|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 23/05/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 21/05/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Nhà thơ Thanh Thảo: Làm thơ phải cực kỳ đơn giản
|
|
|
|
Thơ hiện đại hình như vẫn chưa muốn ló mặt ra thành một chân dung định hình mà chỉ thách đố người làm thơ tìm ra tiếng nói thật của nó. Những năm qua, có một Thanh Thảo bình lặng không cho ra một tập thơ nào nhưng vẫn còn khả năng vận hành mình mới trở lại từ sự trung thực với chính mình. "Thực ra nhà thơ cách tân không phải lúc nào cũng chăm chăm làm cho mình quái lạ đi. Làm thơ phải cực kỳ đơn giản, làm mà như không ấy..", nhà thơ trò chuyện. + Khi "cúi nhìn thật chậm" vào bản thân mình, anh nhìn thấy gì từ gương mặt thơ Thanh Thảo ngày hôm qua? - Tôi có một cái may là không phải phân thân, không phải làm thơ tuyên ngôn. Thành ra những bài thơ cũ vẫn đọc được. Như là bài Thử nói về hạnh phúc hay bài Một người lính nói về thế hệ mình. Lớp trẻ có một kênh đồng cảm thì có thể hiểu. Bởi vì bài thứ nhất tôi viết về số phận con người trong chiến tranh, bài thứ hai viết về sự tự ý thức của một thế hệ trẻ. Trong hoàn cảnh chiến tranh, bản thân ý thức đã phải chịu một sự va đập lớn, phải chống chọi, phải vật lộn, nói chung có thể phải chấp nhận bị "đánh đập" để tự khẳng định. Bây giờ dễ hơn, lớp trẻ khi đã tự ý thức được thì có thể viết bằng tâm huyết của mình. Đã có một Thanh Thảo khác trong Khúc chậm 2000, Ngẫu cảm, Đường sẽ dài hơn. Ở đó, anh tự "khoanh vùng mình" và gần như hoà tan vào cuộc sống xung quanh. Anh cũng đã biết điều mình muốn khám phá đến cùng: Bây giờ tôi biết những thế giới khác cũng thế thôi như con chim tập yêu chiếc lồng của mình nhưng không cần tập hót. Chấp nhận, nhưng không thoả hiệp: "Suốt đời anh một ngọn lửa/anh cố giữ dù ở dạng tro than". Và một Thanh Thảo luôn cầu toàn:"Tôi hối hả quét dọn con người mình/kịp xe rác/quét tất/sạch bong/lúc ấy/chữ hiện dần như sao mọc". + Có cảm giác anh bắt kịp một chân sang thơ hiện đại, điều rất khó đối với một thế hệ thơ thời chiến? - Có thời điểm tôi quay lại thơ Nga với những nhà thơ mình rất thích như Blốc, Exênhin, Pasternak, có khi mình lang thang ở chân trời hiện đại rồi lại trở về với những gì êm đềm. Thực ra nhà thơ cách tân không phải lúc nào cũng chăm chăm làm cho mình quái lạ đi. Làm thơ phải cực kỳ đơn giản, làm mà như không ấy. Có lúc phức tạp, nhưng không nên phức tạp mọi lúc. Vì thơ là những trạng thái khác nhau. Thơ của anh phải là người đang sống trong hiện tại, không có ranh giới cách tân hay cổ điển. Cách tân vô giới hạn không đem lại thành công. Đã có những người mở đường, hy sinh, nhưng văn học vốn tàn nhẫn chỉ tính những gì còn lại. + Nhiều người cho rằng thơ VN những năm gần đây như bị "bại liệt". Anh nghĩ sao? - Nói thơ bị bại liệt, giả dối là bởi chính do người làm thơ không thành thật, thứ hai do tài kém, thứ ba do sợ hãi. Nếu gạt bỏ được ba cái đó thì thơ vẫn là thơ thôi, nhưng đúng là thơ VN còn thiếu nội lực. Trong nội lực thơ có cả bản năng thơ, trí tuệ thơ, nhận thức thơ. Bản năng gốc của thơ chính là sức mạnh nhà thơ có mà không nhận biết được. Một phần do tiên thiên (trời cho), một phần rất lớn là do tích lũy năng lượng từ văn hoá, đời sống, sách vở. Đúng ra thì thơ xưa người ta tự đặt ra nhiều barie hơn, vì người ta nghĩ thơ phải là cái khuôn chảy ra theo hệ thống như hệ thống thuỷ lợi bêtông hoá bây giờ. Còn thơ hiện đại thì người ta để chảy tràn ra. Nhưng không phải vì thế mà thơ chảy trong "đường ống bêtông" thì không phải là thơ. Nó vẫn là thơ đấy chứ, nhiều khi còn chảy xiết hơn, mãnh liệt hơn là thơ ngoài đường ống. Nhưng dù vật lộn đến đâu thì thơ ra phải tự nhiên. Thơ xuất kỳ bất ý. Cái ý có nằm ở đâu thì cũng trong sâu thẳm tâm hồn, tiềm thức của người làm thơ, còn khi thơ đã gọi ra rồi thì bất ý. + Vậy theo anh, nhà thơ thời nay đang vấp phải rào chắn nào? - Thơ VN hiện đại chưa hiện đại lắm, chưa sướng lắm. Có cảm giác bản thân từng nhà thơ VN