|
|
bình luận
|
Cho biết ý nghĩa nhan đề truyện ngắn "Chiếc thuyền ngoài xa". Vấn đề đâu đơn giản thế hả em. Sẽ không có bức ảnh nào có thể thay thế bởi đằng sau những bức ảnh tưởng chừng như rất đẹp kia lại ẩn chứa biết bao bí ẩn về cuộc sống và đó có thể là những bí ẩn màu tối.
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Người lái đò sông Đà?
|
|
|
|
Ý nghĩa lời đề từ "Người lái đò sông Đà" ''Chúng thuỷ giai đông tẩu Đà giang độc bắc lưu''
Câu thơ của Nguyễn Quang Bích, được tác giả chọn làm lời đề từ gợi ra những ý nghĩa sau: + Câu thơ viết bằng cữ Hán.dịch ra có nghĩa ''Mọi dòng sông đều chảy về Đông, chỉ có 1 sông đà theo hướng Bắc''.V iệc sử dụng chữ Hán trong thơ ca nhằm mục đích nhấn mạnh ý, và tăng thêm tính trang trọng của thơ văn. Ở đây mục đích cũng như vậy.tác giả nhấn mạnh vào sự dặc biệt khác thương của dòng sông là chẩy ngược.từ ''độc'' là 1 từ dắt giá thể hiện sự duy nhất và cá tính của con sông. + Lời đề từ chỉ nét đẹp hoang sơ độc đáo, và nêu thêm sự dữ dằn hung bạo của con sông.luôn mạnh mẽ, sức sống chảy qua 1 vùng núi non hiểm trở. + Lời đề từ không phải của Nguyễn Tuân viết ra nhưng lại rất thích hợp khi đặt trong tuỳ bút này và thích hợp với phong cách Nguyễn Tuân - một con người'' sống là một bản gốc và chết đi không để lại bất cứ 1 bản sao nào'',đó là chuyên viết về ''cái đẹp tuyệt mĩ và dữ dội đến mức khủng khiếp''. Con sông đà ngang ngược là 1 nguồn cảm hứng mãnh liệt thôi thúc nhà văn trong thời kì xây dựng kinh tế mới ở miền bắc, sông đà là mảnh đất màu mỡ để tác giả bộc lộ sở trường của mình.người ta nói nguyễn tuân tìm đến sông đà như 1 sự tất yếu phải sảy ra. =>Lời đề từ hoàn toàn thích hợp để đc sử dụng trong tuỳ bút này,đây cũng là 1 yếu tố làm nên tiếng vang của tác phẩm. Lơì đề từ gợi trí tò mò của người đọc về con sông, cũng như đi tìm cái hay của tác phẩm. Chỉ với lời đề từ này, tác giả đã cho thấy sự thành công của tác phẩm ngay từ những câu đầu tiên.
|
|
|
|
giải đáp
|
giúp mình giải đề nay nha
|
|
|
|
Đây là dạng đề Nghị luận về một vấn đề xã hội được đặt ra trong tác phẩm văn học. Dạng đề này thường dành cho chương trình nâng cao. Theo thầy em có thể trình bày bài viết theo bố cục sau: MB - Khái quát về mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, đất nước - Bài thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện mối quan hệ đó như thế nào? - Trích dẫn bốn câu thơ TB - Phân tích khái quát ý nghĩa bốn câu thơ ( Khoảng 10 dòng) để làm tiền đề nghị luận + tại sao ĐN lại là máu xương? + Thế nào là gắn bó và san sẻ + Hóa thân ở đây nên hiểu như thế nào? + Làm nên đất nước muôn đời nghĩa là gì? - Nộ dung cần bàn rộng: + Hoàn cảnh đất nước ta giai đoạn hiện nay: thuận lợi, thách thức? + Vai trò của thế hệ thanh niên? To lớn, quyết định + Thế hệ thanh niên là những ai: Học sinh, sinh viên, những người trẻ tuổi + Tại sao thanh niên lại có vai trò to lớn như thế? + Thanh niên cần làm gì để thể hiện trách nhiệm của mình với đất nước? + Bài học kinh nghiệm KB. - Khái quát lại ý nghĩa toàn bài
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Hồn Trương Ba...(Bài 2)
|
|
|
|
Dựa vào dàn ý sau em nhé! 1. Xung đột giữa hồn TB với xác HT (cảnh 7) Đây là cuộc đàm thoại 1 bên là phần hồn thanh cao, 1 bên là phần xác dung tục
+TB bị chết 1 cách oan uổng do sự vô tâm, tắc trách của Nam Tào. Lại đc
Bắc Đẩu "sửa sai" 1 cách vô lí, cho hồn TB nhập vào 1 xác anh hàng
thịt. Đã ko sai khiến được còn bị xác thịt điều khiển, dẫn đến linh hồn
bị nhiễm độc bởi cái tầm thường. Ý thức dc điều đó, hồn TB dằn vặt, đau
khổ và quyết định bằng cách tách ra để sống độc lập, hướng tới sự hoàn
thiện về nhân cách.
+Lúc đầu hồn TB tỏ vẻ coi khinh xác anh hàng thịt :"Mày ko có tiếng nói
mà chỉ là cái xác thịt âm u, đui mù" . Xác thịt đã cười nhạo , chế
giễu, bác lại hồn TB, kd sức mạnh âm u, đui mù của mình sẽ chiến thắng.
