả chọn lọc sự kiện, tạo tình huống và cách giải quyết tình huống kịch tính, gây bất ngờ, hồi hộp cho người đọc. Qua tác phẩm sử kí Thái sư Trần Thủ Độ, tác giả ngợi ca nhân cách chính trực, giữ vững phép nước, chí công vô tư của nhân vật lịch sử nổi tiếng Trần Thủ Độ. Từ đây, bài sử kí nêu cao lòng tự hào về con người Việt Nam. II. ĐỌC - HIỂU1. Giải thích một số từ ngữ, lập dàn ý cho đoạn trích.Quốc mẫu: từ gọi tắt của "Linh từ quốc mẫu", ở đây chỉ người vợ của Trần Thủ Độ. Công chúa: Nguyên là Hoàng hậu của vua Lý Huệ Tông, khi nhà Lý mất, bà bị giáng làm công chúa rồi lấy Trần Thủ Độ. Vậy: Quốc mẫu hay công chúa đều chỉ vợ của Trần Thủ Độ. + Dàn ý của đoạn trích có 3 phần: - Phần mở đầu: Thông báo hai sự kiện: Thái sư Trần Thủ Độ mất và danh hiệu ông được truy tặng. - Phần chính: Kể về bốn sự kiện, mỗi sự kiện bộc lộ một khía cạnh nhân cách của Trần Thủ Độ. + Đối với người “hặc” tội mình. + Đối với người lính giữ thềm cấm. + Đối với kể cậy nhờ xin chức tước. + Đối với thói gia đình trị, kéo bè kết đảng. - Phần cuối: Lời đánh giá của tác giả về Trần Thủ Độ. 2. Phân tích nhân cách, phẩm chất con người Trần Thủ Độ qua bốn sự kiện?+ Kể về cuộc đời Trần Thủ Độ, sử gia Ngô Sĩ Liên đã chọn bốn sự kiện, mỗi sự kiện bộc lộ một khía cạnh về nhân cách Trần Thủ Độ: - Sự kiện thứ nhất: Trần Thủ Độ với người hặc. Thông thường, người ta ghét kẻ vạch tội lỗi hoặc khuyết điểm của mình. Trần Thủ Độ không như vậy. Ông nhận "đúng như lời người ấy nói" và thật bất ngờ, ông "lấy tiền lụa thưởng cho anh ta". Sự kiện này cho thấy Trần Thủ Độ không chỉ thẳng thắn, nghiêm khắc đối với bản thân mà còn khích lệ người trung thực, dũng cảm vạch tội lỗi, sai lầm của người khác cho dù người đó ở ngôi vị cao. - Sự kiện thứ hai: Trần Thủ Độ với người lính giữ thềm cấm. Nghe vợ nói, Thủ Độ giận, sai bắt người về nhưng sau khi vặn hỏi Thủ Độ không những không trách tội mà còn thưởng. Như vậy, ông đã khích lệ mọi người giữ nghiêm phép nước cho dù họ có làm ảnh hưởng đến gia đình riêng của mình. - Sự kiện thứ ba: Trần Thủ Độ với người xin làm "câu đương" Quốc mẫu trực tiếp xin Trần Thủ Độ cho người nọ nên ông đã có cách ứng xử rất tế nhị: đồng ý với vợ, ghi tên họ nhưng gọi lên và ra điều kiện (chặt một ngón chân). Như vậy Trần Thủ Độ vừa không làm mất lòng Quốc mẫu (vợ) vừa răn đe những kẻ ỷ thế, cậy quen biết để xin xỏ chức tước khi không đủ tư cách đảm nhiệm. - Sự kiện thứ tư: Trần Thủ Độ với việc làm tướng của người anh trai. Lẽ thường, khi anh mình được vua ban chức tước, người em phải mừng và nhận nhưng Thủ Độ đã kiên quyết từ chối. Đây là việc làm thể hiện thái độ chống lại thói gia đình trị, kéo bè kết đảng, sử dụng những người không có thực lực. Qua bốn sự kiện trên, tác giả đã khắc hoạ thành công chân dung Thái sư Trần Thủ Độ. Đó là người biết lắng nghe sự phê bình của người khác, biết khích lệ những người ngay thẳng, dũng cảm, giữ nghiêm phép nước, chống lại những thói xấu: ỷ quyền thế, dựa quen biết, anh em để kéo bè đảng, xin chức tước, mưu cầu quyền lợi cá nhân, gia đình... Đó là một nhân cách lớn, là tấm gương sáng cho muôn đời, muôn người đặc biệt là những người có chức, có quyền. 3. Phân tích lối viết sử bất ngờ, kịch tính nhưng kiệm lời của tác giả.Để làm nổi bật chân dung nhân cách Trần Thủ Độ, tác giả đã có lối viết sử hấp dẫn, tạo những yếu tố bất ngờ, kịch tính nhưng lại rất kiệm lời. Qua mỗi sự kiện, người đọc đều thấy rõ điều đó. Kết quả các sự kiện luôn ngược với dự đoán của người đọc. Trước người hặc tội mình, ta tưởng Trần Thủ Độ sẽ nổi giận rồi trừng phạt nhưng ngược lại, thật bất ngờ khi ông trả lời: "Đúng như lời người ấy nói" và bất ngờ hơn nữa, thưởng tiền lụa cho người ấy. Tác giả đưa người đọc đi hết từ bất ngờ này đến bất ngờ khác, bất ngờ sau lớn hơn bất ngờ trước. Với người lính canh thềm cấm, ban đầu Thủ Độ "giận", "sai đi bắt" nhưng thật bất ngờ khi ông nói: "Ngươi ở chức thấp mà biết giữ phép như thế, ta còn trách gì nữa?" rồi ban thưởng anh ta. Sự kiện với người xin chức câu đương còn bất ngờ và thú vị hơn. Cái gật đầu và việc ghi tên họ, quê quán của người nọ cho thấy Thủ Độ hoàn toàn đồng ý. Ngay cả việc gọi người ấy lên cũng cho thấy ông không quên. Song thật bất ngờ khi ông đòi chặt một ngón chân anh ta khiến anh ta phải cầu xin. Với người ngoài thì như vậy còn với anh mình thì thế nào? Trong lúc ta tưởng Trần Thủ Độ sẽ nhận và tạ ơn vua thì ông đã buông một câu nói đầy cương quyết và chặt chẽ để từ chối. Thái sư Trần Thủ Độ là một tác phẩm sử kí có giá trị văn học nghệ thuật lớn. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
giúp lập dàn ý !!!