vẫn bị níu kéo bởi nghệ thuật truyền thống, những rào chắn cũ. Để vượt qua không thể ngày một ngày hai; hoặc phải dung hòa nó, hoặc tìm ra một con đường để có thể đối lập hoàn toàn. Nhưng đạt đến bao nhiêu tùy vào từng nhà thơ. Vì vấn đề là anh tìm tòi trên xác chữ nhưng nội lực, bản năng thơ của anh như thế nào, tâm hồn thơ của anh tới đâu - đó mới là sự đo lường cuối cùng của bài thơ. Có cảm giác nhiều nhà thơ bây giờ trong khi làm thơ vẫn nghĩ mình là thế này thế nọ, thì chỉ làm hỏng thơ. Mà thực ra khi làm thơ chỉ còn sướng với thơ thôi chứ không còn nhớ bất cứ cái gì khác. + Anh nhìn thấy gì ở tương lai thơ? - Nước mình nhiều người làm thơ thế chẳng lẽ không có ai? Trong số đông làm thơ cũng sẽ có nhà thơ thực sự, cho dù là rất ít. Và hy vọng vào số rất ít nhà thơ đó có thể mang lại gì cho nền thơ VN hiện đại. Thơ khó trên toàn thế giới chứ không phải chỉ khó ở VN. Hiện tượng như nhà thơ Mỹ Allen Ginsberg cũng rất hiếm. Dù sao các nhà thơ lớn ngay trong những bài thơ nhỏ cũng đã tạo ra được dáng dấp của một bài thơ lớn. Và tính cách của họ quá mạnh. Thơ phải là số phận của chính anh, nhà thơ mà không có số phận riêng của mình trong thơ thì sẽ lu mờ. + Người ta nói, văn chương còn có thể mang ra bình luận, giao lưu quốc tế; còn thơ thì hầu như đành bó tay vì bản chất của thơ là sự tinh xảo của ngôn từ và hồn vía ở câu chữ mà người dịch không tải nổi? - Theo tôi, chuyện giao lưu thơ quốc tế vẫn có thể được. Thơ lục bát thì khó dịch, nhưng thể thơ tự do thì dễ hơn. Thơ không thể ào ào như nhạc, nó kéo người nghe lại từ từ và dẫu có kén người đi chăng nữa thì còn một ít người đồng cảm đã là tốt rồi! Theo LĐ
|
|
|
|
giải đáp
|
Nhà thơ Thanh Thảo
|
|
|
|
Thanh Thảo, tên khai sinh là Hồ Thành Công, sinh năm 1946, quê ở huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Tốt nghiệp khoa ngữ văn, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Thanh Thảo vào công tác ở chiến trường miền Nam. Từ mấy thập niên trước, Thanh Thảo đã được công chúng chú ý qua những tập thơ và trường ca mang diện mạo độc đáo viết về chiến tranh và thời hậu chiến: Những người đi tới biển (1977), Dấu chân qua trảng cỏ (1978), Những ngọn sóng mặt trời (1981), Khối vuông ru-bích (1985), Từ một đến một trăm (1988)...
Hiện ông là Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Quảng Ngãi, phó chủ tịch Hội đồng thơ Hội nhà văn Việt Nam. Thanh Thảo đã nhận giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1979, giải thưởng Ban Văn học Quốc phòng An nình, Hội Nhà văn Việt Nam năm 1995, giải thưởng Nhà nước (đợt 1) về văn học nghệ thuật năm 2001.
Những năm gần đây, Thanh Thảo vẫn tiếp tục làm thơ đồng thời viết báo, tiểu luận phê bình và nhiều thể loại khác, nhưng đóng góp quan trọng và đặc sắc nhất của ông vẫn là thơ ca.
Thơ Thanh Thảo là tiếng nói của người tri thức nhiều suy tư, trăn trở về các vấn đề xã hội và thời đại.
|
|
|
|
giải đáp
|
Nhà văn Kim Lân
|
|
|
|
Ông quê ở làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn (nay là làng Phù Lưu, phường Đông Ngàn, thị xã Từ Sơn), tỉnh Bắc Ninh, 2008 thuộc vùng Hà Nội. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông chỉ được học hết bậc tiểu học rồi phải đi làm. Kim Lân bắt đầu viết truyện ngắn từ năm 1941. Tác phẩm của ông được đăng trên các báo Tiểu thuyết thứ bảy và Trung Bắc chủ nhật. Một số truyện (Vợ nhặt, Đứa con người vợ lẽ, Đứa con người cô đầu, Cô Vịa,...) mang tính chất tự truyện nhưng đã thể hiện được không khí tiêu điều, ảm đạm của nông thôn Việt Nam và cuộc sống lam lũ, vất vả của người nông dân thời kỳ đó.
Ông được dư luận chú ý nhiều hơn khi đi vào những đề tài độc đáo như tái hiện sinh hoạt văn hóa phong phú ở thôn quê (đánh vật, chọi gà, thả chim...). Các truyện: Đôi chim thành, Con mã mái, Chó săn... kể lại một cách sinh động những thú chơi kể trên, qua đó biểu hiện một phần vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám - những người sống cực nhọc, khổ nghèo nhưng vẫn yêu đời, trong sáng, tài hoa.