"Lắm khi át cả cái linh hồn cao khiết của ông đấy"
+ Trong cuộc đối thoại với xác HT, Hồn TB ở vào thế yếu, đuối lí bởi
xác nói những điều mà dù muốn hay không muốn Hồn vẫn phải thừa nhận (cái
đêm khi ông đứng cạnh vợ anh hàng thịt với "tay chân run rẩy", "hơi thở
nóng rực", "cổ nghẹn lại" và "suýt nữa thì...". Đó là cảm giác "xao
xuyến" trước những món ăn mà trước đây Hồn cho là "phàm". Đó là cái lần
ông tát thằng con ông "tóe máu mồm máu mũi",...).
+Xác thịt tìm cách thỏa hiệp bằng cách nêu cụ thể những nhu cầu tn mang
tính bản năng của con người ( các món tiết canh cổ hũ...), kđ vai trò
của mình :" Nhờ tôi mà ông có thể làm lụng, cuốc xới , nhìn ngắm trời
đất, cây cối, người thân..."
+ Xác HT gợi lại tất cả những sự thật ấy khiến Hồn càng cảm thấy xấu hổ, cảm thấy mình ti tiện.
+ Xác HT còn cười nhạo vào cái lí lẽ mà ông đưa ra để ngụy biện: "Ta
vẫn có một đời sống riêng: nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn,...".
+ Trong cuộc đối thoại này, xác thắng thế nên rất hể hả tuôn ra những
lời thoại dài với chất giọng khi thì mỉa mai cười nhạo khi thì lên mặt
dạy đời, chỉ trích, châm chọc. Hồn chỉ buông những lời thoại ngắn với
giọng nhát gừng kèm theo những tiếng than, tiếng kêu.
+Trước lí lẽ ti tiện của xác thịt, hồn TB nổi giận mắng mỏ, khinh bỉ
xác thịt hèn hạ và cố chống lại nhưng phần nào cũng ngậm ngùi vì hắn có
lí, hồn TB bị dồn vào thế yếu. Thấm thía nghịch cảnh, TBa trở lại xác
thịt trong tuyệt vọng.
Qua màn hội thoại của hồn TB và xác HT cho thấy, TB được Bắc Đẩu trả
lại cuộc sống, nhưng 1 cuộc sống ko đáng sống vì cái thanh cao phải dung
hòa với cái thấp hèn, dung tục, thì đó chẳng phải là bi kịch hay sao?
Thể xác & linh hồn con người là 2 thực thể có mối quan hệ hữu cơ, ko
thể vênh lệch, tách rời. Xác thịt có nhu cầu sự sống, nhu cầu mang tính
bản năng. Hồn mang tính chất thanh cao góp phần điều chỉnh thể xác hòa
hợp, vươn tới sự hoàn thiện nhân cách. Cuộc tranh cãi giữa hồn TB và xác
HT là bi kịch thứ nhất của TBa vì xác đã thắng. T/g cảnh báo, khi con
người phải sống trong cái tầm thường, dung tục thì tất yếu sẽ bị nhiễm
độc bởi cái xấu, cái đẹp sẽ bị lấn át, tàn phá.
2 Xung đột giữa hồn TB với gia đình TB ngày càng dằn vặt hơn khi ông
hiểu những điều tệ hại mình đã, đang và sẽ gây ra cho gia đình, mặc dù
ông ko hề muốn. Nguwocj lại, những người thân : vợ, con dâu, cháu gái
cũng đau khổ trước sự tha hóa của TB
+Người vợ mà ông rất mực yêu thương giờ đây buồn bã và cứ nhất quyết
đòi bỏ đi. Với bà "đi đâu cũng được... còn hơn là thế này". Bà đã nói ra
cái điều mà chính ông cũng đã cảm nhận được: "ông đâu còn là ông, đâu
còn là ông Trương Ba làm vườn ngày xưa".
+ Chị con dâu là người sâu sắc, chín chắn, hiểu điều hơn lẽ thiệt. Chị
cảm thấy thương bố chồng trong tình cảnh trớ trêu. Chị biết ông khổ lắm,
"khổ hơn xưa nhiều lắm". Nhưng nỗi buồn đau trước tình cảnh gia đình
"như sắp tan hoang ra cả" khiến chị không thể bấm bụng mà đau, chị đã
thốt thành lời cái nỗi đau đó: "Thầy bảo con: Cái bên ngoài là không
đáng kể, chỉ có cái bên trong, nhưng thầy ơi, con sợ lắm, bởi con cảm
thấy, đau đớn thấy... mỗi ngày thầy một đổi khác dần, mất mát dần, tất
cả cứ như lệch lạc, nhòa mờ dần đi, đến nối có lúc chính con cũng không
nhận ra thầy nữa"
+ Cháu gái thì phản ứng quyết liệt, ko nhận TB là ông. Nó một mực khước
từ tình thân :"Tôi không phải cháu nội của ông...ông nội tôi chết
rồi...". Nó không thể chấp nhận cái con người có "bàn tay giết lợn", bàn
chân "to bè như cái xẻng" đã làm "gãy tiệt cái chồi non", "giẫm lên nát
cả cây sâm quý mới ươm" trong mảnh vườn của ông nội nó. Nó hận ông vì
ông chữa cái diều cho cu Tị mà làm gãy nát khiến cu Tị trong cơn sốt mê
man cứ khóc, cứ tiếc, cứ bắt đền. Với nó, "Ông nội đời nào thô lỗ, phũ
phàng như vậy". Nỗi giận dữ của cái Gái đã biến thành sự xua đuổi quyết
liệt: "Ông xấu lắm, ác lắm! Cút đi! Lão đồ tể, cút đi!".