|
|
|
|
MB. - Nói về ý nghĩa giữa tình thương giữa con người với con người trong cuộc sống + Cuộc sống không thể thiếu tình thương + Không có tình yêu thương tâm hồn con người trở nên khô cằn, sỏi đá; cuộc sống sẽ đơn điệu, vô nghĩa + Không có tình yêu thương, bạo lực tội ác, sự ích kỉ sẽ leo thang.. TB. - Tình yêu thương là truyền thống quí báu của dân tộc ta + Trích dẫn: Thương người như thể thương thân/ Một con ngựa đau.../Lá lành đùm lá rách + Không chỉ yêu thương người thân trong gia đình mà còn yêu thương cả đồng loại - Truyền thống đó vẫn được phát huy cho đến tận ngày nay, đặc biệt là được giới trẻ ý thức và coi trọng + Nhiều nghĩa cử, hành động, phong trào được giới trẻ phát động xuất phát từ tình thương người + Các phong trào từ thiện, hiến máu nhân đạo, ủng hộ người nghèo, người bị thiên tai, bệnh hiểm nghèo (dẫn chứng) - Bên cạnh đó cũng có một bộ phận thiếu tình yêu thương con người + Họ sống chỉ biết đến bản thân + Vô cảm trước những nổi đau, mất mát, bất hạnh của những người xung quanh + Làm tổn thương người khác để thỏa mãn sự ích kỉ của mình.. => Tuy đây là số ít nhưng cần lên án, để họ thay đổi nhận thức KB - Cần tiếp tục phát huy truyền thống - Giáo dục giới trẻ về tình thương - Rút ra bài học cho bản thân
|
|
|
|
giải đáp
|
Tiền tài và hạnh phúc
|
|
|
|
1. Tiền tài Tiền là những giá trị vật chất mà trong quá trình lao động và làm việc con người kiếm được. Có 2 loại tiền: + Đồng tiền chân chính +Đồng tiền bất lương. Tài: là tài năng, trí tuệ, tri thức. Được xây dựng trong quá trình học tập rèn luyện, có thể là bẩm sinh. Dùng để sử dụng và chi tiêu, phục vụ cho cuộc sống, rất quan trọng và hết sức cần thiết. Mặt
trái của đồng tiền : sai khiến con người làm việc sai trái, đổi trắng
thay đen, biến giả thành thật, hủy hoại nhân cách con người. ⇒ chúng ta cần thừa nhận sức mạnh của đồng tiền.
2. Hạnh phúc Hạnh phúc là trạng thái sung sướng khi hoàn toàn đạt được những điều mình muốn. Hạnh phúc được xây dựng trên những giá trị mang ý nghĩa xã hội và tinh thần chân chính. ⇒Làm thế nào để có được hạnh phúc? Hạnh
phúc không phải là sản phẩm, quà tặng từ bên ngoài mà chỉ đến với những
ai thực sự nỗ lực, những ai có trái tim nhân ái, biết trân trọng và yêu
thương con người.
3. Bình luận về mối quan hệ giữa tiền tài và hạnh phúc Trong
hạnh phúc, tiền tài công danh nhiều khi chỉ là sự hư ảo vì nó không có
hiệu lực để sản sinh ra tình yêu, lòng nhân ái, nhân phẩm và óc sáng
tạo. Nếu coi đồng tiền là mục đích cao nhất thì sẽ không chỉ rơi vào
bi kịch mà còn bị hủy hoại về nhân cách, gia đình tan nát, mọi người
khinh bỉ, xa lánh,.... Nhưng nếu biết sử dụng đồng tiền đúng mục đích thì nó sẽ đem lại nhiều niềm vui và hạnh phúc cho con người. ⇒
Điều quan trọng là phải tạo sự hài hòa giữa đời sống vật chất và tinh
thần, muốn làm được điều ấy đòi hỏi con người không ngừng nỗ lực, phấn
đấu học tập, lao động và rèn luyện đạo đức.
|
|
|
|
giải đáp
|
Soạn bài: "Thư dụ Vương Thông lần nữa"
|
|
|
|
I. YÊU CẦU CẦN ĐẠTThư lại dụ Vương Thông của Nguyễn Trãi là một tác phẩm nghị luận sắc bén, mạnh mẽ, giàu sức thuyết phục. Bức thư đã thể hiện ý chí quyết thắng, tinh thần yêu chuộng hoà bình của quân dân ta. Bức thư cũng thể hiện chiến lược "công tâm" (đánh vào lòng người) của Nguyễn Trãi vì thế mà "có sức mạnh hơn mười vạn tinh binh". II. GỢI Ý ĐỌC HIỂU1. Nêu mục đích của bức thư?Nguyễn Trãi thuyết phục Vuơng Thông ra hàng để không phải chứng kiến cảnh can qua, máu xương hao tổn không cần thiết, mà thất bại vẫn hoàn thất bại. Tất cả lời lẽ, dẫn chứng, tình lý đều nhẳm thực hiện mục đích ấy. 2. Tìm hiểu bố cục bức thư.Bức thư có thể chia làm 3 phần lớn: - Phần I: Từ đầu đến "Sao đủ để cùng nói việc binh được" (Nêu cao tư tưởng dùng binh, tầm quan trọng của "thời"và "thế"). - Phần II: Từ "Trước đây các ông..." đến "...bại vong có sáu" (Phân tích tình hình "trước đây" và "hiện nay" đặc bịêt là 6 nguyên nhân dẫn tới bại vong tất yếu của quân giặc). - Phần III: Còn lại (Khuyên giặc ra hàng). Các phần trong bức thư tuân thủ theo mạch lô-gic vô cùng chặt chẽ: Lời khuyên phải có cơ sở tư tưởng trước nhất (phần 1). Trên cơ sở tư tưởng mà phân tích tình hình, chỉ ra nguyên nhân thất bại của đối phương (phần 2). Từ đó khuyên đối phương sớm hàng phục (phần 3). Mạch logic này thể hiện tính tối ưu trong nghệ thuật lập luận, không thể thay đổi. 3. Tìm hiểu tư tưởng bức thư, tình thế và nguyên nhân thất bại của giặc.Tác giả mở đầu bức thư bằng tử tưởng dùng binh, một trong những tư tưởng quan trọng của binh pháp là hiểu biết "thời"và "thế: "Được thời và thế thì biến mất thành còn, hoá nhỏ thành lớn; mất thời không thế thì hoá mạnh ra yếu, yên lại thành nguy". Đây chính là điểm yếu nhất của đối phương trong tình hình hiện tại. Bức thư chỉ rõ tình thế của giặc ở Trung Quốc cũng như Việt Nam: Ở Trung Quốc" Ngô mạnh không bằng Tần", phía Bắc có địch " Thiên Nguyên", phía Nam có nội loạn " Tầm Châu"... Ở Việt Nam giặc đang ở "kế cùng lực kiệt, lính tráng mỏi mệt, trong không lương thảo ngoài không viện binh" và điều quan trọng là làm "điều phi nghĩa" trái với lòng dân. Trên cơ sở phân tích tình hình, tác giả vạch rõ sáu nguyên nhân dẫn tới thất bại của giặc minh: Bên trong thiếu thốn "người chết quân ốm"- Bên ngoài, "viện binh đã bại " - Trong nước còn phải lo "phòng thủ quân Nguyên" - "Người chẳng sống yên, nhao nhao thất vọng" - nội bộ lục đục "gian thần", "chúa yếu" "xương thịt hại nhau "- Phía ta "trên dưới đồng lòng anh hùng tận lực". Từ việc phân tích tình hình và sáu nguyên nhân dẫn đến thất bại khiến cho đối phương dù muốn hay không cũng phải thừa nhận "tâm phục khẩu phục", tác giả đưa ra lời khuyên chỉ ra con đường tất yếu là chỉ có ra hàng mới "xét rõ sự cơ, hiểu sâu thời thế". Ra hàng sẽ "bảo đảm được yên ổn" lại được "nước tôi" "phụng cống xưng thần". Cuối cùng tác giả không quên chứng tỏ thực lực bằng việc thánh thức giặc "giao chiến" "một trận thư hùng". Như vậy, tất cả những điều đã nói không phải chỉ là nói suông. Lí lẽ mạnh mẽ như "sức mạnh hơn mười vạn binh". 