Sau Cách Mạng tháng Tám, Kim Lân tiếp tục làm báo, viết văn. Ông vẫn chuyên về truyện ngắn và vẫn viết về làng quê Việt Nam - mảng hiện thực mà từ lâu ông đã hiểu biết sâu sắc. Những tác phẩm chính: Nên vợ nên chồng (tập truyện ngắn, 1955), Con chó xấu xí (tập truyện ngắn, 1962).
Sinh thời ông sống tại Hà Nội. Nǎm 2001, Kim Lân được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Ông từ trần năm 2007 tại Bệnh viện Hữu Nghị Hà Nội, sau một thời gian dài chống chọi với căn bệnh hen suyễn, hưởng thọ 87 tuổi. Sự nghiệp văn học
Trong cả hai giai đoạn sáng tác, tuy viết không nhiều nhưng giai đoạn nào Kim Lân cũng có những tác phẩm hay. Là một cây bút truyện ngắn vững vàng, ông đã viết về cuộc sống và con người ở nông thôn bằng tình cảm, tâm hồn của một người vốn là con đẻ của đồng ruộng.
Truyện ngắn Vợ nhặt và Làng của Kim Lân đã được đưa vào trong sách giáo khoa ở Việt Nam. Năm 2005, truyện Vợ nhặt được đưa vào đề thi môn văn kỳ thi của Đại học Kinh tế Huế và Nguyễn Thị Thu Trang đã đạt điểm 10, gây xôn xao dư luận một thời. Truyện Làng được viết về nông thôn Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp và một gia đình người tản cư thời đó.
Về tác phẩm Vợ nhặt, Kim Lân viết:
"Khi viết về nạn đói người ta thường viết về sự khốn cùng và bi thảm. Khi viết về con người năm đói người ta hay nghĩ đến những con người chỉ nghĩ đến cái chết. Tôi muốn viết một truyện ngắn với ý khác. Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin tưởng ở tương lai. Họ vẫn muốn sống, sống cho ra con người."
Ông là cha của họa sĩ Thành Chương, nữ họa sĩ Nguyễn Thị Hiền. Sự nghiệp diễn xuất
Ngoài sáng tác văn học, Kim Lân còn tham gia đóng phim và kịch.
Lão Hạc trong phim Làng Vũ Đại ngày ấy Lý Cựu trong phim Chị Dậu Lão Pẩu trong phim Con Vá Cả Khiết trong vở Cái tủ chè của Vũ Trọng Can Cụ lang Tâm trong phim Hà Nội 12 ngày đêm
Một số tác phẩm tiêu biểu
Truyện ngắn
Đứa con người vợ lẽ Nên vợ nên chồng (trong tập truyện ngắn 1955) Làng (1948) Vợ nhặt (in trong tập truyện ngắn Con chó xấu xí năm 1962)
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Rừng xà nu
|
|
|
|
Ơ nhân vật Tnu nhà văn còn gửi gắm bao ý tưởng sâu xa ở hình tượng đôi bàn tay. Đây là một chi tiết nghệ thuật đắt giá được tác giả chú ý tô đạm. Không phải ngẫu nhiên mà nhà văn lại khắc họa cuộc đời, tính cách số phận Tnu thông qua hình tượng đôi bàn tay.
- Bởi đôi bàn tay có một ý nghĩa quan trọn đối với con người. Dân gian đã từng khẳng định: “Giàu hai con mắt, khó hai bàn tay”. Còn nhà thơ Hoàng Trung Thông thì nói: “bàn tay ta làm nên tất cả”.
- Nhìn vào bàn tay của một con người ta đoán được số mệnh của người đấy. Tính cách, lai lịch, miền quê của con người. Có bàn tay chai sần, gân guốc của người cầm cuố, cầm cày lam lúc quanh năm.. Có bàn tay thon thả dáng người - bàn tay cả người nghệ sĩ gẫy đàn nặn tượng; có bàn tay bụ bẫm, năm ngón tay xòe nhưng nắm cánh hoa, đó là bàn tay của trẻ thê...Nói đến đôi bàn tay gợi cho ta nhớ đến đôi bàn tay người đàn ba thời chiến quốc dã man. Thái tử Yên Đan đã chặt đứt đôi bàn tay của người tài nữ gãy đàn để dâng lên Kinh Kha. Đáp lại cái ân tình giúp mình tranh bá đế vương. Yên Đan đã cho đi cái không thể cho được. Nguyễn trung Thành đã xây dựng đôi bàn tay của Tnu với ý nghĩa sâu xa.
* Ý nghĩa đôi bàn tay Tnu
- Khi lành lặn:
+ Bàn tay của con người cá tính, trung thành với cách mạng
+ bàn tay yêu thương
- Khi thương tích:
+ Tố cáo tội ác
+ Chứng tích tội ác: quả báo - chiến thắng
Khắc họa hình tượng nhân vật Tnu, nhầ văn đặc biệt chú ý đến hình tượng dôi bàn tay khi còn lành lặn. Đó là đôi bàn tay cảu con người có tính ngoan cường, trung thực. Ấy là lí do Tnu cầm đá đạp vào đầu để học chữ Bác Hồ. Đó là bàn tay của người tuyệt đối trung thành với cách mạng, ấy là lúc Tnu ấp tay vào bụng trả lời lũ giặc “ở đây này”. Bàn tay cả tnu là bàn tay của con người giàu lòng yêu thương, đó là Tnu dắt Mai lên lẫy trồng kìa, là lúc vượt ngục KonTum trở về nắm lấy tay Mai đầy yêu thương, hi vọng, là khi xô ngã tên giặc để che chở cho mẹ con Mai.