Qua màn đối thoại, tất cả mọi người thân yêu đã xa dần TB vì hồn ông
dần mờ khuất, chỉ còn cái xác HT thô lỗ, hiện hữu trong nhà gây biết bao
phiền toái, chướng tai gai mắt. TB bị đẩy vào bi kịch đau đớn thứ 2
khiến ông phải đau đớn thốt lên "Mày đã thắng rồi đấy, cái thân xác
không phải của ta ạ ". Con người vốn nhân hậu, tài ba, yêu vợ, quí
thương con cháu bị đẩy vào cảnh ngộ đau đớn, cô đơn. Xung đột kịch đến
cao trào, đẩy TB đến lựa chọn còn - mất. Hồn TB thách thức với xác HT 1
cách gay gắt quyết liệt :"Không cần đến cái đời sống do mày mang lại,
không cần"
3, Xung đột giữa Hồn TB và Đế Thích, TB tự đấu tranh bản thân để thoát ra khỏi nghịch cảnh
+ Gặp Đế Thích, TB thể hiện thái độ kiên quyết chối từ. Ko chấp nhận cs
"hồn một nơi, xác 1 nẻo", kđ muốn được sống độc lập một mình.
+ Lúc đầu Đế Thích ko hiểu, sau hiểu ra, Đế Thích khuyên TBa nên chấp
nhận vì thế giới vốn ko toàn vẹn: "Dưới đất trên trời đều thế cả"
+ TB ko chấp nhận, ông thẳng thắn chỉ trích, vạch ra sai lầm của ĐT :"
Ông chỉ nghỉ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống thế nào ông chẳng cần
biết". TB vạch cho ĐT thấy:" Lòng tốt hời hợt thì chẳng đem lại điều gì
thực sự có ý nghĩa cho ai cả, mà sự vô tâm còn tệ hại hơn, nó đẩy người
ta vào nghịch cảnh, bi kịch"
+ Tiếp tục, ĐT sửa sai của mình bằng cách cho hồn TB nhập vào xác cu
Tị, nhưng TB vẫn kiên quyết từ chối bởi điều đó vẫn là cs giả tạo, nực
cười. Theo ông, việc đó chỉ có lợi cho đám chức sắc, lí trưởng, trương
tuần, như thế còn " khổ hơn là chết". "Chắp vá, gượng ép chỉ càng làm
sai thêm". Mà thôi, lí lẽ duy nhất của ông : "Không thể sống với bất cứ
giá nào được...cứ để tôi chết hẳn...sống thế này khổ hơn cái chết"
Đoạn trích đẩy xung đột lên tới đỉnh điểm, để hóa giải nghịch cảnh, TB
trả xác cho anh hàng thịt, chấp nhận cái chết để linh hồn đc trong sạch
và hóa thân vào các sự vật thân thương, tồn tại vĩnh viễn lên những
người thân yêu của mình. Màn kết với chất thơ sâu lắng, tác giả đã đem
lại âm hưởng lạc quan cho người đọc, đồng thời đi truyền đi bức thông
điệp về sự chiến thắng của cái đẹp, cái thiện và cs đích thực.
KL Qua đoạn trích, LQV muốn gửi tới người đọc thông điệp vừa trực tiếp,
vừa gián tiếp, vừa mạnh mẽ, quyết liệt, vừa kín đáo, sâu sắc về thời
đại của ông. Đc sống làm người quý giá thật, nhưng được sống đúng là
mình, sống trọn vẹn những gtri mình vốn có và theo đuổi còn quý giá hơn.
Sự sống chỉ thật sự có ý nghĩa khi con người được sống tự nhiên, hài
hòa giữa thể xác và tâm hồn. Con người phải luôn luôn biết đấu tranh với
những nghịch cảnh , với chính bản thân mình. Chống lại sự dung tục để
hoàn thiện nhân cách và vươn tới những giá trị tinh thần cao quý. Sống
cs có ý nghĩa, xứng đáng với con người. Đoạn trích vừa có ý nghĩa sâu
sắc, vừa có ý nghĩa nhân văn.
|
|
|
|
|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 02/06/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 31/05/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Giúp e với các mem ơi? NLXH
|
|
|
|
Là
con người, không ai trên thế gian này là hoàn hảo, toàn diện tất cả. Ai
cũng có những sai lầm riêng, đó là điều thông thường nhất của con
người. Thế nhưng, điều quan trọng khiến một con người nổi bật lên những
điều thông tường ấy chính là sự tự giác phát hiện ra sai lầm ấy và biết
tự sửa mình. Có như vậy họ mới có thể đi đến con đường thành công một
cách ving quang nhất, chính đáng nhất. Nói về điều này, người xưa có
câu: "Không có cái hại nào lớn bằng không tự sửa mình".
Chỉ với câu nói ngắn ngủi thôi nhưng người xưa đã để lại cho ta một bài
học kinh nghiệm, một bài học đạo đức thật sâu sắc và ý nghĩa trên cin
đường vươn tới thành công của mỗi người.
