|
|
giải đáp
|
Tính giao thời của bài thơ "Hầu trời"
|
|
|
|
Tư liệu tham khảo:I. DẪN NHẬPNhững năm bản lề giữa hai thế kỷ XIX và XX cũng là những năm bản lề giữa hai thời kỳ văn học. Trong đời sống văn học, dòng văn học chính thống tiêu biểu cho văn chương nhà Nho dần bước vào giai đoạn kết thúc. Ở những năm 1900 – 1930 trong văn học Việt Nam liên tiếp xảy ra nhiều hiện tượng chuyển hóa và đồng thời xuất hiện những sự kiện văn học có tiếng vang lớn về nghệ thuật, tư tưởng có ý nghĩa cắm mốc báo hiệu sự chuyển hướng trong văn học. Tuy nhiên đó chỉ là những bước chuyển nhẹ nhàng, là sự manh nha xong chưa đủ để hình thành nền văn học hiện đại.Nhưng có thể nói đó là giai đoạn quan trọng có tính chất giao thời, chuẩn bị cho cuộc lột xác trên mọi phương diện của văn học để hình thành nên giai văn học hiện đại về sau.Và tính giao thời đã trở thành một đặc trưng góp phần làm nên sự đặc biệt cho cả giai đoạn văn học Việt Nam từ 1900 – 1930. II.NỘI DUNG LÝ THUYẾT1. Những tiền đề dẫn tới sự xuất hiện của tính giao thời trong giai đoạn 1900 -1930 1.1- Tình hình chính trị.Ðầu thế kỉ XX Pháp cơ bản đã thực hiện xong công cuộc bình định trên đất nước ta và chuyển sang khai thác thuộc địa, xây dựng trật tự mới. Đây là những ngày tháng đau thương, bi đát nhất của lịch sử. Thôn xóm, làng mạc Việt Nam tiêu điều xơ xác do kẻ thù tàn phá, nhân dân phải xiêu tán lưu lạc khắp nơi. Trong khi đó cột sống của chế độ phong kiến cũng bị sụp đổ. Hàng ngũ giai cấp thống trị tan rã. Cả bộ máy thống trị của nhà nước phong kiến từ triều đình đến tỉnh, huyện, làng, xã đều trở thành tay sai cho bọn xâm lược. Mọi quyền hành đều nằm trong tay Pháp. Tầng lớp trí thức thời phong kiến lúc bấy giờ cũng lâm vào tình trạng sống dở, chết dở.Trong bối cảnh chính trị phức tạp và đen tối như thế, thanh niên Việt Nam cảm thấy bi quan tuyệt vọng vô cùng. Họ cũng hết sức chán nản lối học cũ, bởi vì ai cũng nhận ra một điều rõ ràng thời cuộc đã không còn ưu ái họ, những tư tưởng kiến thức xưa đã không còn phù hợp nữa.Họ quyết định bỏ lối học từ chương, đi tìm đến những tri thức hiện đại mà họ biết được qua sách vở và báo chí nước ngoài được bí mật đưa vào Việt nam lúc này. 1.2-Tình hình xã hội.Xã hội nước ta trước khi Pháp xâm lược là một xã hội phong kiến phương Ðông.Khi có mặt thực dân Pháp trên đất nước ta thì mọi cái đã thay đổi.Kinh tế hàng hoá kích thích sự phát triển của công thương nghiệp làm cho thành thị phát triển, làm xuất hiện nhiều nhu cầu mới, phát triển nhiều nghề mới, tầng lớp giai cấp mới.Nhìn chung, xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX có nhiều biến động. Cơ cấu xã hội thay đổi hoàn toàn và điều đó là tất yếu dẫn tới sự thay đổi của nhiều lĩnh vực khác trong đó có văn học. 1. 3-Tư tưởng, văn hoá xã hội lúc bấy giờ a) Tư tưởng xã hội.Xã hội Việt Nam trước khi Pháp xâm lược là một xã hội phong kiến chuyên chế tập quyền cao độ.Ðến khi có sự hiện diện của thực dân Pháp, tình hình chính trị xã hội đã có nhiều biến đổi.