4- Phân tích tư thế của người viết thư.Đọc kĩ bức thư, chú ý lời xưng hô và các hình ảnh tiêu biểu để thấy được tư thế của người viết. Mở đầu, tác giả xưng hô rất trang trọng "Thư kính đưa...". Tính chất trang trọng ấy được duy trì từ đầu đến cuối nhưng đọc kỹ sẽ thấy trong lời lẽ có sự châm biếm, mỉa mai, phê phán một cách kiên quyết, không kiêng dè đặc biệt những hình ảnh mang tính miệt thị: "hạng thất phu đớn hèn" "thế là có phải đại trượng phu không, hay chỉ là đàn bà thôi" "Cái lối đàn bà mang cái nhục khăn yếm"... Ngay trong cách xưng hô, mặc dù trang trọng gọi "các ông" nhưng xưng "ta", "chúng ta "... cũng ngầm đặt mình ở thế trên. Điều đó cho thấy người viết ở tư thế chiến thắng, tư thế nắm chính nghĩa đang được "thời" và có "thế". 5- Phân tích niềm tin tất thắng và tinh thần yêu chuộng hoà bình.Bức thư thể hiện niềm tin tất thắng và tinh thần yêu chuộng hoà bình của tác giả và quân dân nước Việt. Điều này thể hiện rõ trên mọi phương diện từ việc đánh giá tình hình: Ta mạnh địch yếu đến việc chỉ ra sáu nguyên nhân dẫn đến bại vong tất yếu của địch. Từ việc khuyên địch ra hàng đến việc sẵn sàng thách thức "một trận thư hùng". Tinh thần yêu chuộng hoà bình thể hiện rõ ở cuối lời dụ (trước khi đưa ra lời thách thức): "Nếu muốn rút quân về nước, ta sẽ sửa sang cầu cống, mua sắm tàu thuyền ...theo như lệ trước". Điều này không chỉ thể hiện trên lời nói mà bằng việc làm cụ thể sau chiến thắng (Nguyễn Trãi đã đề cập đến trong Bình Ngô Đại Cáo). 6- Nhận xét về nghệ thuật lập luận của tác giả.Nghệ thuật lập luận của tác giả sắc bén, khúc chiết, mạnh mẽ, giàu sức thuyết phục. Các dẫn chứng đều lấy từ thực tế, tiêu biểu và chân thực, bố cục rõ ràng, mạch lạc và hết sức lô-gic, phân tích vừa có lý vừa có tình, tất cả đều tập trung làm rõ tư tưởng, lập trường, quan điểm. Bức thư thể hiện tính mẫu mực trong nghệ thuật lập luận của một áng văn nghị luận cổ điển. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Cảm nhận về bài "Thư dụ Vương Thông lần nữa"
|
|
|
|
"Quân trung từ mệnh tập" là một tác phẩm văn chính luận mẫu mực của Nguyễn Trãi. Đó là những bức thư do Nguyễn Trãi viết, lấy lời lê lợi gửi cho bọn tướng lĩnh giặc Minh và lũ đầu sỏ ngụy quan, ngụy quân. "Thư dụ Vương Thông lần nữa" là bức thứ số 35 gửi vương thông được nguyễn trãi viết vào khoảng tháng 2 năm 1427. lúc bấy giờ, vương thông còn cố thủ ở thành đông quan (thăng long) ,viện binh của giặc do liễu thăng, mộc thạnh rục rịch kéo sang. Trong bức thư này, nguyễn trãi đã chỉ rõ cho vương thông và bè lũ thấy rõ chúng đang sống trong tình thế muôn vàn khó khăn nguy ngập, binh cùng lực kiệt, bại vong là tất yếu. nguyễn trãi khuyên vương thông fải rút quân về nước, "muôn phần bảo đảm được yên ổn"; nếu ko nghe lời thì hãy sắm quân dàn trận "quyết 1 trận thư hùng" để xem tài hơn kém. Lời lẽ trong bức thư khiêm nhường,trầm tĩnh, vừa cóp lí vừa có tình, phần cuối có tính quyết liệt. vương thông được gọi là " quan tổng binh" ,bọn tướng lĩnh của hắn được gọi là "các vị đại nhân". lê lợi tự xưng là "ta" và dùng chữ "thư kính đưa" mở đầu bức thư. cái tâm thế đó là cái tâm của người quân tử,của người chiến thắng,nắm rõ thới cuộc,đề cao nhân nghĩa. mở đầu bức thư, nguyễn trãi phân tích về thời và thế, đánh vào cân não của vương thông,lúc bấy giờ đang ngoan cố chống giữ chờ viện binh :"được thời và có thế thì biến mất thành còn,hóa nhỏ thành lớn ;mất thời là ko thể,thì mạnh hóa ra yếu, yếu lại thành nguy,sự thay đổi ấy chỉ ở trong khoảng trở bàn tay". người dùng binh giỏi thì mới hiểu biết được thời thế. ko chỉ dùng lí lẽ sắc bén,mà nguyễn trãi còn khinh thường coi lũ chúng chỉ là quân "dối trá","hạng thất phu đớn hèn",lũ tầm thường bạc nhược "sao đủ để cùng nói việc binh được ?" quan tổng binh và các vị đại nhân của thiên triều đã bị sỉ nhục ! Phần tiếp theo, nguyễn trãi vạch trần tim đen của lũ chúng " trong lòng gian dối,ngoài mặt mượn cớ giảng hoà,đắp lũy đào hào,chờ quân cứu viện,lòng dạ và hành động bất đồng,trong ngoài bất nhất,sao đủ khiến ta tin mà ko ngờ được". nguyễn trãi nhắc lại chuyện nhà tần xưa kia mạnh hơn nhà ngô mà còn bị "thân mất nước tan". còn nhà ngô (nhà minh),trong nước thì loạn lạc,phía bắc thì có kẻ địch thiên nguyên,ko tự giử được nước mình lại còn toan đi cướp nước người,"tất sẽ theo nhau mà chết". Nguyễn Trãi phân tích cho bọn chúng biết: viện binh càng đến "càng mau chết mà thôi", dù có bọn trương phụ kéo sang chỉ để "nộp mạng". tình thế của vương thông vô cùng thảm hại:"kế cùng lực kiệt",bám hờ vào khu thành mọn,thoi thóp chờ viện binh, # nào "thịt trên thớt,cá trong nồi". nội tình càng bi đát,khốn quẫn bức bách,quân tướng ở các thành từ đô ti trở xuống "đều căm giận các ông lừa dối",sớm muộn các ông sẽ "bị chình thuộc hạ giết hại". đó là kết cục tất yếu bị thảm của những kẻ thủ ác và phản trắc xưa nay. Nguyễn Trãi đã lần lượt chĩ ra "6 cơ bại vong" của vương thông lúc bấy giờ : 1.cô thành "tường rào đổ lỡ,lương cỏ thiếu thốn,ngựa chết quân ốm "; 2.bị vây chặt,viện binh kéo đến "tất nhiên bị bại"; các ông "còn trốn đẳng giời" ; 3.nước ông "binh khỏe ngựa béo" còn lo phòng thủ quân nguyên; 4.trong nước các ông "can wa liên miên" ,lòng người "thất vọng"; 5.triều đình nhà minh rồi loạn "gian thần chuyên chính,chúa yếu trị vì,xương thịt hại nhau"; 6.về phía ta "trên dưới đồng lòng,anh hùng tận lực,quân lính càng luyện,khí giới càng tinh,vừa cày ruộng vừa đánh giặc", còn các ông "quân sỉ mỏi mệt,tự chuốc diệt vong". chỉ 6 tháng sau khi gnuyễn trãi viết bức thư này cho vương thông 2 cánh viện binh của giặc do liễu thăng với 15 vạn quân kéo vào lạng sơn,mộc thanh chỉ huy 5 vạn quân tiến vào lào cai vào tháng 8 năm đinh mùi (9/1427). cả 2 cánh viện quân đều thảm bại : "ngày 18, trận chi lăng liễu thăng thất thế, ngày 