* Bàn tay ấy khi rực cháy thành 10 ngon đuốc, lại là biểu tượng của tội ác quân thù và lòng căm thù tột độ. Ki mỗi ngón cụt một đốt thì nó trở thành chứng tích tội ác của quân thù. Nhưng bàn tay ấy không hề cam phận mà đã trở thành bàn tay quả báo khi siết chặt cổ tên giặc và cho nói cho nó biết một điều tất yếu: “ này Dục, tao có súng đây, tao có dao găm đây, nhưng tao không giết mày bằng súng, không đâm mày bằng dao. Tao giết mày bằng mười đầu ngón tay cụt này thôi”. Với Tnus, thằng giặc này cũng là thằng Dục. Thằng Dục kinh hoàng nhận lời phán xét, còn Tnu đã thực hiện được cái điều trở thành chân lí sâu xa. Kẻ gieo gió ắt gặp bão. Tội ác của kẻ thù gây ra cho con người lớn lao bao nhiêu thì hâu quả chung sphair gánh chịu nặng nề bấy nhiêu. Kẻ thù thiêu đốt đôi bàn tay của Tnu thì bây giờ kẻ thù lại biij giết bởi chính đôi bàn tay cụt đó. Điều đó cho ta thấy một chân lí một quy luật: Kẻ thù đánh ngã ta ở chỗ nào, ta đứng lên ở chỗ đó. Và bàn tay của Tnu đã trở thành bàn tay chiến thắng. Một lần nữa hình tượng đôi bàn tay đã trở thành quy luật. “Chúng nó cầm súng mình phải cầm giáo”> Khi chúng nó cầm súng và Tnu đã biết cầm vũ khí chiến đấ u thì ngay bàn tay cụt cũng phát huy sức mạnh diệt thù.
|
|
|
|
giải đáp
|
Từ ấy - tố Hữu
|
|
|
|
TỪ
ẤY
Mở bài: (Tham
khảo)
Tố Hữu được ví như “cánh chim
đầu đàn” của nền thơ ca cách mạng Việt Nam. Thơ ông có sức sống lâu
bền trong lòng bạn đọc nhờ chất men say của lí tưởng cộng sản, của
tình yêu thương chân thành đối với con người và niềm tin bất diệt vào
tương lai. Bài “Từ ấy” đã ghi lại những giây phút say mê cuả nhà thơ
khi bắt gặp ánh sáng của Đảng soi đường. Đó không chỉ là cảm xúc
vui sướng, phấn khởi và còn là những chuyển biến lớn trong tình
cảm, nhận thức, sự thay đổi lẽ sống của một tâm hồn trẻ tuổi đang
tìm hướng đi cho cuộc đời.
*Khổ 1: Niềm vui
sướng, niềm hạnh phúc tột đỉnh và niềm say mê của tác giả khi bắt
gặp lí tưởng cách mạng.
- Tác giả khẳng định lí tưởng
cộng sản như một nguồn sáng mới làm bừng tỉnh, bừng sáng tâm hồn
và trí tuệ nhà thơ (chú ý phân tích hình ảnh “bừng nắng hạ”: ánh sáng của ngày hè, rất nồng nàng,
rạng rỡ. Từ “bừng” chỉ ánh
sáng phát ra đột ngột).
- Hình ảnh “mặt trời chân lí chói qua tim” là một hình ảnh độc đáo,
bất ngờ, táo bạo, giàu ý nghĩa thẩm mĩ mà rất chính xác, gợi
cảm. Mặt trời là nguồn sáng rực rỡ, chói chang và duy nhất đưa lại
nguồn sống cho muôn loài. Hình ảnh “mặt
trời chân lí” đi liền với nhóm từ “chói qua tim” đã diễn tả được niềm vui rất đỗi thiêng
liêng, có cái gì đó gần như “choáng
váng” (Hoài Thanh) và có sức xuyên thấu kì diệu, mạnh mẽ của lý
tưởng cộng sản đối tình cảm, nhận thức của người chiến sĩ.
-
Hai câu sau: với bút pháp trữ tình, lãng mạn cùng với hình ảnh so
sánh có tính chất khẳng định (Tố Hữu dùng từ “là” chứ không dùng từ “như”,
tác giả đã bày tỏ được niềm hạnh phúc vô biên, sức sống kì diệu
cua tâm hồn mình trong buổi đầu đến với lí tưởng của Đảng. Người
đọc có thể hình dung ra tâm hồn nhà thơ trước khi bắt gặp ánh sáng
lí tưởng cách mạng giống như một khu vường mùa đông, hiu quạnh, cành
khô, úa lá còn giờ đây khu vườn ấy được tưới tắm dưới ánh sáng của
lí tưởng cách mạng bổng trở nên xanh tươi, tràn ngập ánh nắng của
mặt trời hồng, rộn rã tiếng chim ca và ngào ngạt hương sắc. Vẻ đẹp
của khu vường ấy đối với nhà thơ Tố Hữu còn là vẻ đẹp và sức
sống mới của một hồn thơ.