Ðến đầu thế kỉ XX , giai cấp phong kiến đã tỏ ra bạc nhược, ươn hèn, cúi đầu làm tay sai cho giặc. Hàng ngũ giai cấp thống trị tan rã hoàn toàn. Ý thức phong kiến cũng ngày càng thể hiện tính chất lạc hậu, cổ hủ.Với cách nhìn của các nhà Nho tiến bộ thời này, nó là sức mạnh cản trở sự phát triển của xã hội. Cho nên, các nhà chí sĩ Ðông Kinh Nghia Thục đã chủ trương chống lại tư tưởng phục cổ, sùng bái cổ nhân, giáo điều, có tác hại kìm hãm sự phát triển của trí tuệ. Họ chủ trương làm cho con người phải từ bỏ tư tưởng sống định mệnh, trở nên can đảm, làm chủ cuộc đời mình, có khả năng hiểu biết vũ trụ, phất cao ngọn cờ khoa học. Lúc này giai cấp tư sản đã ra đời, tư tưởng tư sản cũng xuất hiện.Nó được đưa từ nước ngoài vào, thông qua các sĩ phu tiến bộ. Ý thức tư sản còn giới hạn trong phạm vi các thành thị và tỏ ra còn nhiều yếu ớt.Tuy nhiên, khi đề cập đến vấn đề ảnh hưởng của ý thức hệ tư sản Việt Nam đối với sự phát triển của văn học, cũng cần phải lưu ý rằng: Mặc dù giai cấp tư sản Việt Nam ở giai đoạn này, bản chất là ốm yếu, phát triển què quặt nhưng đó là sự ốm yếu, què quặt về kinh tế, chính trị, văn hoá. Ðối với công cuộc hiện đại hoá văn chương Việt Nam, ý thức hệ tư sản đã có một vai trò xúc tác tích cực. b) Đời sống văn hóa tinh thần.Nhìn chung, nền văn hoá Việt Nam được thai nghén và trưởng thành trong cái nôi văn hoá Ðông Nam Á. Tư tưởng phương Ðông đã ăn sâu vào phong tục, tập quán và tâm khảm của con người. Thế mà đến đầu thế kỉ XX, sự du nhập của văn hoá phương Tây vào Việt Nam đã làm thay đổi những giá trị cổ truyền của dân tộc. Văn hoá Việt Nam chuyển dần sang nền văn hoá hiện đại chịu ảnh hưởng của văn hoá phương Tây. Lúc này chữ quốc ngữ đã đi vào đời sống và được sử dụng.Việc đổi mới chữ viết đã mang nhiều ý nghĩa lớn, nó không chỉ tạo điều kiện dễ dàng trong việc học, viết, đọc mà còn cung cấp phương tiện hiện đại cho nền văn học mới. Trong văn học phổ biến sử dụng chữ quốc ngữ cũng góp phần thúc đẩy việc xây dựng và phát triển nền văn xuôi Việt Nam. Ở giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX đã có xuất hiện những sáng tác văn xuôi bằng chữ quốc ngữ của Trương Vĩnh Kí và Huỳnh Tịnh Của. Nhưng đây chỉ là những mò mẫm ban đầu, những thí nghiệm lẻ loi chưa có tính chất phổ biến. Sang đầu thế kỉ XX, văn xuôi Việt Nam mới thể hiện những tiến bộ rõ rệt. Bên cạnh đó, do có sự tiếp xúc với văn học phương Tây mà nền văn học Việt Nam giai đoạn này đã xuất hiện thể loại mới. Chất văn xuôi, tính cách cá nhân phương Tây còn ảnh hưởng đến cả lĩnh vực sáng tác lâu đời trong văn học Việt Nam, đặc biệt là thơ. Thơ Tản Ðà, thơ Trần Tuấn Khải…trong giai đoạn này đã mang những giai điệu mới. Ðầu thế kỉ XX, công tác dịch thuật, biên khảo, nghiên cứu phê bình văn học bắt đầu phát triển mạnh theo một chiều hướng tiến bộ đã để lại nhiều công trình đáng trân trọng làm cho văn học Việt Nam tiếp xúc rộng rãi với văn học thế giới, giới thiệu với công chúng Việt Nam nhiều thể loại mới, làm phong phú vốn từ ngữ và trau dồi câu văn Việt Nam. Nội dung tư tưởng của văn học giai đoạn này (trừ văn học nô dịch) nổi bật ba xu hướng là: Xu hướng yêu nước, xu hướng lãng mạn, xu hướng hiện thực. Xu hướng văn học yêu nước có sự thăng trầm theo diễn biến của các phong trào Cách mạng. Xu hướng hiện thực mới được manh nha trong giai đoạn này qua một số tác phẩm của Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Hồ Biểu Chánh, Vũ Ðình Long... Các tác giả đã phanh phui