20,trận mã yên,liễu thăng cụt đầu, ngày 25,bá tước lương minh đại bại tử vong, ngày 28,thượng thư lí khánh cùng kế tự vẫn ". tại chiến trường lào cai,quân vân nam nghi ngờ khiếp vía vỡ mật,máu ngập suối thông chất đầy rừng: "suối lãnh câu máu chảy trôi chày,nước sống nghẹn ngào tiếng khóc; thành đan xá thây chất thành núi,cỏ nội đầm đìa máu đen" ("bình ngô đại cáo") Qua đó ta thấy,"6 cơ bại vong" mà nguyễn trãi chỉ cho vương thông,đã thề hiện 1 tầm nhìn sâu rộng chiến lược của thiên tài quân sự nguyễn trãi. Trở lại bức thư,sau khi nêu lên 6 cơ bại vong tất yếu của quân minh, nguyễn trãi khuyên vương thông fải thức thời,vì "nước xa ko cứu được lửa gần",nếu cứ "ngồi giữ 1 thành con" để chờ bại vong thì "thật tiếc thay". Phương Chỉnh, Mã Kì là 2 tên tướng giặc vô cùng tàn bạo và ngoan cố hiếu chiến đã gây nên bao tội ác như "đào mồ mã của làng ấp ta","bất vợ con của dân ta", làm những chuyện hà ngược....nguyễn trãi khuyên vương thông và bọn tướng sĩ nhà minh "nên chém đầu phương chính,mã kì đem đến cửa quân dâng nộp". đó là 1 lời cảnh cáo đánh vào cân não lũ vương thông. Cuối bức thư,nguyễn trãi vạch ra 2 đường cho lkũ giặc.1 là, nên sớm "rút quân về nước","can qua xếp bỏ", thì "muôn phần bảo đảm được yên ổn,ko lo ngại j`". 2 là,nếu ngoan cố và hiếu chiến "thì nên sắm quân dàn trận,ra giao chiến ở giaữ đồng = để quyết 1 trận thư hùng",đừng có cái lối "ngồi rũ 1 xó hang cùng bắt chước cái lối đàn bà mang cái nhục khăn yếm như thế !". "Quân trung từ mệnh tập" là kết tinh mưu lược ,tài trí "đánh vào lòng giặc" của người anh hùng nguyễn trãi. nhiều thành trì của giặc đã "cởi giáp,bỏ giáo" xin hàng khi nhận được thư dụ hàng của nguyễn trãi.đúng là 1 bức thư "có sức mạnh = 10 vạn quân". Qua "Thư dụ vương thông lần nữâ", ta thấy ngôn từ của nguyễn trãi rất biến hoá,lập luận sắc bén,chỉ ra sự bại vong tất yếu của giặc minh,lúc cương lúc nhu,vừa có lí vừa có tình,lúc ôn tồn khuyên bảo lúc lớn tiếng trách mắng......bức thư đã phản ánh truyền thống nhân nghĩa và sức mạnh nhân nghĩa đại việt thời "bình ngô" Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Soạn bài Thái phó Tô Hiến Thành
|
|
|
|
I. YÊU CẦU CẦN ĐẠTThấy được nhân cách đáng kính của Tô Hiến Thành: cương trực, giữ nghiêm phép nước, chí công vô tư; tiền tài, danh vọng, uy quyền không thể khuất phục. Qua nhân vật Tô Hiến Thành, tác giả tự hào về nhân cách con người Việt Nam, không khuất phục trước cường quyền, đặt quyền lợi dân tộc lên trên quyền lợi cá nhân. Cách viết sử biên niên của sử gia Đại Việt sử lược là khắc hoạ tính cách nhân vật lịch sử qua việc lựa chọn hoàn cảnh, sự kiện, lời nói, việc làm... của nhân vật. II. ĐỌC - HIỂU1. Dựa vào bài học, hãy cho biết những sự kiện lịch sử năm 1175 có liên quan tới vận mệnh đất nước?Những sự kiện lịch sử có liên quan tới vận mệnh đất nước năm 1175: - Năm 1175, Lý Anh Tông mất, con trai thứ là Long Cán mới hai tuổi lên nối ngôi trước linh cửu, mọi việc triều chính, cụ thể là việc phò Long Cán lên ngôi, đều giao cho Thái phó Tô Hiến Thành. Vì vậy, Tô Hiến Thành là người quyết định sự thành bại của Long Cán. - Thái hậu Đỗ Thuỵ Châu muốn lập Long Sưởng (anh Long Cán) và phế Long Cán. Long Sưởng và Long Cán đều là con đẻ của thái hậu Đỗ Thuỵ Châu. Trước đây Sưởng đã được lập làm Thái Tử. Nhưng tháng 9 năm 1174, vì có lỗi bị giáng làm Bảo Quốc Vương. Theo Đại Việt sử lược, "Sưởng có tính háo sắc" đã từng nghe theo lời mẹ (lúc đó là Hậu) ngầm chuyện tư tình với Nguyên phi Từ Thị (lúc đó đang được vua sủng ái). Từ Thị đem hết hành trạng của Sưởng bạch lại với Anh Tông, vì thế mà Sưởng bị phế. Như vậy, việc Long Sưởng hay Long Cán lên ngôi quan hệ nghiêm trọng tới vận mệnh quốc gia. Trách nhiệm ấy đè nặng lên vai Thái phó Tô Hiến Thành. 2. Nhận xét về Thái hậu qua các mánh khoé, thủ đoạn của bà.Thái hậu biết rõ vai trò quyết định là ở Tô Hiến Thành. Vì vậy, bà đã từng bước mua chuộc, lôi kéo Thái phó. - Tranh thủ Thái phó đi sứ, Thái hậu hối lộ vợ của Tô Hiến Thành để nhờ bà thuyết phục chồng. Việc làm này quá tinh vi, xảo quyệt vì người ta thường nói "lệnh ông không bằng cồng bà". - Thái hậu dùng danh vọng, phú quý làm mồi trực tiếp mua chuộc Tô Hiến Thành. Lời của Thái hậu vừa đánh trúng tâm lý của người lớn tuổi vừa có vẻ đứng về phía Tô Hiến Thành. - Thất bại trước sự cứng rắn của Tô Hiến Thành, Thái hậu liều lĩnh, bất chấp Vương pháp triệu Quốc Bảo Vương Long Sưởng vào để lập làm vua. Tóm lại: Thái hậu dùng đủ mọi thủ đoạn. Nếu Tô Hiến Thành là người tham lợi, cả nể, sợ hãi hoặc không giữ đúng phép nước thì mưu kế của Thái hậu sẽ thành công. Sở dĩ Thái hậu thất bại vì Tô Hiến Thành không biết sợ, không cả nể, không tham lợi và đặc biệt kiên quyết giữ nghiêm phép nước. 3. Nhận xét về bản lĩnh Tô Hiến Thành qua việc ông đã đánh bại âm mưu của Thái hậu.Tô Hiến Thành đã từng bước đánh bại âm mưu của Thái hậu: - Ông dùng đạo lí làm người, trách nhiệm của một tể tướng và tín ngưỡng của dân tộc để thuyết phục vợ không nhận hối lộ. - Ông dùng lời dạy của Khổng tử và cách đối xử với người quá cố trong truyền thống dân tộc để trực tiếp bác lời dụ dỗ của Thái hậu. - Ông kiên quyết dùng pháp luật để nghiêm trị kẻ vi phạm pháp luật. Không thuyết phục được Thái hậu bằng lí lẽ, Tô Hiến Thành đành phải dùng đến uy quyền của luật pháp. Qua đó, ta thấy rõ những phẩm chất đáng quí của Tô Hiến Thành: hiền đức, cương trung, giữ nghiêm kỉ cương phép nước (phú quí bất năng dâm, uy vũ bất năng khuất). Nên nhớ, giữa vua, Thái hậu và Thái phó, người có quyền tối cao không phải là Thái phó song Tô Hiến Thành đã không sợ uy quyền bởi ông làm đúng. Điều đó cho thấy bản lĩnh vững vàng, dù có chết cũng bảo vệ đến cùng phép nước, lợi ích quốc gia. 4. Phân tích kịch tính của đoạn hai.