* Khổ 2: Biểu hiện những nhận
thức mới và lẽ sống mới
- Giác ngộ lý tưởng cộng sản,
giác ngộ về nhận thức và lẽ sống đối với người chiến sĩ cộng sản
được thể hiện trước hết ở việc thay đổi chỗ đứng. Nếu như trước đó, tâm trạng của nhà thơ
là: “Bâng khuâng đứng giữa hai dòng
nước/Chọn một dòng hay để nước trôi” thì bây giờ nà thơ chủ
động, tự giác hòa “cái tôi” với
“cái ta” chung của mọi người”, tự nguyện đứng trong hàng ngũ những
người lao khổ.
- Từ “buộc” thể hiện ý thức tự nguyện sâu sắc và quyêt tâm cao
độ của Tố Hữu nguyện gắn bó mật thiết, sống chan hòa với “mọi người” với “trăm nơi” với quần chúng lao động khắp mọi miền đất nước,
đặc biệt là những người cùng khổ. Cụm từ “để tình trang trải” thê
hiện tâm hồn nhà thơ như muốn trải rộng với cuộc đời rộng lớn, tạo
ra khả năng đồng cảm sâu xa với mọi cảnh ngộ của cuộc đời cần lao.
- Hai câu sau: “Để hồn tôi..../Gần gũi...đời” khẳng định tình cảm hữu
ái giai cấp của Tố Hữu. Tâm hồn nhà thơ từ đây sẽ nghiêng về phía “bao hồn khổ” để cảm thông, chia sẻ,
để cá nhân hòa vào tập thể, tạo nên một sức mạnh quần chúng đông
đảo, vĩ đại.
* Khổ 3: Tiếp tục thể hiện
sự chuyển biến trong nhận thức và sự thay đổi lẽ sống
- Tố Hữu khẳng định sự chuyển
biến tình cảm của mình. Tác giả tự nhận mình là một thành viên
thân thiết ruột thịt trong đại gia đình quần chúng bị áp bức, đau
khổ trong xã hội. Các điệp từ “là”
cùng với các từ “con”, “em”, “anh” đã khẳng định điều đó.
- Số từ ước lệ “vạn” chỉ số lượng hết sức đông
đảo. Chính những người “anh”
phải sống “kiếp phôi pha”, những
người “em” .. “cù bất cù bơ” ấy mà Tố Hữu đã dũng cảm, say mê dấn thân
trên con đường cách mạng dù biết răng: “Dấn
thân vô là phải chịu tù đày/Là gươm kề tận cổ súng kề vai/Là thân
sống chỉ coi còn một nửa”. Và cũng từ đây thơ Tố Hữu luôn là
tiếng nói cảm thông đối với những “em
bé mồ côi”, “lão đầy tớ”, “cô gái giang hồ”.. những con người
bần cùng trong xã hội.
Kết luận:
Có thể coi “Từ ấy” là
một tuyên ngôn nghệ thuật và mang đậm phong cách thơ Tố Hữu. Nó xứng
đáng là một tiếng hát lạc quan, yêu đời, đắm say lí tưởng của người
chiến sĩ trẻ tuổi. Tiếng hát đó cất lên cách đây gần một thế kỉ
vậy mà vẫn cứ đắm say lòng người.
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
ĐỀ THI THỬ SỐ 2
|
|
|
|
Bài này em làm rất tốt. Tuy nhiên thầy xin góp ý vài điểm nhỏ: Thứ nhất: Câu 1 em đã bàn đến ý nghĩa của từ nhặt, nhưng chưa nhấn mạnh lắm. Phải làm thật rõ, thật cụ thể ý nghĩa của từ này đó là nó thường gắn với những vật tầm thường, nhỏ vé, vụn vặt, những thứ mà người ta đánh rơi, bỏ quên...từ đó gắn với từ vợ - vốn là từ thiêng liêng, ý nghĩa, để thấy sự rẻ rúng của thân phận con người trong nạn đói. Nhan đề này biểu hiện cả giá trị hiện thực lẫn nhân đạo. Thứ 2: Câu 3: Xuân Diệu là ông hoàng của thơ tình, không phải ông hoàng của thơ duyên - khái niệm này thầy nghe hơi lạ. Ngoài ra còn một số lỗi về từ và câu nhưng thầy đoán là em viết vội nên chưa được chau chút. Lưu ý khi thi đại học người ta trừ lỗi chính tả cũng khá nặng. Nhìn chung nếu đi thi em vẫn làm được những bài như thế này thì thầy rất yên tâm. Chúc em thành công!
|
|
|
|
đặt câu hỏi
|
ĐỀ THI THỬ SỐ 3
|
|
|
|
PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm)
Câu 1: (2 điểm)
Anh/ chị hãy trình bày những đặc trưng về nội dung và phong cách nghệ thuật thơ Xuân Diệu
Câu 2: (3 điểm):
“Con ong làm mật yêu hoa
Con cá bơi, yêu nước; con chim ca, yêu trời
Con người muốn sống, con ơi
Phải yêu đồng chí, yêu người anh em.
Một ngôi sao, chẳng sáng đêm
Một thân lúa chín, chẳng nên mùa vàng.
Một người - đâu phải nhân gian?
Sống chăng, một đốm lửa tàn mà thôi!”