những xấu xa của xã hội thực dân nửa phong kiến, phơi bày cảnh khổ của nhân dân.Xu hướng lãng mạn được khơi nguồn từ các tác phẩm của Ðông Hồ, Tản Ðà, Hoàng Ngọc Phách. Văn chương hiện thực và lãng mạn giai đoạn này như khúc nhạc dạo đầu chuẩn bị cho buổi hoà tấu sẽ được diễn ra vào giai đoạn 1930 - 1945. Vào thập niên thứ ba của thế kỷ đã xuất hiện các sáng tác của Nguyễn Ái Quốc được gởi từ nước ngoài về như: Con rồng tre, Nhật kí chìm tàu, Bản án chế độthực dân Pháp, Ðường Cách mạng ... Nguyễn Ái Quốc đã khai sinh cho dòng văn học của giai cấp vô sản của nước ta. Sự thay đổi của tình hình đất nước đã kéo theo sự thay đổi của tất cả các lĩnh vực, trong đó có văn học. Ảnh hưởng của các xu hướng các tư tưởng văn hóa nước ngoài như cơn gió mát đem tới hơi thở mới cho văn học, để văn học thức tỉnh và có những bước chuyển. Giai đoạn quá độ để văn học chuyển sang trang mới, trang văn học hiện đại là giai đoạn dặc biệt của tiến trình văn học hay chúng ta thường gọi là giai đoạn giao thời. 2.Tính giao thời – nét đặc trưng trên tiến trình hiện đại hóa văn học 2.1-Khái niệm về tính giao thời trong văn học.Nói đến văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX là người ta nghĩ ngay tới tính giao. Theo Trần Đình Hượu và Lê Trí Dũng nói về tính giao thời trong văn học như sau: “ Văn học của cả giai đoạn 1900 – 1930 có tính giao thời. Tính giao thời đó được biểu hiện ở sự tồn tại song song hai nền văn học cũ và mới với hai lực lượng sáng tác, hai công chúng với hai quan niệm văn học, hai ngôn ngữ văn học ở hai địa bàn khác nhau, ở xu thế thắng lợi của nền văn học mới đang tiến tới thay thế nền văn học cũ đang suy yếu dần. Ở giai đoạn giao thời này, nền văn học cũ tuy đã trên đà suy tàn nhưng vẫn giữ một vị trí đáng kể, vẫn còn một tác dụng tích cực nhất định trong sự phát triển của văn học dân tộc”.Tóm lại giao thời là một thời kỳ phức tạp trong lịch sử văn học, thời kỳ đầy thách thức chỉ cho phép tiến chứ không thể lùi. 2.2.Biểu hiện của tính giao thời trong văn học giai đoạn 1900 – 1930. 3.1-Lực lượng sáng tác.Trong thời kỳ trung đại, nền văn học của ta có sự hiện diện của cả hai lực lượng sáng tác: Lực lượng nhà nho và lực lượng nông dân. Mỗi bên có công chúng, đề tài, đời sống, phương thức truyền đạt riêng, lý tưởng thẩm mĩ và các thể loại thường dùng cũng khác nhau. Lực lượng sáng tác của văn học viết thời trung đại chủ yếu là nhà Nho, những trí thức phong kiến. Nhà Nho thời phong kiến có một địa vị đặc biệt trong xã hội.Họ bước vào đời với hoài bão "phải có danh gì với núi sông". Họ học thật chăm chỉ để thi đỗ đạt, mong tìm chút danh phận rồi từ đó đem sức lực cống hiến cho đời (dĩ nhiên đó là những nhà Nho chân chính) nhưng khi xã hội phong kiến suy vi, nhà Nho lại bất bình chán nản. Lúc ấy họ tâm đắc với giáo điều của Lão - Trang.Họ thường tìm đến cuộc sống ẩn dật.Có thể thấy một điều đặc biệt ở nhà Nho là họ thường hay băn khoăn về vấn đề xuất xử và ở vào những giai đoạn xã hội phong kiến suy vong thì lối sống ẩn dật là lối sống phổ biến của những nhà Nho có khí tiết. Thời kỳ ẩn dật cũng là thời kỳ nhà Nho sáng tác nhiều nhất.