Đoạn hai là đoạn mà kịch tính được đẩy lên cao. Khi Thái hậu hỏi "Nếu có mệnh hệ nào, ai thay ông?". Theo lôgíc thông thường (xét cả về lý cả về tình) ai cũng nghĩ Tô Hiến Thành sẽ tiến cử Vũ Tán Đường, vì Vũ Tán Đường chức cao hơn Trần Trung Tá, lại gần gũi, có nhiều ân tình với Tô Hiến Thành. Nhưng thật bất ngờ khi Tô Hiến Thành trả lời "chỉ có Trung Tá mà thôi". Khi Thái hậu nhắc đến ân tình của Tán Đường, Tô Hiến Thành không ngả theo Thái hậu cũng không giải thích, chỉ đáp "Thái hậu hỏi người thay thần nên thần nói tới Trung Tá: nếu hỏi người hầu hạ phụng dưỡng thần thì phi Vũ Tán Đường còn ai nữa?" Thật bất ngờ và cũng thật mỉa mai, tiếng cười bật ra từ nghịch lý: chọn người thay chức tể tướng kiêm Thái uý hay chọn người "hầu hạ phụng dưỡng?" Lúc này Tô Hiến Thành ốm nặng, sắp qua đời vậy mà trí tuệ vẫn sáng suốt, bản lĩnh vẫn vững vàng (thậm chí còn hóm hỉnh) và vẫn đầy trách nhiệm đối với đất nước. Người viết sử đã thông qua đối thoại ngắn gọn để vừa đẩy cao kịch tính vừa lột tả đến tận cùng những phẩm chất của nhân vật lịch sử Tô Hiến Thành. 5. Anh (chị) có thích nhân vật Tô Hiến Thành không? Lí do anh (chị) thích nhân vật Tô Hiến Thành?Mỗi người có thể có những mẫu người khác nhau để ngưỡng mộ, khâm phục, kính trọng... Tô Hiến Thành cũng là mẫu người của một thời, là tấm gương của lòng cương trực, trung nghĩa. Ông có những phẩm chất rất đáng được người đời sau trân trọng. 6. Nhận xét về cách viết sử của tác giả qua đoạn trích.Tác giả viết sử biên niên theo lối tóm lược, vừa tôn trọng sự thật vừa tuân thủ trình tự thời gian. Hai sự kiện xảy ra ở hai thời điểm khác nhau (1175 và 1179) nhưng liên hệ mật thiết tới nhân vật lịch sử vì thế, việc ghép hai sự kiện là có dụng ý, nhằm làm nổi bật tính cách, phẩm chất nhân vật. Nhà sử học không trực tiếp miêu tả tâm lý mà qua việc làm, lời nói để người đọc tự phán xét, đánh giá. Ngôn ngữ ngắn gọn, kiệm lời nhưng vẫn bộc lộ được thái độ khen chê. Tác giả đã "treo gương răn cho đời sau" (Ngô Sĩ Liên). Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Cảm nghĩ về nhân vật Tô Hiến Thành
|
|
|
|
Tô Hiến Thành là người hiền đức, trung cương, giữ nghiêm phép nước. Giàu sang không làm cho đắm chìm, uy quyền không làm cho khuất phục. Sáng suốt thông minh đánh bại âm mưu phế lập của Thái hậu mà vẫn giữ được hòa khí không gây đổ máu. Ông luôn sáng suốt, thông minh, đầy trách nghiệm với dân, với nước. Đồng thời còn là người rất hóm hỉnh. Ông đã nhất mực trung thành với sự nghiệp chung, trung trinh, liem khiết, một lòng vì nước mà hành xử không chịu lệ thuộc vào bất cứ điều gì. Em cảm thấy Thái phó Tô Hiến Thành quả là tấm gương sáng trong lịch sử, để thế hệ chúng em soi mình.
|
|
|
|
giải đáp
|
Tư liệu về Tô Hiến Thành
|
|
|
|
Tô Hiến Thành người đất Ô Diên (nay là xã Hạ Mỗ, huyện Ðan Phượng, Hà Tây), sống khoảng từ nửa sau thế kỷ 12 đến đầu thế kỷ 13. Từ nhỏ, Tô Hiến Thành đã có tiếng là người thông minh cương trực, văn võ đều hay. Tương truyền, khi mới ra làm quan, ông thường lui về thăm viếng quê nhà. Vùng Ô Diên quê ông có một miếu thờ. Mọi người đều tôn sùng là rất thiêng. Thấy lạ, ông để tâm xem xét. Một hôm, bất ngờ ông bắt gặp một người lấy cắp cái áo của một nhà trong làng. Chủ nhà này vốn rất mê tín uy linh vị thần miếu nọ, tất sẽ đến kêu cầu; biết vậy, ông lặng thinh theo dõi. Quả nhiên, người mất của đem đồ lễ rất hậu đến vái lạy. Xin thần miếu tìm giúp kẻ gian để đòi lại của. Nhưng mất tiền mua đồ lễ mà áo vẫn chẳng về, người dân kia đâm bực mình, đem chuyện ấy ta thán với bà con trong làng. Bấy giờ, ông mới kể rõ sự tình cho mọi người biết và bảo : - Thần miếu vô tích sự thì đập bỏ lư hương, đóng cửa lại. Thờ cúng làm gì nữa! Mọi người nghe theo Khi làm quan trong triều, tài văn võ kiêm toàn và đức tính cương trực, vị nghĩa của ông khiến các bạn đồng liêu kiêng nể và vua Lý tin dùng. Dưới triều Lý Anh Tông, ông được phong đến chức thái phó và thái úy. Khi sắp mất, Anh Tông đã gọi riêng ông đến bên long sàng di huấn cho ông làm Thái sư phụ chính, căn dặn ông phải hết lòng phò tá Thái tử Cáp ở ngôi vua. Anh Tông mất. Ông làm đúng di huấn của Anh Tông, dốc sức giúp rập vua mới còn nhỏ tuổi. Vợ vua Anh Tông là Hoàng Thái hậu muốn bỏ thái tử Cáp mà lập thái tử Long Xưởng là người vì hư đốn, đã bị truất quyền nối ngôi. Ông cương quyết không nghe. Hoàng Thái hậu mới cho người mang lễ vật vàng bạc rất hậu đến biếu bà họ Lã, vợ Tô Hiến Thành, ý đồ mượn tay vợ để thuyết phục ông. Ham của, vợ ông nhận lời. Ngày đêm, bà ráo riết tìm mọi dịp ỏn thót, lôi kéo ông. Ông vẫn nhất định không nghe. Sau thấy vợ nói mãi, ông mới bực mình nói thẳng: - Kẻ làm quan phải vâng mệnh vua. Tiên đế đã có di huấn cho ta, lẽ nào ta lại vì hám lợi mà trái lệnh vua. Nếu ta làm điều bất trung bất nghĩa ấy, sau này ta còn mặt mũi nào nhìn tiên đế dưới suối vàng nữa. Suốt thời kỳ làm quan trong triều, ông luôn giữ tính cương trực, trọng nghĩa khinh tài, một lòng trung thành vì dân, vì nước. Trước những xáo động dữ dội do bọn quí tộc phong kiến thối nát gây nên, ông vẫn vững như cột đá giữa dòng, mưu trí chống đỡ, giữ cho việc nước việc dân khỏi bị bọn gian thần lũng đoạn. Khi Tô Hiến Thành bệnh nặng, có viên Tham tri chính sự trong triều là Võ Tán Ðường luôn lui tới chăm sóc ngày đêm hầu hạ thuốc men. Nhiều người khác cũng hay đến thăm ông. Duy có quan Gián nghị đại phu là Trần Trung Tá vì công việc triều đình bề bộn nên ít đến. Bệnh nặng, ông sắp mất. Hoàng Thái hậu mới hỏi ông: - Một mai, tướng công qua đời, lấy ai nối nghiệp. Không đắn đo, ông trả lời luôn: - Gián nghị đại phu Trần Trung Tá. Thái hậu rất ngạc nhiên mà rằng: - Võ Tán Ðường hết lòng phục dịch tướng công sao tướng công không tiến cử. Lại đi tiến cử Trần Trung Tá là người ít ra vào thăm viếng tướng công? Ông đáp: - Xem trong triều, chỉ có Trần Trung Tá là người làm được việc lớn nên tôi tiến cử. Nếu Thái hậu hỏi người giỏi việc hầu hạ, tôi sẽ tiến cử Võ Tán Ðường. Thái hậu chịu ông là phải. Thái hậu tuy khen Hiến Thành là trung, nhưng rồi cũng không nghe lời ông, Đỗ An Thuận (các sách khác chép là Đỗ An Di, có lẽ do Di và Thuận mặt chữ Hán gần giống nhau nên chép lầm) Đỗ An Thuận là em ruột của Đỗ Thái hậu trông coi việc triều chính" Xin nói thêm: Tô Hiến Thành mất, Vua bãi chầu 7 ngày, ăn chay 3 ngày để tỏ rõ sự đặc biệt kính trọng. Sách đại Việt sử ký toàn thư sau khi lược chép lại chuyện này, đã trân trọng ghi lại lời bàn của Sử thần Ngô Sĩ Liên như sau: "Tô Hiến Thành nhận việc kí thác con côi, hết lòng trung thành, khéo xử trí khi có biến cố, tuy bị gió lay sóng dập mà vẫn đứng vững như cột đá giữa dòng, khiến trên yêu dưới thuận, không thẹn với phong độ của đại thần ngày xưa. Huống chi, đến lúc sắp chết còn vì nước tiến cử người hiền, không hề vì ơn riêng. Thái Hậu không dùng lời nói này của Hiến Thành là việc không may cho nhà Lý vậy" Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Phân tích" "Hồi trống Cổ Thành"