(Tố Hữu - Tiếng ru)
Những câu thơ trên gợi cho anh (chị) suy nghĩ gì về lẽ sống của con người trong xã hội hiện nay ?
PHẦN RIÊNG (5,0 điểm): Thí sinh chỉ được làm một trong 2 câu (câu 3.a hoặc câu 3.b)
Câu 3a: " Thơ Xuân Quỳnh thể hiện một trái tim phụ nữ hồn hậu, chân thành, nhiều lo âu và luôn da diết trong khát vọng hạnh phúc đời thường" ( SGK Ngữ văn 12- Tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội 2011)
Anh/ chị hãy phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh để làm rõ nhận định trên.
Câu 3.b(5,0 điểm): Tác phẩm Chí Phèo là hành trình người nông dân lương thiện bị tha hoá hay quá trình từ tha hoá tìm về cuộc sống lương thiện? Anh/chị hãy trình bày quan điểm của mình về vấn đề này.
|
|
|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 19/05/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Ai đã đặt tên cho dòng sông?
|
|
|
|
Ai đã đặt tên cho dòng sông? là một bút ký đặc sắc, thể hiện phong cách tài hoa, uyên bác, giàu chất thơ của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Bài ký đã ca ngợi dòng sông Hương như một biểu tượng của Huế.
Trong sách Tuyển chọn & giới thiệu Ngữ văn...có đoạn phân tích, tóm tắt như sau:
Vẻ đẹp dòng sông được phát hiện rất đa dạng. Có lúc trữ tình êm ả, hiền hòa như “một thiếu nữ dịu dàng, duyên dáng”; có lúc phóng khoáng và man dại, rầm rộ và mãnh liệt như một “bản trường ca của rừng già”. Có khi dịu dàng và trí tuệ như “người mẹ phù sa”; có khi biến ảo “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”; hoặc khi thì vui tươi, khi thì như một mặt hồ yên tĩnh v.v...Tất cả được miêu tả bằng một tình cảm thiết tha với Huế, với một vốn văn hóa phong phú và một vốn ngôn từ giàu có và đậm chất thơ của tác giả.
Đọc những trang viết về Huế của Hoàng Phủ Ngọc Tường (trong đó có bài Ai đã đặt tên cho dòng sông?), nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên, đã nhận xét:
Nói rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường yêu Huế và hiểu Huế, thì đó là một lẽ đương nhiên. Tôi muốn đi xa hơn, tìm một căn nguyên thấm kín để cắt nghĩa cho sự thành công mỹ mãn của những trang viết ấy: phải chăng ở đây đã có một sự hòa hợp, tương giao, linh ứng giữa cảnh sắc Huế, lịch sử Huế, văn hóa Huế với một tâm hồn nhà văn dễ rung động, nhạy cảm, tinh tế. Phải là sự tương giao, đến mức hòa quyện chặt chẽ mới sinh ra được những áng văn tài hoa không dễ một lần thứ hai viết được như thế. Ngỡ như không khác được: viết về sông Hương là phải vậy, viết về “văn hóa vườn” ở Huế là phải vậy. Đó là những áng văn, câu chữ được chọn lựa cân nhắc kỹ càng, vì hình ảnh được sáng tạo đẹp đẽ, vì cảm xúc phong phú bất ngờ, mới mẻ...
Và theo Lê Uyển Văn, thì:
Sông Hương của Hoàng Phủ Ngọc Tường không chỉ mang vẻ đẹp trời phú mà còn ánh lên vẻ đẹp của con người, những tài nữ đánh đàn, những người dân Châu Hóa lái thuyền xuôi ngược, những người con anh dũng đã hi sinh, những Nguyễn Du, những Bà huyện Thanh Quan, những Tố Hữu...đã viết thơ trên dòng chảy long lanh in bóng mây trời. Cũng như tình yêu của sông Hương với Huế, tình yêu của Hoàng Phủ Ngọc Tường với sông Hương cũng là quá trình dâng tặng, khám phá và hoàn thiện chính mình...
Trích tác phẩm
Lưu ý: Phần sau đây có thể cho bạn biết trước nội dung của tác phẩm.
Hiển nhiên là sông Hương đã sống những thế kỷ quang vinh với nhiệm vụ lịch sử của nó, từ thuở nó còn là một dòng sông biên thuỳ xa xôi của đất nước các vua Hùng. Trong sách địa dư của Nguyễn Trãi, nó mang tên là Linh Giang, dòng sông viễn châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của tổ quốc Ðại Việt qua những thế kỷ trung đại. Thế kỷ XVIII, nó vẻ vang soi bóng Kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ; nó sống hết lịch sử bi tráng của thế kỷ XIX với máu của những cuộc khởi nghĩa, và từ đấy sông Hương đã đi vào thời đại Cách mạng tháng Tám bằng những chiến công rung chuyển.