Ðầu thế kỷ XX, giai đoạn lịch sử đầy biến động, có sự chi phối mạnh mẽ của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, của văn học phương Tây, lực lượng nhà nho không tách rời sự phân hóa. Có những nhà Nho vì yêu nước thương dân, không cam tâm làm nô lệ đã tiếp tục đứng lên chống Pháp (Phan Bội Châu, Ngô Ðức Kế, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền, Huỳnh Thúc Kháng...) họ được tiếp nhận và phát triển luồng tư tưởng cách mạng từ châu Âu đưa đến. Họ vừa họat động chính trị vừa sáng tác văn chương. Buổi đầu khi phong trào cách mạng lên cao, các nhà Nho có nhu cầu đưa những vấn đề mới của xã hội vào văn học nên họ sáng tác say sưa. Bằng những cách tân nghệ thuật họ nhiệt tình thể hiện những vấn đề mới của xã hội, cuộc sống và con người.Tác phẩm của họ thường phong phú về số lượng, đa dạng về đề tài và có những tác động mạnh mẽ đối với xã hội, làm "dậy sóng" phong trào yêu nước lúc bấy giờ.Ý thức hệ phong kiến không còn chi phối tư tưởng của họ một cách nặng nề như trước nữa.Họ không còn muốn nói đến đạo lý thánh hiền và cũng chẳng hề gò câu đẽo chữ để tạo sự bóng bẩy cho bài thơ, bài văn. Họ chỉ hướng đến một mục đích duy nhất : giải phóng đất nước, xây dựng quốc gia hùng cường.Văn chương của họ lúc này trở về với đặc điểm văn chương ở thế kỷ trước. Nói chung, lực lượng nhà Nho tiến bộ này tuy đã được tắm gội trong các phong trào cách mạng tư sản, được hít thở không khí hiện đại từ các sách tân thư, tân văn nhưng cái cốt cách nhà Nho của họ không thể nào biến dạng được.Bên cạnh những nhà Nho cấp tiến ấy, một số nhà Nho khác "vẫn tự hào về thơ phú, chữ nghĩa đạo lý thánh hiền, vẫn làm thơ phú". Nhưng xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX đang trên con đường tư sản hóa không dành chỗ cho cuộc sống ẩn dật của nhà Nho bất đắc chí cho nên hình tượng người ẩn sĩ cũng mất dần trong văn học.Vào giai đoạn này có xuất hiện một số trường hợp nhà Nho rời nông thôn ra thành phố sinh sống bằng nghề viết văn.Sống ở thành thị, giữa những người dân thành thị dần dần bản thân họ cũng bị thành thị hóa.Họ dùng những thể thức văn học cũ để gởi gắm những cảm xúc cá nhân, những cảnh vật và không khí thành thị. Họ đã khai thác tất cả những kinh nghiệm sáng tác trong văn học dân gian và các truyện nôm của các nhà nho tài tử trước kia. Họ là những người có đóng góp đáng kể cho tiến trình hiện đại hóa văn chương Việt Nam.Ðến đầu thế kỉ XX, nhà Nho không còn là lực lượng sáng tác chính. Bên cạnh họ đã có xuất hiện một lực lượng sáng tác mới. Ðó là lực lượng trí thức tân học.Ðây là những người vừa mới được đào tạo từ các trường Pháp - Việt.Phần lớn trong số họ bắt đầu từ công việc làm báo, có những nhà cựu học viết bằng chữ Hán. Dần dần, theo con đường dịch thuật, phỏng tác... họ chuyển từ viết báo sang viết truyện ngắn, kịch, nhanh chóng đáp ứng được đòi hỏi của công chúng thành thị. Họ khác với các nhà Nho cấp tiến, chú trọng đến văn hóa hơn là chính trị. Nhìn chung, họ là những người mạnh dạn đến với cái mới. Tuy nhiên ở họ không tránh khỏi những dằn dặt, trăn trở khi chọn cho mình một hướng đi để phù hợp với sự phát triển của thời đại. Họ đến với cái mới vì ước nguyện dung hòa hai nền văn hóa Âu - Á. 3.2- Quan niệm sáng tác.Quan niệm sáng tác của văn học trung đại là quan niệm của nhà Nho, chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng Nho giáo, đến giai đoạn này người sáng tác không theo duy nhất một quan niệm như trước nữa."Văn dĩ tải đạo", "Thi ngôn chí" đó là quan niệm chủ yếu và phổ biến của nhà Nho trong thời kỳ trung đại.Quan niệm đó vẫn tồn tại trong giai đoạn 1900 - 1930. Phan Bội Châu, một người có nhiều tư tưởng tiến bộ nhưng vẫn vướng víu với quan niệm cổ hủ này, khi cho rằng sáng tác văn chương là để "lập công" "lập chí", "lập ngôn". Tản Ðà, người đã mạnh dạn cách tân phương pháp sáng tác cũ, tiến hành một cuộc cách mạng trong nghệ thuật thơ ca nhưng vẫn có tư tưởng phân biệt loại văn "vị đời" và "văn chơi". Vào giai đoạn này đã xuất hiện quan niệm sáng tác mới, thể hiện ở nhiều phương diện. Quan niệm văn học phục vụ chính trị , chính vì ý thức được văn học phục vụ chính trịsáng tác văn chương nhằm tuyên truyền vận động cứu nước đã khiến nhà văn phải quan tâm đến đối tượng công chúng là toàn thể nhân dân, trong đó có cả quần chúng lao động. Người sáng tác phải tìm mọi cách để lưu truyền phổ biến tác phẩm của mình. Cho nên văn học không còn tính chất bình kín trong một nhóm người nhỏ hẹp, mà nó đã được công bố rộng rãi bằng nhiều hình thức. Giờ đây người ta tìm cách in ấn và sử dụng in ấn để xuất bản tác phẩm văn học. Khi đã có xuất bản thì văn chương không còn là của riêng ai hay của một giai cấp nào, mà được xem là những giá trị văn hóa của toàn xã hội.Quan niệm về thể loại cũng khác trước, tiểu thuyết và kịch được công nhận là một thể loại văn học, không còn bị khinh rẻ.Nho sĩ ngày trước chuộng thơ, gởi gắm tâm hồn của mình trong thơ, bộc bạch tâm sự chí khí bằng thơ. Họ nhận thấy văn xuôi có nhiều khả năng phản ánh chân thật, cụ thể đa dạng cuộc sống tư sản hóa đầy những cảnh đời phức tạp, bon chen. Ðối với các nhà Nho, vấn đề mô tả hiện thực cuộc sống không phải là điều mà họ quan tâm đến.Ngược lại các tư tưởng của nền văn học mới để hết tâm sức vào vấn đề phản ánh hiện thực. Mặc dù vấn đề phản ánh hiện thực khách quan trong văn học ở giai đoạn này còn bị chi phối bởi quan niệm đạo đức nhưng vẫn thể hiện được sự nâng cao vai trò nhận thức của văn học đối với cuộc sống ở họ so với trước. Văn học trung đại sùng cổ nhân, trọng quá khứ, nhân vật lý tưởng của nó là những trang tài tử giai nhân hoặc anh hùng cái thế. Nhưng nhân vật của văn học mới là những con người rất bình thường, bao gồm đủ mọi thành phần trong xã hội. Nói chung nhân vật trong văn học mới rất đa dạng, vượt khỏi khuôn khổ chật hẹp của văn học phong kiến. Chính thái độ tư tưởng thẩm mĩ mới của các nhà văn đối với cuộc sống và con người trong giai đoạn này đã dẫn đến sự hình thành chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lãng mạn trong giai đoạn sau. Ðây cũng là một giai đoạn xuất hiện quan niệm mới, xem việc sáng tác văn chương là một nghề kiếm sống, "nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng" (Tản Ðà). Nhìn chung, sự phân hóa trong quan niệm sáng tác "tìm thấy trong toàn bộ đời sống của nền văn học mới, trong loại tác giả này và loại tác giả khác, tuy cùng thời nhưng khác nhau về quan điểm tư tưởng - thẩm mĩ, về nguồn gốc xuất thân và học vấn, tài năng, tuy hai bình diện đối lập nhau của một thể thống nhất của một tác giả" và "đó là một quá trình lâu dài, chồng chéo lên nhau, giằng co, tranh chấp giữa cái cũ và cái mới". 