|
|
|
|
I. Tìm hiểu chung. 1. Tác giả.- La Quán Trung : 1330 – 1400. - Là người sưu tầm và biên soạn dã sử. - Đóng góp xuất sắc cho trường phái tiểu thuyết lịch sử thời Minh – Thanh ở Trung Quốc. - Tác giả của nhiều tác phẩm nổi bật là Tam quốc diễn nghĩa. 2. Tác phẩm.* La Quán Trung dựa vào cốt truyện Tam quốc được lưu truyền trong dân gian + lịch sử -> soạn thành Tam quốc diễn nghĩa. * 1679 cha con Mao Luân, Mao Tôn Cương, đã chỉnh lí viết các lời bàn -> lưu hành đến ngày nay. a) Nguồn gốc và quá trình hình thành tác phẩm. Ra đời vào đầu thời Minh (1368 – 1644). b) Thể loại Tiểu thuyết chương hồi c) Tóm tắt tác phẩm d) Giá trị tác phẩm II. Đọc hiểu 1. Đọc văn bản.Vị trí đoạn trích: Hồi thứ 28 Gồm 120 hồi kể chuyện 1 nước chia ba: Nguỵ – Thục – Ngô. Bố cục đoạn trích 2. Đọc hiểu văn bảna) Quan Công gặp Trương Phi => Cuộc gặp gỡ đón tiếp hiếm thấy. b) Quan Công thanh minh. Xuất hiện quân Tào => Trương Phi càng tức giận, mâu thuẫn phát triển tới đỉnh điểm, căng thẳng. c) Quan Công chém đầu giặc, tự minh oan => Mâu thuẫn được giải quyết, anh em nhận nhau trong niềm xúc động. d) ý nghĩa của Hồi trống Cổ Thành => Hồi trống thách thức, minh oan, và đoàn tụ. - Loại tiểu thuyết được chia làm nhiều hồi. - 1 hồi: + bắt đầu: 2 câu thơ khái quát nội dung chung. + Kết thúc chỗ gay cấn khi mâu thuẫn đến lúc cao trào. - Kết cấu theo trình tự thời gian, khái quát chuyện xa xôi -> chuyện cần kể. - Tiểu thuyết lịch sử: 7 phần thực + 3 phần hư (chủ yếu dựa vào các sự kiện lịch sử, hư cấu ít). - Tính cách nhân vật thể hiện qua hành động và ngôn ngữ; con vật, con người thường được chấm phá bằng những ước lệ truyền thống. - Chia 3 phần + Hồi 1 -> hồi 14: nguyên nhân phân tranh, cát cứ. + Hồi 15 -> hồi 50: Quá trình cục diện TQ chia3. + Hồi 51 -> hết: Kể lại cuộc chiến tranh giành quyền lợi của 3 tập đoàn PK: Nguỵ – Thục – Ngô -> Tư mã Viêm thống nhất đất nước lập ra nhà Tấn. * Nội dung: – Miêu tả cuộc đấu tranh phức tạp giữa các tập đoàn quân sự khác nhau trong nội bộ giai cấp phong kiến. Vạch trần bản chất tàn bạo dã man, giả dối của giai cấp thống trị. Phản ánh cuộc sống loạn li bi thảm của nhân dân. Phản ánh ước mơ của nhân dân: ông vua hiền tướng giỏi. Đề cao tình nghĩa huynh đệ, thuỷ chung. * Đặc sắc nghệ thuật: - Là cuốn binh thư có giá trị của lịch sử chiến tranh phong kiến. - Giá trị văn học lớn: Nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn, khắc hoạ tính cách nhân vật -> xây dựng những nhân vật điển hình. * 3 sự việc chính: - Quan Công gặp Trương Phi. - Quan Công thanh minh. - Quan Công chém đầu giặc, tự minh oan Quan công Trương Phi - Mừng rỡ, bất ngờ, ngạc nhiên, vui sướng, sai Tôn Càn vào báo. - Mắt trợn tròn xoe, râu hùm vểnh ngược, hò hét như sấm, múa xà mâu chạy lại đâm Quan Công - Giật mình, tránh mũi mâu - Chẳng nói, chẳng rằng, lập tức vác áo giáp, vác mâu lên ngựa, dẫn 1000 quân, đi tắt ra cửa Bắc. -> hành động của người giao chiến + Hầm hầm quát: kẻ bội nghĩa. - Giao long đao, tế ngựa đón. -> Bất ngờ, trước hành động của Trương Phi. -> Thể hiện tính cách nóng nảy, cương trực, thẳng thắn. Quan Công Trương Phi - Cầu cứu 2 phu nhân - Quan Công than: Hiền đệ đừng nói vậy, oan uổng quá. -> Quan Công trọng nghĩa, muốn thanh minh nhưng rơi vào tình huống không lí giải được - Cho rằng: QC bỏ anh, hàng Tào, đến đánh lừa. - Một mực: để tôi giết thằng phụ nghĩa này đã. -> Trương Phi rạch ròi trắng đen rõ ràng, lòng kiên định trước sau như một, không chấp nhận sự quanh co - Ta thế nào là bội nghĩa. + Hai chị bị lừa dối đấy. +Trung thần thà chịu chết không chịu nhục. Có lẽ đâu đại trượng phu lại thờ hai chủ. Quan Công Trương Phi - Nhận lời -> Hướng duy nhất giải quyết mâu thuẫn, chứng minh lòng trung nghĩa - Hành động: chẳng nói, múa long đao xô lại…đầu Sái Dương lăn dưới đất. -> Hành động của 1 dũng tướng tài ba đầy nghĩa khí. - 3 hồi trống - Thẳng tay đánh trống. -> Hành động biểu hiện thái độ kiên quyết, thách thức có sức nặng ngàn cân thử thách đức – tài. Câu hỏi chờ sự trả lời của Quan Công, phơi bày hiềm nghi của Trương Phi. + Hành động giải toả mọi nghi ngờ, khẳng định lòng trung nghĩa. + Hành động chứng minh con người lấy tín nghĩa làm trọng. + Hành động minh oan của người anh hùng. - Đoạn văn ngắn, bừng bừng không khí chiến trận nhờ âm vang của hồi trống Cổ Thành. Đặc biệt: ra quân – thu quân, Trống trận giải quyết vấn đề tình cảm. - Biểu dương lòng cương trực của Trương Phi, trung nghĩa của Quan Công, ca ngợi tinh thần kết nghĩa vườn đào của 3 anh em. - Nhắc nhở, cảnh tỉnh con người vong ân, bội nghĩa, phê phán sự mập mờ trong hành động. III. Củng cố, luyện tập. 1. Nội dung* Ghi nhớ: SGK. * Hiểu thêm về các nhân vật trong tác phẩm: Trương Phi ngay thẳng, nóng nảy, khẳng khái là người biết phục thiện. Quan Công trung nghĩa, một lòng gìn giữ tình anh em kết nghĩa vườn đào. 2. Nghệ thuật* Nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn trong đoạn trích ngắn: tính kịch cao, tạo bối cảnh chiến trận vừa hào hùng vừa đặc sắc. * Nghệ thuật xây dựng nhân vật: ngắn gọn, nổi bật tính cách từng nhân vật.
Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Thuyết minh: "Chuyện chức Phán sự đền Tản Viên"
|
|
|
|
Nguyễn Dữ là con trai cả Nguyễn Tường Phiêu, Tiến sĩ khoa Bính Thìn, niên hiệu Hồng Đức thứ 27 (1496), người xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân, nay thuộc Thanh Miện, Hải Dương. Thuộc dòng dõi khoa hoạn, từng ôm ấp lý tưởng hành đạo, đã đi thi và có thể đã ra làm quan. Sau vì bất mãn với thời cuộc, lui về ẩn cư ở núi rừng Thanh Hóa, từ đó "trải mấy mươi sương, chân không bước đến thị thành".Ông đã viết tập truyện chữ Hán nổi tiếng trong cuộc sống lâm tuyền suốt quãng đời còn lại. Truyền kỳ mạn lục - một tác phẩm được đánh giá là "thiên cổ kỳ bút". Truyện được Nguyễn Bỉnh Khiêm phủ chính và Nguyễn Thế Nghi sống cùng thời dịch ra chữ nôm. Tryền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ là tác phẩm viết bằng chữ Hán gồm 20 truyện, ra đời vào nửa đầu thế kỉ XVI. Lục là sách, mạn là ghi chép tản mạn, truyền kì là chuyện lạ kì lưu truyền trong dân gian. Truyền kì mạn lục là sách ghi chép lại những câu chuyên lạ trong dân gian. Tác phẩm thực sự là một sáng tác văn học với sự gia công, hư cấu, sáng tạo, trau chuốt, gọt giũa của Nguyễn Dữ chứ ko phải chỉ là một công trình ghi chép đơn thuầnTrong Truyền kỳ mạn lục Nguyễn Dữ viết về các nhân vật, các sự việc kỳ lạ xảy ra thời Lý, Trần, Hồ và thời Lê sơ. Bằng trí tưởng tượng phong phú và bằng một bút pháp linh hoạt, tác giả Truyền kỳ mạn lục đưa người đọc vào một thế giới huyền bí vừa có người, vừa có thần, vừa hư, vừa thật nhưng xuyên qua các lớp mù linh ảo, ly kỳ được thêu dệt ra một cách tài giỏi ấy vẫn hiện rõ một thế giới thật của cuộc đời mà ở đó nhan nhản những kẻ có quyền thế độc ác, đồi bại. Tuy nhiên, bên cạnh sự tung hoành của cái xấu cái ác, tác giả Truyền kỳ mạn lục vẫn nhìn thấy những phẩm cách lương thiện, trung thực, những tâm hồn thanh cao, những tình người tình yêu của nhân dân, của cái thiện vĩnh hằng và Nguyễn Dữ đã mô tả nó thật đẹp đẽ, mỹ lệ. Trong số đó có tác phẩm “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên ” đã đề cao tinh thần khẳng khái, cương trực, dám đấu tranh chống lại cái ác, trừ hại cho dân của Ngô Tử Văn; đồng thời thể hiện niềm tin công lí, chính nghĩa nhất định sẽ chiến thắng gian tà. Chuyện chức phán sự đền Tản Viên kể về Ngô Tử Văn - người vốn khảng khái, nóng nảy,thấy sự gian tà thì ko thể chịu được. Mọi người vẫn thường khen Văn là người cương trực. Ở làng Tử Văn sống trước có một ngôi đền linh ứng nhưng giờ đã thành ngôi đền có hồn của tên giặc xâm lược tử trận gần đó làm yêu quái trong dân gian. Trước sự việc ngôi đền bị uế tạp và yêu quái có thể làm hại dân, “Tử Văn rất tức giận, một hôm tắm gội sạch sẽ, khấn trời rồi châm lửa đốt đền”.Sự khắng khái, nóng nảy của Tử Văn đã dẫn đến một hành động dũng cảm vì dân trừ hại. Sự tức giận của Tử Văn ko phải là sự tức giận cho riêng mình mà là sự tức giận cho mọi người dân đang bị yêu quái quấy nhiễu. Vì thế mà việc làm của Tử Văn là đáng ca ngợi. Sau khi đốt ngôi đền,Tử Văn ốm nặng rồi “thấy hai tên quỷ sứ đến bắt đi rất gấp, kéo ra ngoài thành vế phía đông”. Lúc ở chốn âm cung, do chỉ nghe bên nguyên,Diêm Vương - vị quan toà xử kiện- người cầm cán cân công lí – cũng đã có lúc tỏ ra mơ hồ. Khi đứng trước công đường Ngô Tử Văn càng tỏ ra mình là người có khí phách. Chàng ko chỉ khằng định:”Ngô Soạn này là một kẻ sĩ ngay thẳng ở trần gian” mà còn dũng cảm vạch mặt tên bại tướng gian tà với lời lẽ “rất cứng cỏi, ko chịu nhún nhường chút nào”. Chàng chiến đấu đến cùng vì lẽ phải. Từng bước, từng bước Ngô Tử Văn đã đánh lui tất cả sự phản công, kháng cự của kẽ thù, cuối cùng đã hoàn toàn đánh gục tên tướng giặc. Sau khi được minh oan ờ minh ti, Tử Văn trở về nhà chưa được 1 tháng thì Thổ công đến bảo Tử Văn nên nhậm chức phán sự ở đến Tản Viên. Thổ công nói:”người ta sống ở đời, xưa nay ai chẳng phải chết, miễn là chết đi còn được tiếng về sau” và khuyên Văn nên nhận.Thế là Văn vui vẻ nhận lời. việc được nhận chức ở đền Tản Viên đã nói lên thắng lợi của chàng trong cuộc đấu tranh với tên hung thầ xảo quyệt. Sự thắng lợi này đã khẳng định chàng là người tốt, chính nghĩa, dám đấu tranh để thực hiện công lí. Con người của chính nghĩa đã được đứng ra để thực hiện công lý là một thắng lợi có ý nghĩa sâu sắc, khẳng định niềm tin chính nghĩa nhất định thắng gian tà. Trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên , tác giả đã vạch trần bộ mặt gian tà của ko ít kẻ đương quyền “ quen dùng chước dối lừa, thích làm trò thảm ngược”. Ngòi bút của Nguyễn Dữ ko chỉ lên án một số quan lại mà còn tố cáo mạnh mẽ hiện thực “rễ ác mọ lan, khó lòng lay động” mà bênh vực cho kẻ gian tà. Trong