Sông Hương là vậy, dòng sông của thời gian ngân vang, của sử viết giữa màu cỏ lá xanh biếc. Khi nghe lời gọi, nó biết cách tự biến đời mình làm một chiến công, để rồi nó trở về với cuộc sống bình thường, làm một người con gái dịu dàng của đất nước. Thỉnh thoảng, tôi vẫn còn gặp trong những ngày nàng đem áo ra phơi, một sắc áo cưới của Huế ngày xưa, rất xưa: màu áo lục điều với loại vải vân thưa màu xanh tràm lồng lên một màu đỏ ở bên trong, tạo thành một màu tím ẩn hiện, thấp thoáng theo bóng người, thuở ấy các cô dâu trẻ vẫn mặc sau tiết sương giáng. Ðấy cũng chính là màu của sương khói trên sông Hương, giống như tấm voan huyền ảo của tự nhiên, sau đó ẩn giấu khuôn mặt thực của dòng sông...
Có một dòng thi ca về sông Hương, và tôi hy vọng đã nhận xét một cách công bằng về nó khi nói rằng dòng sông ấy không bao giờ tự lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ. Mỗi nhà thơ đều có một khám phá riêng về nó: từ xanh biếc thường ngày, nó bỗng thay màu thực bất ngờ, "dòng sông trắng - lá cây xanh" trong cái nhìn tinh tế của Tản Ðà, từ tha thiết mơ màng nó chợt nhiên hùng tráng lên "như kiếm dựng trời xanh" trong khí phách của Cao Bá Quát; từ nỗi quan hoài vạn cổ với bóng chiều bãng lãng trong hồn thơ Bà Huyện Thanh Quan, nó đột khởi thành sức mạnh phục sinh của tâm hồn, trong thơ Tố Hữu. Và ở đây, một lần nữa, sông Hương quả thực là Kiều rất Kiều, trong cái nhìn thắm thiết tình người của tác giả "Từ ấy".
Có một nhà thơ từ Hà Nội đã đến đây, tóc bạc trắng, lặng ngắm dòng sông, ném mẫu thuốc lá xuống chân cầu, hỏi với trời, với đất, một câu thật bâng khuâng: - Ai đã đặt tên cho dòng sông?...
|
|
|
|
giải đáp
|
Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường
|
|
|
|
Tiểu sử sơ lược
Ông sinh ngày 9 tháng 9 năm 1937, tại thành phố Huế, nhưng quê gốc ở làng Bích Khê, xã Triệu Long, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Sau khi học hết bậc trung học ở Huế, ông lần lượt trải qua: - Năm 1960: tốt nghiệp khóa I ban Việt Hán, Đại học Sư phạm Sài Gòn. - Năm 1964, nhận bằng Cử nhân triết Đại học Văn khoa Huế. - Năm 1960-1966: dạy tại trường Quốc Học Huế. - Năm 1966-1975: thoát ly lên chiến khu, tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ bằng hoạt động văn nghệ. - Năm 1978: được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam. Ông từng là Tổng thư ký Hội Văn học nghệ thuật Bình Trị Thiên-Huế, Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Bình Trị Thiên, Tổng biên tập tạp chí Cửa Việt. Năm 2007, ông được trao Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, cùng đợt với vợ là nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ. Hiện nay (2012), nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường và vợ đang cư ngụ tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Giải thưởng
- Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, 1980.
- Tặng thưởng Văn học Ủy ban toàn quốc LH các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, 1999, 2008.
- Giải A giải thưởng Văn học Nghệ thuật Cố đô (1998-2003).
- Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, 2007.
Tác phẩm
Thể loại bút ký:
Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu (1971). Rất nhiều ánh lửa (1979, Giải thưởng Văn học Hội Nhà văn Việt Nam 1980-1981) Ai đã đặt tên cho dòng sông, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế (1984) Bản di chúc của cỏ lau (truyện ký, 1984) Hoa trái quanh tôi (1995) Huế - di tích và con người (1995) Ngọn núi ảo ảnh (2000) Trong mắt tôi (bút ký phê bình, 2001) Rượu hồng đào chưa uống đã say (truyện ký, 2001) Trịnh Công Sơn và cây đàn lya của hoàng tử bé (bút ký văn hóa, 2005) Miền cỏ thơm (2007) Ai đã đặt tên cho dòng sông. Tinh tuyển bút ký hay nhất, Nxb Hội nhà văn, 2010
Thể loại thơ:
Những dấu chân qua thành phố (1976) Người hái phù dung (1992)
Thể loại nhàn đàm:
Nhàn đàm, Nxb Trẻ, 1997 Người ham chơi, Nxb Thuận Hóa, 1998 Miền gái đẹp, Nxb Thuận Hóa, 2001 (Tặng thưởng Văn học Hội Nhà văn Việt Nam 2001)
Tuyển tập:
Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường, 4 tập, Nxb Trẻ, 2002
Nghiệp văn chương
Đánh giá chung về sự nghiệp văn chương của Hoàng Phủ Ngọc Tường, sách Ngữ văn 12 có đoạn viết:
Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong những nhà văn chuyên về bút kí. Nét đặc sắc trong sáng tác của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hóa, lịch sử, địa lí...Tất cả được thể hiện qua lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa.
Trích thêm ý kiến của người trong giới:
Nhà văn Nguyễn Tuân:
Ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường có "rất nhiều ánh lửa"[5].
Nhà văn Nguyên Ngọc:
Trong một cuốn sách gần đây của anh, viết và in ngay giữa những ngày anh đang vật lộn với cơn bệnh nặng-chứng tỏ ở anh một đức tính dũng cảm và một nghị lực phi thường của một người lao động nghệ thuật-anh tự coi mình là "người ham chơi". Quả thật, anh là một người ham sống đến mê mải, sống và đi, đi để được sống, với đất nước, với nhân dân, với con người, đi say mê và say mê viết về họ...