Điều có hại trong cuộc sống xung quanh ta thì muôn vàn, từ những điều
nhỏ nhặt như: nói dối, nói sấu, lười biếng, lề mề... dần dần trở thành
thói quen sấu ngấm dần vào trong nhân cách mỗi người, làm cho tâm hồn ta
trở nên vẩn đục, tầm thường hay thậm chí kaf hèn hạ, xấu xa. Nguyên do
chính dẫn đến tình trạng ấy là bởi họ không biết tự sửa mình. Ngay từ
thủơ nhỏ hay từ lúc hình thành sai lầm ấy, ta phải có lý trí sáng xuốt
nhận ra sai lầm do mình gây ra. Sự cố chấp, bảo thủ là con đường ngắn
nhất đưa con người ta đến ngõ cụt. Không
chịu sửa mình tức là nhượng bộ, chấp nhận những thói hư tật xấu và dần
dần, từ một người khách qua đường, nó trở thành "ông chủ khó tính" sai
khiến, điều khiển, hành động của con người, dẫn con gnuoiwf đến những
hành động lầm lạc, thậm chí đi vào vòng soáy của tội lỗi. Thói hư tật
xấu xâm nhập vào con người ngay từ lúc ban sơ, từ những thói nhỏ , được
tái phạm nhiều như: nói dối, nói xấu... thì khi ta càng lớn, thói xấu đó
cũng thằn lên theo mức độ, trở thành thói quen xấu không dễ gì từ bỏ
của con người. Như một em bé lúc nhỏ, đâu ý thức được tác hại của nói
dối, nói xấu. Chỉ vì những ký do đơn giản như: làm bài điểm kém, đánh
bạn, làm mất bút vở mà phải về nhà nói dối bố mẹ. Nếu như các bậc cha
mẹ không kịp thời phát hiên và sửa chữa thì các em sẽ tuwj tạo cho mình
cảm giác an toàn, không bị al mắng khi nói dối. Lâu dần, các em sẽ tiếp
tục nói dối để giấu bố mẹ nhiều chuyện và nó sẽ trở thành thói quen xấu
cho các em. Vì vậy vai trò của bố mẹ trong việc phát hiện và sửa chữa
những tật xấu ngay từ khi mới hình thành là cực kì quan trọng. Đó là
thửơ nhỏ, còn khi lớn lên, mỗi lứa tuổi, mỗi thời ký đều có những sai
lầm riêng, không ai tránh khỏi. Trong nhà trường, nhiều abn học sinh
luôn tỏ thái độ lười biếng trong học tập như: không chịu làm bài tập ở
nhà, không học bài rồi tới giờ kiểm tra lại quay cóp bài bạn. May mắn
lại đỗ nhờ bạn cho xem bài thì những con người ấy sau này sẽ như thế
nào? Sẽ làm công việc gì giúp ích cho đất nước khi mà tấm bằng có được
chỉ là do may mắn. Tất nhiên những con người như vậy xẽ dần dần bị xã
hội đào thải qua quá trình sàng lọc nhân lực của nó. Hậu quả to lớn này
là do thuở học sinh không biết tự sửa chữa mình. Biết là mình lười
biếng, điểm kiểm tra là của bạn vậy mà cũng cos chấp giữ mãi một tật
xấu, không chịu tự sửa mình, không chịu cố gắng học tập để cuối cùng trở
lại thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Không riêng gì chúng ta
ngày nay, ngày trước, cũng đã có không ít vị vua mất nước, mất nhà chỉ
vì không tự sửa bản thân. Lê Long Đỉnh từ khi lên ngôi, suốt ngày ăn
chơi sa đọa, không quan tâm đến dân tình, bao nhiêu của cải của nhân dân
đều bị bọn vua quan vơ vét để phục vụ cho "sự nghiệp ăn chơi" của mình,
làm cho bá tánh trăm họ phải xa vào carh lầm than. Thời gian ấy thần
không ít nhưng cũng đâu phải không có những vị quan thanh liêm, những
người đã nhiều lần khuyên can vua. Nhưng Lê Long Đỉnh với sự cố chấp,
bảo thủ, không chịu sửa chữa những lầm lạc trong lối sống và trong cách
trị dân, hậu quả là bị nhà Lý cướp ngôi. Rồi đến nhà Nguyễn thi hành
chính sách bế quan tỏa cảng, làm cho dân ta bị cô lập vời các nước
phương Tây tiến bộ, quân sự lạc hậu, kinh tế kém phát triển. Các vị quan
như: Nguyễn Trường Tộ, Phan Thanh Giarng sau khi đi sứ, biết được tình
hình phát triển của các nước Phương Tây liền dâng lên các bản điều xin
cải cách, duy tân đất nước nhưng triều Nguyễn vẫn không chịu sửa đổi.
Kết cục là nước ta rơi vào tay bọn thực dân Pháp.
Như vậy tác hại, hậu quả của việckhông chịu sửa mình là không thể lường
trước. Từ một sai lầm nhỏ có thể dẫn đến những sai lầm tiếp theo lớn
hơn, trầm trọng hơn và đôi khi còn nhấn chìm người ta trong hố sâu của
tội lỗi. Một người không biết sửa chữa mình cũng đồng nghĩa với sự tha
hóa dần dần trong nhân cách và cuối cùng là sự đánh mất chính mình. Sai
lầm là do ta tạo ra và chính ta phải sửa sai lầm đó lới giúp ta tự tin
hơn trên con đường xây dựng tương lai cho riêng mình để xã hội phát
triển mà còn giúp ta hình thành nhân cách đẹp, lối sống đẹp và từ đó trở
thành con người đẹp. Mỗi con người tự sửa mình để cùng học tập, cũng
trưởng thành hơn trong nhận thức và suy nghĩ; tự mình để sống cần kiệm
nhưng không keo kiệt, tự sửa mình để có cuộc sống văn minh hơn, tốt đẹp
hơn. "Không có cái hại nào bằng không chịu
tự sửa mình". Tự sửa mình mang lại những điều tốt đẹp cho con người
nhưng phải sửa mình như thế nào cho đúng cách để trở thành người tốt?