3.3-Phương thức và ngôn ngữ sáng tác.Văn chương thời trung đại là sản phẩm của những cá nhân riêng lẽ nhưng vẫn mang một đặc trưng chung, bởi nó được tạo nên bằng một phương pháp sáng tác chung, thể hiện qua một số yếu tố : ngôn ngữ, thể loại, kết cấu, nhân vật... Ðầu thế kỉ XX, người sáng tác không còn tuân thủ theo một hệ thống phương pháp sáng tác duy nhất ấy nữa. Hoàn cảnh khách quan và nhân tố chủ quan đã đẩy người sáng tác đến sự lựa chọn khá gay go và phức tạp. Bám lấy phương pháp sáng tác cũ hay đi tìm phương pháp sáng tác mới. Tình hình đó đã tạo ra tình trạng phân hóa không thể tránh khỏi trong phương pháp sáng tác. Một số nhà nho đã chọn con đường cách tân nghệ thuật sáng tác của nhà Nho. Họ vẫn theo phương pháp sáng tác cũ nhưng có những đổi mới đáng kể. còn những người thuộc lực lượng trí thức tân học thì chọn con đường học theo phương Tây để sáng tác. Họ bắt đầu từ công việc dịch thuật, qua phỏng tác và cuối cùng là sáng tác những tác phẩm văn học bằng chữ quốc ngữ. Trong lịch sử văn học Việt Nam đây là giai đoạn duy nhất có hiện tượng đan xen hai yếu tố cũ và mới thể hiện trong sáng tác của một tác giả, có khi trong cùng một tác phẩm. Hai yếu tố cũ và mới được kết hợp nhuần nhuyễn và phổ biến trên khắp các thể loại tạo ra những giá trị đặc biệt, không thể xếp vào kho tàng văn học trung đại, mà cũng chưa thể công nhận đó là một tác phẩm của nền văn học hiện đại. 3.4- Đối tượng thưởng thức, tiếp nhận.Trong văn học trung đại xưa thì lực lượng sáng tác đồng thời cũng là những người thưởng thức. Nhà nho khi sáng tác không hề nghĩ đến công chúng và cũng không cần phải có công chúng. Người thưởng thức tác phẩm của họ là chính bản thân họ hay người tri kỷ của họ. Vào đầu thế kỷ XX, lực lượng sáng tác nhà Nho vẫn còn, văn thơ của nhà Nho vẫn hiện diện trên văn đàn. Công chúng say mê văn chương chữ Hán, chữ Nôm tất nhiên vẫn còn. Ðứng trước những đổi thay của thời cuộc, những con người này không muốn, có thể chưa muốn chạy theo cái mới khi mà trong suy nghĩ của họ vẫn còn quan niệm rằng những thứ đó do giặc ngoại xâm mang đến, những thứ đó là phi đạo đức, là trái với thánh hiền. Giữa lúc văn học của nhà Nho và lực lượng công chúng của nền văn học đó đang suy yếu dần thì một lực lượng công chúng mới bắt đầu xuất hiện. Công chúng mới (bao gồm nhiều loại người khác nhau, đang sống trong các đô thị thời đó, có các nhà Nho từ nông thôn ra có những người học vấn Tây học và cả những người không học vấn) không thấy hấp dẫn trước món ăn tinh thần của nhà Nho. Cuộc sống hiện đại là cuộc sống sôi động, gấp rút.Văn chương của nhà Nho không phù hợp với cuộc sống hiện đại.Thế là ở hai địa bàn khác nhau, nông thôn và thành thị có sự hiện hữu của hai loại công chúng khác nhau.Lớp công chúng cũ vẫn trung thành với nền văn chương cũ. Lớp công chúng mới, chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, của cuộc sống mới, có nhu cầu thị hiếu mới, đòi hỏi sự đổi mới của văn học; đặt ra cho người sáng tác nhiệm vụ phải thay đổi quan niệm sáng tác, phương pháp sáng tác nhằm tạo cho họ những món ăn tinh thần thú vị hơn, phù hợp với thời đại mới. Hai loại