Nhà thơ Hoàng Cát:
Hoàng Phủ Ngọc Tường có một phong cách viết bút ký văn học của riêng mình. Thế mạnh của ông là tri thức văn học, triết học, lịch sử, địa lý sâu và rộng, gần như đụng đến vấn đề gì, ở thời điểm nào và ở đâu thì ông vẫn có thể tung hoành thoải mái ngòi bút được...
Nhà thơ Ngô Minh:
Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong số rất ít nhà văn viết bút ký nổi tiếng ở nước ta vài chục năm nay. Bút ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường hấp dẫn người đọc ở tấm lòng nhân văn sâu sắc, trí tuệ uyên bác và chất Huế thơ huyền hoặc, quyến rũ. Đó là những trang viết tài hoa, tài tử, tài tình...Thực ra, bút ký Hoàng Phủ Ngọc Tường chính là những áng thơ văn xuôi cuốn hút người đọc...thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường là vẻ đẹp của nỗi buồn hoài niệm, những day dứt triết học, từ sâu thẳm thời gian, sâu thẳm đất đai vọng lên trong tâm khảm người đọc. Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo cho rằng thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường thấm đẫm "triết học về cái chết...thơ anh buồn mỗi nỗi buồn đứt ruột...Đấy là thơ của cõi âm"... Đó là một nhận xét xác đáng.
Trên Website vnexpress:
Dường như trong suốt cuộc đời mình, Hoàng Phủ Ngọc Tường bị ám ảnh bởi hoa. Điều đó, dù cuộc đời lận đận những ngày tù cộng với những năm tháng bôn ba khắc nghiệt của chiến tranh vẫn không tước đoạt nổi của ông...Ông viết rất nhiều về hoa và đặc biệt, ông bị ám ảnh bởi sắc diện phù dung.
|
|
|
|
giải đáp
|
Rừng Xà nu - mọi người giúp em với ak
|
|
|
|
- Hoàn
cảnh ra đời tác phẩm
-
Hoàn cảnh chung
Mùa
hê 1965, Mĩ đổ quân ồ ạt vào miền Nam, khủng bố đẫm máu những phong
trào yêu nước. Đó là những năm tháng đau thương nhưng quật khởi, anh
hùng. Những năm tháng nghiêm trang,
nghiêm trọng mà hòa hung. NTT cũng như những nhà vă cùng thời, ông
muốn viết “Hịch tướng sĩ” của thời đại chống Mĩ” và ông đã viết
truyện ngắn “Rừng xà Nu”.
-
Hoàn cảnh riêng
Theo
lời tâm sự của nhà văn thì khi chuẩn bị cho số 2 của Tạp chí Văn
nghệ Quân giải phóng miền trung trung bộ, nhà văn dự định viết 1
truyện ngắn chiến đấu ở đồng bằng. Nhưng ý định ban đầu ấy đã không
thành công vì nó làm thức dậy
những cảm xúc đã chiến của ông về thời kì ở Tây Nguyên. Thế
là những cánh rừng Xà Nu bất tận những con người Tây Nguyên anh hùng
ra đời trong hoàn cảnh tình cờ ngẫu nhiên như vậy đấy. Tác phẩm được
đăng lần đầu tiên trong tạp chí văn nghệ quân giải phóng miền trung –
trung bộ số 2 năm 1965. Sau đó được tuyển in trong tập “trên quê hương
những anh hùng điện ngọc”.
-
Tình yêu của tác
giả giành cho Rừng Xà Nu
-
Biểu tượng cho con
người Tây Nguyên
-
Đem lại không khí Tây
Nguyên cho câu chuyện
1.Nhà
văn đạt tên cho tác phẩm của mình là Rừng Xà Nu với ý nghĩa Rừng
xà nu là hình gắn bó mật thiết đã để lại những dấu ấn sâu đạm
trong cuộc đời viết văn của Nguyễn Trung Thành. Nhà văn say mê loài cây
xà nu ấy.
2.Trong
truyện ngắn hình ảnh Rừng xà nu khônng chỉ được chạm khắc thành một
bức tranh phong cảnh có đường nét màu sắc, hương vị đặc trưng của Tây
Nguyên. Mà nó còn làm nền cho câu truyện bi tráng về cuộc đời của T
nú, về con người Tây Nguyên. Vì vậy Rừng xà nu mang ý nghĩa biểu tượng
cho sức sống mảnh liệt, khát vọng tự do, vẻ đẹp tâm hồn và tinh
thần bất diệt của đồng bào Tây Nguyên. Nhan đề của truyện là sự lựa
chọn đặc sắc. Góp phần tạo nên chất sử thi anh hùng lấp lánh cho
tác phẩm RXN
3.
XN là loại cây rất đặc trưng của núi rừng Tây nguyên. Ấy là loại cây
hùng vĩ và cao thượng, man dại và trong sạch vừa thanh nhã vừa rắn
rỏi. Tạo nên một không khí Tây Nguyên, chất Tây Nguyên độc đáo cho
truyện ngắn này.
4.
Đặt cho tác phẩm một cái tên nhiều ý nghĩa như vậy chứng tỏ NTT là
nhà văn giàu tài năng sáng tạo.
|
|