Điều này cũng không quá khó khăn đối với những người có ý trí sáng suốt
nhận ra cái đúng, cái sai, cái nào có ịc, có hại một cách kịp thời.
Nhưng thực tế thì không phải dễ dàng như vậy, người ta thường thấy rất
rõ những khuyết điểm, sai lầm của người khác nhưng có mấy ai nhận thức
được toàn bộ khuyết điểm của mình, những sai lầm của mình. Chính vì vậy,
tự sửa chữa mình không đơn giản chỉ dựa vào lý trí của bản thân mà còn
càn đến sự giúp đỡ cỉa những người xung quanh để nhìn nhận một cách đúng
đắn những phần lệch lạc của bản thân. Để tự sửa mình, trước hết mỗi
người phải biết lăng nghe ý kiến đóng góp của người khác, đồng thời cũng
phải biết chọn lọc, nhìn nhận mức độ đúng đắn của những ý kiến ấy để
hoàn thiện bàn thân mình theo cách tốt nhất có thể. Tự sủa chữa mình
cũng cần đến sự tỉ mỉ, để ý đến từng hành động, cử chỉ của những người
xung quanh. Từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn, từ chuyện ăn, ngủ, học hành
đên việc giao lưu tiếp xúc bên ngoài xã hội, ta cần phải biết suy nghĩ
thận trọng từng lời nói, hành động trước khi thực hiện, phải biết rút
kinh nghiệm từ những sai lầm trước đó của bản thân cũng như của người
khác. Tìm đọc những tấm gương đạo đức đã từng sai lầm, đã sửa chữa và đã
thành công cũng là một phương pháp tốt để tự sửa mình. Chẳng hạn như
thầy Mạnh Tử bỏ học giữa chừng về nhà, Mạnh Mẫu đang dệt vải bèn cắt ra
làm đôi. Mạnh Tử hỏi: "Tại sao mẹ lại làm thế" Mạnh Mẫu trả lời: "Khúc
vải này bị cắt làm đôi đã trở thành vô dụng. Con đi học bỏ dở nửa chừng
chạy về nhà chơi cũng có khác gì tấm vải này đâu!" . Thầy Mạnh Tử hiểu,
học siêng năng và đã trở thành con người của muôn dời. Những tấm gương
đạo đức sáng ngời nhân cách như vậy đáng để ta noi theo và phát huy tốt
truyền thống hiếu học của dân tộc ta. Tự sửa mình còn là biết chấp hành
tốt kỷ luật, kỉ cương của Nhà nước, từ bỏ những thói xấu, trái pháp
luật như: trộm cắp, ma túy, mại dâm... để định hướng cho mình phát
triển theo đường lối đúng đắn của đảng và Nhà Nước. Đi đôi với việc tự
sửa mình đó, bản thân mỗi người cần tránh xa những thói hư tật xấu hay
những con người xấu, không để nó ảnh hưởng, xâm nhập vào mình như ông bà
ta đã dạy "Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng".
Tự sửa mình là hành động thiêt thực nhất để giúp mỗi con người hoàn
thiện hơn về nhiều mặt. Bởi ai cũng có những sai lầm dù lớn dù nhỏ, sai
lầm là điều thông thường nhất của con người. Nhưng nếu ta không biết tự
sửa mình thì nó sẽ trở thành cái hại lớn làm hủy hoại, đánh mất đi phần
tốt đẹp nhất của con người. Thật đúng với câu nói: "Không có cái hại nào
lớn bằng không chịu sửa chữa mình".
|
|
|
|
giải đáp
|
Câu 2 -NLXH
|
|
|
|
Bác
Hồ - vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc. Người đã lãnh đạo nhân dân ta đứng
lên chiến đấu chống lại thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược. Trong giai
đoạn cam go và quyết liệt của cuộc chiến tranh ấy, khi mà miền Bắc mới
bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, còn gặp biết bao khó khăn, trắc trở,
miền Nam thì vẫn phải đấu trnh chống đế quốc Mĩ, Bác đã giạy chúng ta "Nước ta còn nghèo. Muốn sung sướng thì phải lực cánh sinh, cần cù lao động!" Lời
giạy của Bác đa thấm vào sâu trong tâm khảm của người dân, cổ vũ cho
mọi người giành được kết quả to lớn: nước ta dành được độc lập, tự do,
phát triển tốt của chủ nghĩa xã hội cho đến nay, đất nước ta đi vào đổi
mới dưới sự lãnh dạo của Đảng, lời dạy trên của Bác vẫn còn vẹn nguyên ý
nghĩa. Với việc đánh giá hoàn cảnh
đất nước: "Nước ta còn nghèo", Bác đã hoàn toàn đúng với thực tế cách
mạng Việt Nam lúc bấy giờ và cho đến nay, lời đánh giá ấy vẫn thật chính
xác." Nước ta còn nghèo", bởi vì nước ta là một nước nông nghiệp lạc
hậu, người dân vẫn lao động vẫn sử dụng chân tay là chính, chưa có trang
thiết bị những phương tiện, công cụ khoa học tiên tiến. Người nông dân
vẫn phải: "Trông trời, trông đất, trông mây Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm..."