câu nói buột miệng của Tử Văn “Sao mà nhiều thần quá vậy?” cũng cho ta thấy một hiện thực của xã hội phong kiến lúc bấy giờ: xã hội có quá nhiều kẻ hữu danh vô thực, lợi dụng địa vị, quyền thế làm điều bất chính. kết thúc có hậu của câu chuyện thể hiện đúng truyền thống nhân đạo của dân ta chính nghĩa nhất định thắng gian tà. Chuyện chức phán sự đền Tản Viên Nguyễn Dữ đã kết hợp thành công yếu tố ảo và thực. câu chuyện diễn ra đầy tính chất li kì bởi sự xuất hiện của thế giới âm cung với những hồn ma, bóng quỷ với những việc khác thường: người chết đi sống lại từ dương gian xuống địa phủ, từ cõi âm lại vế cõi dương. Nhưng chuyện lại có vẻ như rất thực bởi cách dẫn ngưòi khác, dẫn việc cụ thể đến cả họ tên, quê quán và thời gian, địa điểm diễn ra sự việc. yếu tố kì ảo giúp câu chuyện thêm phần li kì, hấp dẫn. yếu tố thực làm tăng tính xác thực, làm câu chuyện có ý nghĩa xã hội sâu sắc. Câu chuyện đề cao nhân vật Ngô Tử Văn – đại diện cho tầng lớp trí thức nước Việt giàu tinh thần dân tộc, chuộng chính nghĩa, dũng cảm, cương trực, dám đấu tranh chống lai cái ác trừ hạ cho dân. Truyện còn thể hiện niềm tin công lý, chính nghĩa nhất định sẽ thắng gian tà. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Phân tích nhân vật Ngô Tử Văn
|
|
|
|
Chuyện
chức phán sự ở đền Tàn Viên là 1 trong những chuyện hay, tiêu biểu của
Truyền kỳ mạn lục. Câu chuyện đã phê phán hiện thực xã hội và đề cao
phẩm chất kẽ sĩ, đồng thơi phản ánh khá rõ tinh thần dân tộc của tác
giả, mà nhân vật chính là Ngô Tử Văn một con người tính tình khảng
kháng, trung trực.
Khác với một số truyện trong đó Nguyễn Dữ trình bày lai lịch và hành
trình số phận của nhân vật từ đầu đến cuối, Chuyện chúc phán sự ở đền
Tản viên chỉ chọn 1 thời điểm có ý nghĩa nổi bật để bộc lộ đầy đủ tính
cách nhân vật. Chuyện giống như một màn kịch ngắn, mở màn là sự xuất
hiện của ngô Từ Văn với hành động châm lửa đốt đền thiêng. Hành độn đó
chính là ngòi nổ cho 1 cuộc chiến đấu giữa chàng và hồn ma tên tướng
giặc bại trận.
Cuộc chiến ngay đầu đã thể hiện được sự gay go khốc liệt và ngay từ lúc
ấy tính cách Tử Văn được bộc lộ . Chàng "rất tức giận", "tắm gội sạch
sẽ, khấn trời, rồi chăm lửa đốt đền". Hành động của Tử Văn là hành động
có chủ đích, là hành động tuyên chiến với cái ác, với kẻ thù vì lợi ích
trừ hại cho dân, xuất phát từ tính tình khảng khái, cương trực, can đảm
của chàng. Tử Văn quyết sống mái với kẻ gian tà, cho dù đối thủ là kẻ mà
ai cũng phải kinh sợ.
Tuyên chiến với 1 kẻ thù đầy sức mạnh hiểm ác, lúc đầu Tử Văn "đơn
thương độc mã", nhưng Tử Văn tin vào việc làm và sức mạnh chính nghĩa
của mình. Hành động ngồi "vẫn cứ ngồi ngất ngưởng tự nhiên" của Tử Văn
trước lời đe dọa của tướng giặc không phải là hành động bất cẩn của kẻ
liều mà là hành động tự tin của người nắm được chính nghĩa trong tay.
Cau hỏi của Tử Văn với Thổ Công :"Hắn có thực là tay hung hãn có thể
gieo vạ cho tôi không?" không phải là câu hỏi của kẻ hoang mang lo sợ mà
là cuâ hỏi của người muốn "biết địch biết ta" để giành lấy thắng lợi.
Trong cuộc chiến đấu, Tử Văn có được sự trợ giúp của Thổ Công, nhưng với
1 người bị đánh đuổi khỏi nơi ở của mình, không dám đấu tranh, "phải
đến nương tựa đền Tản Viên","phải tạm ẩn nhẫn mà ngồi xó một nơi" thì Tử
Văn trông mong gì nhiều ở "ngoại viện"? cho nên, về cơ bản thì Tử Văn
không hề có âm phù, dương trợ. Trong khi đó cuộc đấu tanh của chàng ngày
càng gay go quyết liệt. khi đối chất cùng tướng giặc, Tử Văn hoàn toàn
tin vào bản thân, tin vào chính nghĩa mà chàng có thêm sức mạnh ( niềm
tin =]] ) . Nhưng ở chốn thâm cung, chàng khẳng định điều này đâu phải
là dễ. Do chỉ nghe 1 bên nguyên, Diêm Vương - vị quan tòa xử kiện, người
cầm cán cân công lý cũng đã có lúc tỏ ra hồ đồ. Chính khi đứng trước
pháp luật tử Văn càng tỏ rõ chàng là người có khí phách. Chàng không chỉ
"kêu to", khẳng định "ngô Soạn này là kẻ ngay thẳng ở trần gian", chàng
còn dũng cảm vạch mặt tên bạo tướng gian tàn với lời lẽ rất "cứng cỏi,
không chịu nhún nhường chút nào". Giữa chốn công đường nơi âm phủ, tính
cách Tử Văn vẫn là bộc trực, khảng khái, vẫn một quyết tâm sắt đá. Chàng
chiến đấu đến cùng vì lẽ phải. Cú từng bước, Ngô Tử Văn đã đánh lui tất
cả sự phản công, kháng cự của kẻ thù, cuối cùng là đánh gục hoàn toàn
tên tướng giặc gian manh xảo trá.
Màn kịch khép lại với thắng lợi thuộc về Ngô Tử Văn. Kết thúc có hậu này
chứng tỏ Nguyễn Dữ cũng đã tìm về nguồn cợi "truyền thống nhân đạo và
yêu nước" cuả dân tộc VN: "chính nghĩa thắng gian tà, tinh thần dân tộc
thắng ngoại xâm" mà chính nghĩa đó được thể hiện qua hình ảnh nhân vật
chính Ngô Tử Văn của chúng ta, một con người với một chính nghĩa toàn
diện.
Sưu tầm
|
|