Vẫn phải phụ thuộc vào thiên nhiên chứ chưa thể tự mình làm nên
tất cả. Nền nông nghiệp đã vậy thì nói chỉ đến công nghiệp, khoa học kĩ
thuật. Chúng có thể coi là những thứ "Xa xỉ" đối với nước ta. Song song
với lẽ đó, ta biết rằng nước ta đã bị đô hộ hàng trăm năm, phải lệ thuộc
vào nước khác, bị lũ cướp nước ấy bóc lột tàn nhần, rồi khi cả vùng lên
đấu tranh thì hàng chục năm chiến tranh ấy đã để lại trên đất nước này
những hậu quả nặng nề: rừng bị giải chất độc, bị thiêu cháy chỉ còn trơ
trọi gốc, đất đai, làng mạc, ruộng đồng... bị cày sới bởi bom đạn, biết
bao người anh anh dũng, trẻ tuổi của đất nước đã ngã xuống, những người
còn sống thì manh nặng vết thương chiến tranh cả thể sác lẫn tinh thần.
Hạnh phúc không thể đến khi con người ta không trải qua những gian nan.
Vì thế, muốn sống sung sướng, cần phải tự lực cánh sinh, cần cù lao
động. Không ai có thể làm cho mình giàu có được, chỉ có nình phải tự
mình đứng lên, tự xây dựng và phát triển đấy nước để có được cuộc sống
ấm no, hạnh phúc, không thể trông chờ ỷ lại vào bất cứ sự ngoại viện
nào. Có như thế, đất nước ta mới giàu mạnh, không phải phụ thuộc vào
kinh tế dẫn tới sự phụ thuộc vào kinh tế dẫn tới bị phụ thuộc vào chính
trị, nước ta sẽ thực sự đứng vững trên trường quốc tế. Mà đã tự lực cánh
sinh thì phải cần cù lao động để tạo ra của cải vật chất cho xã hội,
đất nước, rồi từ đó có thể ứng dụng khoa học, kỹ thuật, công nghệ tiên
tiến, hiện đại làm giàu cho đất nước, thực sự đưa đất nước ta vươn cao
trên thế giới. Tuy nhiên, tự lực cánh
sinh không có nghĩa là loại trừ hợp tác quốc tế, mà trái lại phải mở
rộng quan hệ quốc tế. Trong quá trình phát triển của cách mạng, Đảng và
Nhà nước luôn kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đoàn kết
dân tộc với đoàn kết quốc tế nên đã giành được những thắng lợi to lớn.
Hiên nay trong xu thế hòa bình, hợp tác, phát triển, Đảng và Nhà nước ta
đang thực hiện đường lối đổi mới, mở cử để phát triển đất nước. Với
việc chủ động tao ra mối quan hệ quốc tế ấy, nước ta đã có điều kiện
thuận lợi để phát triển đất nước, nâng cao vị thế trên trường quốc tế.
Với tinh thần ấy, nước ta xẽ càng có nhiều bè bạn, tranh thủ được nhiều
nguồn lực để sây dựng và bào vệ tổ quốc.
Đồng thời, ta phải thật cần cù lao động, kết hợp với tiết kiệm và sáng
tạo trong học tập, ứng dụng khoa học kĩ thuật để tạo năng suất thật chất
lượng hiệu quả, cải thiện đời sống của nhân dân, tạo cơ sở vững chắc
cho sự phát triển kinh tế ở nước ta.
Lời dạy của Bác qua bao nhiêu năm vẫn luôn là lời khắc cốt ghi tâm, mãi
in sâu trong làng người dân Việt Nam, họ lấy đó làm động lực phát triển,
hoàn thiện bản thân mình, để từ đó góp phần xây dựng, phát triển đất
nước. Chúng ta, mỗi công dân của đất
nước, dù cho hoàn cảnh khó khăn nào, hãy làm theo lời Bác dạy, vượt lên,
cần cù học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ của mình, chiếm lĩnh kiến
thức khoa học kĩ thuật hiện đại để thực hiện ước mơ làm cho đất nước
ngày càng giàu mạnh.
|
|
|
|
giải đáp
|
Giúp em bài này ak
|
|
|
|
Nguyễn
Đình chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc là bài viết của
Phạm Văn Đồng đăng trên Tạp chí Văn học số 7 – 1963 nhân kỷ niệm 75 năm
ngày mất của Nguyễn Đình Chiểu (3 – 7 – 1988).
Bằng sự từng trải
cách mạng, sự gắn bó sâu sắc với đất nước, với nhân dân và cách nghĩ sâu
rộng của một nhà văn nghệ lớn, tác giả đã nhìn nhận cuộc đời và thơ văn
Nguyễn Đình Chiểu trong mối liên hệ khăng khít với hoàn cảnh của Tổ
quốc lúc bấy giờ và với thời đại hiện nay; từ đó phát hiện ra những điều
mới mẻ về nhà thơ yêu nước lớn ở miền Nam, giúp ta càng thêm yêu quý
con người và tác phẩm của ông. Bài viết ra đời cách đây hơn 40 năm nhưng
vẫn còn nguyên giá trị cả về mặt khoa học và mặt tư tưởng.
Văn bản gồm ba phần, ứng với ba luận điểm lớn:
-Phần 1: Từ đầu đến “khôn lường thực hư”, nói về con người và quan niệm văn chương của nguyễn Đình Chiều.
-Phần 2: Từ “Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu” đến “hai vai nặng nề” nói về thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu.
-Phần 3: Phần còn lại, nói về Truyện thơ Lục Vân Tiên.
Nhìn
chung, cách sắp xếp các luận điểm như vậy là phù hợp với logic nội dung
bài viết. Lưu ý ở đây, tác giả nói về thơ văn yêu nước của nguyễn Đình
Chiểu trước, sau đó mới nói đến truyện Nôm Lục Vân Tiên. Phải chăng tác
giả muốn người đọc chú ý hơn đến thơ văn yêu nuwocs của Đồ Chiểu? Tác
giả cho rằng văn thơ của Nguyễn Đình chiểu cũng giống như “những vì sao
có ánh sáng khác thường”, “con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn thì
mới thấy”. Đó là một khái niệm có ý nghĩa phương pháp luận trong cách
nhhinf về nhà thơ yêu nước này.
Đây chính là vẻ đẹp mộc mạc, giản
dị, dân dã của nhà thơ nguyễn Đình Chiểu, vẻ đẹp của loại văn chương
hướng về đại chúng, gắn bó máu thịt với nhân dân, phục vụ cuộc sống của
người dân, mang tính nhân dân sâu sắc. Văn chương Đồ Chiểu không trau
chuốt, óng mượt mà chân chất, phác thực, có chỗ tưởng như thô kệch,
nhưng lại chứa đựng trong đó những tư tưởng, tình cảm nồng hậu, cao quý
đối với nhân dân. “Nó không phải là vẻ đẹp của những cây lúa xanh uốn
mình trong gió nhẹ. Nó đẹp vẻ đẹp của đống thóc mẩy vàng”. (Nguyễn Đình
Chú). Vẻ đẹp khác thường này đáng quý lắm, và càng đáng quý hơn khi ta
biết nhà thơ đã sáng tác trong hoàn cảnh mù lòa, cuộc sống gặp nhiều khó
khăn và bất hạnh.
Vì vậy vẻ đẹp của văn chương “thô mà tinh” ấy
khiến “con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn mới thấy”. Lâu nay, chúng
ta đã quen nhìn loại văn chương trau chuốt, gọt giũa, lời lẽ hoa mĩ với
hình tượng hùng vĩ, tráng lệ, phi thường…nên thật khó cảm nhận được
tính ý sâu sắc xa, thấy hết vẻ đẹp đích thực của văn thơ Đồ Chiểu. Vì
vậy, “phải chăm chú nhìn thì mới thấy”, tức phải dày công, kiên trì
nghiên cứu, phải chăm chú nhìn bằng cái nhìn khoa học đúng đắn mới khám
phá được vẻ đẹp thơ văn Nguyễn Đình Chiểu.
-Ý nghĩa phương pháp
trong việc nghiên cứu, đánh giá thơ văn Nguyễn Đình Chiểu: Điều chỉnh
cách nhìn để có một định hướng đúng đắn trong việc nghiên cứu, tiếp cận
một nhà thơ như Nguyễn Đình Chiểu.
Một cuộc sống đẹp, đầy nghị
lực, dù gặp nhiều khó khăn và bất hạnh nhưng vẫn đứng thẳng, ngẩng cao
đầu mà sống, không phải vì mình mà vì dân vì nước, theo lý tưởng “Kiến
nghĩa vất vi vô dõng dã!”, tỏ thái độ bất khuất, bất hợp tác quyết liệt
trước sự mua chuộc của thực dân Pháp. Cùng với cuộc sống đẹp đó là một
quan niệm sáng tác đúng đắn và tiến bộ: “Chở bao nhiêu đạo thuyền không
khẳm – Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà!” Đó là thơ văn chiến đấu, đánh
thẳng vào giặc ngoại xâm và tôi tớ của chúng. Đối với Nguyễn Đình Chiểu,
cầm bút, viết văn là một thiên chức. Và ông đã làm đúng thiên chức đó.
-Thơ
văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu phục vụ đắc lực cuộc chiến đấu chống
xâm lược, bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta, làm sống lại trong tâm trí
cảu chúng ta phong trào kháng Pháp oanh liệt và bền bỉ của nhân dân Nam
Bộ từ 1860 về sau, suốt hai mươi năm trời, với những bài văn tế mà tiêu
biểu là Văn tế nghĩa sỹ Cần Giuộc, những bài điếu, tác phẩm Ngư Tiều y
thuật vấn đáp…Đó là những tác phẩm sôi sục lòng căm thù và dạt dào lòng
yêu nước với những hình tượng cao đẹp của người nông dân – nghĩa sỹ đánh
giặc, những lãnh tụ của nghĩa quân, những tấm gương bất khuất trước kẻ
thù…
Nói đến truyện thơ Lục Vân Tiên – Phạm Văn Đồng xem như là
một bài ca hào hùng mà tha thiết về lý tưởng đạo đức của tác giả - cũng
là lý tưởng đạo đức của nhân dân, ca ngợi những con người trọng nghĩa,
khinh tài, trước sau một lòng, mặc dầu khổ cực, gian nguy, quyết phấn
đấu vì nghĩa lớn như Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, Tiểu Đồng, Vương Tử
Trực, Hớn Minh…Bằng cách nhìn mới mẻ và đứng đắn, tác giả đã có sự nhìn
nhận và đánh giá lại “giá trị văn nghệ của bản trường ca thật là hấp dẫn
từ đầu đến cuối” này. Đây là một sự “điều chỉnh” cần thiết để khôi phục
lại giá trị nghệ thuật vốn có của tác phẩm.
-Cho đến nay, vẫn
còn nhiều người chưa hiểu hết giá trị của văn chương Nguyễn Đình Chiểu,
trong đó có không ít người, còn nhìn nhận phiến diện về thơ văn ông,
thậm chí còn “chê” văn thơ ông là thô ráp, nôm na… Hãy sáng tỏ hơn
nữa trong thời đại ngày nay để khôi phục lại giá trị đích thực của nhà
thơ yêu nước lớn miền Nam từng có ảnh hưởng to lớn và sâu rộng trong
nhân dân ta, không chỉ thời bấy giờ mà ngay cả trong cuộc sống hiện nay.
Bài
văn nghị luận không chỉ xác đáng, chặt chẽ mà còn xúc động, thiết tha
với nhiều hình ảnh, ngôn từ đặc sắc, khiến người đọc còn nhớ mãi.
|
|
|
|
giải đáp
|
Trả lời giúp em câu này với a!
|
|
|
|
. Giới thiệu được luận đề cần giải quyết
2. Giải quyết vấn đề a. Giải thích: + Giải thích từ ngữ: - Kẻ cơ hội là người nhanh chóng nắm bắt hoàn cảnh hoặc điều kiện thuận lợi để thực hiện một mục tiêu nào đó. - Nôn nóng: thái độ vội vàng, muốn nhanh chóng đạt được kết quả -
Người chân chính: người có những suy nghĩ và việc làm nghiêm túc, có
đạo đức, có mục tiêu tốt đẹp theo đúng chuẩn mực của xã hội; đạt đến
thành công bằng chính năng lực của mình. - Kiên nhẫn: quyết tâm, bền chí để đạt được mục tiêu đã xác định. - Thành tích, thành tựu: kết quả tốt đẹp cuối cùng của một quá trình suy nghĩ và làm việc. + Giải thích ý nghĩa cả câu: Ý
kiến trên cho thấy kẻ cơ hội và người chân chính đều muốn có những kết
quả tốt đẹp cho việc làm của mình nhưng kẻ cơ hội thì vội vàng, còn
người chân chính thì kiên nhẫn. Câu nói có phần phê phán thái độ nôn
nóng, vội vàng, mặt khác khẳng định sự kiên nhẫn của người chân chính.
b. Bàn luận: - Kẻ cơ hội thì nôn nóng tạo ra thành tích: +
Có ý kiến cho rằng “Đời người có ba thứ qua đi không lấy lại được là
tuổi trẻ, thời gian và cơ hội”. Cơ hội chỉ xuất hiện trong một thời điểm
nhất định, nếu không biết nắm bắt, nó sẽ vuột mất. Vì vậy, kẻ cơ hội
rất nôn nóng trong việc vận dụng điều kiện thuận lợi để thực hiện mục
tiêu của mình. + Đời người có thể có nhiều cơ hội nhưng các cơ hội ấy
không giống nhau, vì vậy một khi cơ hội qua đi sẽ không đạt được kết
quả như ý. + Kẻ cơ hội hiểu rất rõ sự bất ổn này nên có thể dùng mọi mánh khóe, thủ đoạn để đạt được kết quả (dẫn chứng). - Người chân chính thì kiên nhẫn để đạt được thành tựu: +
Người chân chính cũng biết nắm bắt cơ hội nhưng không đạt được mục tiêu
bằng bất cứ giá nào như kẻ cơ hội. Nếu thất bại, người chân chính sẽ
đứng lên từ chính chỗ thất bại ấy để làm lại từ đầu. + Người chân
chính thường làm việc với một lý tưởng phù hợp với những chuẩn mực của
xã hội nên có sự bền chí, quyết tâm trong việc thực hiện mục tiêu. +
Người chân chính xem cơ hội là phương tiện chứ không phải là cứu cánh
trong việc thực hiện mục tiêu. Do vậy, họ có lòng kiên trì, theo đuổi
mục tiêu cho đến cùng, chứ không dựa dẫm, không dùng thủ đoạn (dẫn
chứng).
c. Mở rộng: Ý kiến này giúp ta phân
biệt rõ thế nào là kẻ cơ hội và người chân chính. Mặt khác, nó cho thấy
cách thực hiện mục tiêu của kẻ cơ hội và người chân chính rất khác nhau.
Từ đó, ý kiến này có vai trò định hướng cho học sinh và thanh niên
trong việc thực hiện ước mơ, theo đuổi mục tiêu của mình. Ta phải biết
nắm bắt cơ hội nhưng cũng phải có lòng kiên nhẫn thì mới đạt được những
thành tựu tốt đẹp, có ý nghĩa.
3. Kết luận: Rút ra bài học về nhận thức và hành động cho bản thân.
|
|
|
|
bình luận
|
ĐỀ THI THỬ SỐ 5 cảm ơn em đã gửi câu trả lời. Nếu có trích dẫn ở đâu , nhớ ghi rõ nguồn em nhé! Chúc em thành công
|
|
|
|
|
|
|
|