công chúng này mang trạng thái tâm lý khác nhau, sống trong hai điều kiện khác nhau, lại tồn tại song song trong xã hội thực dân nửa phong kiến đầu thế kỷ XX.Lớp công chúng mới ngày càng phát triển. Hơn nữa, khi lớp thanh niên lớn lên, nhiều người đi học chữ Pháp, được đào tạo theo nền giáo dục mới sẽ quên dần thứ chữ truyền thống của cha ông, văn chương truyền thống cũng trở thành xa lạ đối với họ. Bởi vì càng ngày người ta càng tỏ ra thích thú say mê nhiều hơn với những tác phẩm văn học phương Tây. Ðiều muốn nhấn mạnh ở đây là sự tồn tại song song của hai loại công chúng khác nhau, trong cái thế một bên đã ít nhưng chưa mất hẳn; một bên dù mới xuất hiện nhưng rất mạnh và có điều kiện để phát triển nhanh.Ðây là hiện tượng chỉ xảy ra trong văn học giai đoạn giao thời của lịch sử văn học Việt Nam. 3.5. Đề tài và cảm hứng sáng tác.Các sáng tác thời kỳ này triển khai cả hai loại đề tài cũ và mới. Nhiều tác phẩm còn hướng vào nội dung ca ngợi trung hiếu, tiết nghĩa( Đỉnh núi nhành mai của Nguyễn Tử Siêu, Cha con nghĩa nặng của Hồ Biểu Chánh…). Đề tài yêu nước, kêu gọi đấu tranh rất phổ biến.Những tác phẩm viết về xã hội với những mặt trái cũng được nói tới nhiều. Bên cạnh những đề tài quen thuộc ấy, thơ văn giai đoạn này dần đi vào khai thác những khía cạnh mới như số phận người nông dân, cuộc sống của tầng lớp tư sản thị dân thời kỳ tư sản hóa, tình yêu lãng mạn tự do phóng túng( Thơ của Tản Đà, tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách)…Hai loại đề tài cũ và mới đã làm nên sự đa dạng cho văn học đương thời đồng thời cũng làm nên sự chuyển biến mới trong văn học. 4.Tiểu kết.Vận động để phát triển đó là quy luật tất yếu của xã hội, cũng là của văn học.Cách tân, đổi mới nhằm đưa văn học phát triển nên tầm cao hơn là một việc cần thiết phải diễn ra để tạo bệ phóng cho những xu thế văn học hiện đại. Bắt nhịp với xu hướng mới đó, nhiều những văn nhân thi sĩ…đã có những cách nhìn nhận đổi mới trong các sáng tác văn chương của mình để khẳng định củng cố vững chắc vị trí của mình trên thi đàn văn học. Nổi tiếng trong số những con người có cái nhìn tân tiến ấy có thể kể tới Tản Đà. Bởi Tản Đà được coi như một ngôi sao sáng nổi bật nhất trên thi đàn lúc bấy giờ. Thơ ông là gạch nối của hai thời đại thi ca. Ông là người “dạo bản đàn mở đầu cho một cuộc hòa nhạc tân kì đương sắp sửa ( Hoài Thanh ), “người báo tin xuân” cho phong trào thơ mới 1932 – 1945. Tìm hiểu các tác phẩm thơ của Tản Đà chúng ta sẽ thấy rõ những đặc trưng của văn học giai đoạn 1900 – 1930, mà cụ thể rõ nhất, nổi bật dễ thấy nhất là tính giao thời. III.TÌM HIỂU TÍNH GIAO THỜI QUA BÀI THƠ “ HẦU TRỜI” CỦA TẢN ĐÀ1.Tản Đà một nhà văn của buổi giao thời. 1.1-Vài nét về tiểu sử của nhà thơ.Tản Đà tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh ngày 8 tháng 5 năm 1889 ở làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây. Quê ông nằm bên bờ sông Đà, chân núi Tản Viên. Vì vậy ông lấy tên sông ghép với tên núi để làm bút danh là Tản Đà. Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống khoa bảng.Cha từng làm quan lớn.Mẹ ông là một cô đào có giọng hát ngọt ngào và nhan sắc trời phú.Gia đình ông là một gia đình nhà Nho tiêu biểu cho thái độ chính trị lúc bấy giờ. Ngay từ lúc nhỏ Tản Đà đã được tiếp xúc nhiều với tri thức và sách vở, ông từng ôm mộng theo con đường khoa bảng nhưng không thành. Từ đó ông dần chuyển sang làm báo viết văn. Ông là người đầu tiên ở nước ta sống bằng nghề viết văn xuất bản. Sinh ra và lớn lên trong cảnh đất nước, xã hội có nhiều biến đổi nên Tản Đà sớm có nhiều những nhận thức về thời cuộc để lựa chọn những ngã rẽ cho riêng mình. Ông có ý tưởng cải cách xã hội theo con đường hợp pháp và ông muốn thực hiện điều đó, muốn dùng báo chí để làm phương tiện. Ông sống phóng túng, đã từng bầu rượu túi thơ đi dọc khắp đất nước và cuộc đời ông đã từng nếm đủ mùi vị của cay đắng vinh hạnh. Dù cuộc đời có những biến động, có nhiều những chặng sóng gió nhưng Tản Đà vẫn giữ được cốt cách và nhân phẩm trong sạch của một nhà Nho chân chính. Trên bầu trời văn học Việt Nam, Tản Đà là một ngôi sao lạ thường nằm riêng biệt không lẫn vào những vì tinh tú khác. Bởi cuộc đời ông là một tài năng khác thường nằm trong một số phận khác thường. 1.2-Sự nghiệp văn chương.Tản Đà xuất hiện trên văn đàn như một tài năng đa dạng. Ông viết tuồng, bút ký triết học, văn sách, luận… nhưng nổi bật nhất vẫn là tài năng làm văn và sáng tác thơ. So với văn học thời đó, tác phẩm của Tản Đà ở thể loại nào cũng mới lạ cả về nội dung, hình thức và thể loại.Nhưng đáng lưu ý hơn cả là thơ. Từ năm 1913 Tản Đà bắt đầu viết văn,làm thơ và đến năm 1915 thì ông bắt đầu công bố tác phẩm trên Đông Dương tạp chí.Sự nghiệp của Tản Đà khá phong phú và đồ sộ về khối lượng tác phẩm. Tác phẩm của ông gồm có cả thơ và văn xuôi. a-Thơ.Có các tập như: Khối tình con I, II, III ( xuất bản lần lượt vào các năm 1916, 1918, 1932 ), Còn chơi (năm 1921), thơ Tản Đà ( 1925). b-Văn xuôi.Văn xuôi có các tập như: Giấc mộng lớn( 1928 ), Giấc mộng con I, II ( năm 1916, 1932), Tản Đà văn tập ( 1932 )… Ngoài ra Tản Đà còn chú giải Truyện Kiều, dịch Kinh Thi, thơ Đường, Liêu Trai chí dị, và soạn một số vở tuồng như Tây Thi, Thiên Thai… 1.3–Vị trí và ảnh hưởng của Tản Đà đối với các thế hệ trong văn học.Thời đại Tản Đà sống diễn ra bao nhiêu biến động trong sinh hoạt chính trị xã hội cùng bấy nhiêu biến động trong đời sống văn học. Khía cạnh nổi bật trong những chuyển động đó là những nỗ lực của nhiều thế hệ để đưa nội dung yêu nước và chủ nghĩa anh hùng dân tộc vào văn chương, để biến văn chương thành vũ khí cách mạng. Bên cạnh những yêu cầu cách mạng của thời đại lúc đó thì yêu cầu cách tân nhằm đổi mới văn học, yêu cầu hiện đại hóa về nội dung và hình thức cũng được đặt ra như một đòi hỏi khách quan của lịch sử.Yêu cầu này đã được khởi xướng thực hiện vào những năm 20 khi mà Tản Đà bước vào sự nghiệp văn chương.Ông đã xuất hiện đúng lúc để đón nhận và giải quyết yêu cầu này với ý thức tự nguyện và hết mình cho sự nghiệp. Tản Đà là nhà thơ của buổi giao thời hai thế kỷ, hơn nữa một người góp công chủ yếu cho một thời đại mới của thi ca. Vai trò của Tản Đà là đã nhận sứ mệnh tiên phong đưa văn thơ ra thị trường, chuyển văn học thành tiếng nói của số đông, đáp ứng nhu cầu của một lớp độc giả mới trong trí thức và trong đời sống thành thị. Tản Đà đã làm giàu cho thơ ca dân tộc về mặt nội dung và hình thức, chuẩn bị cho sự ra đời của thơ mới. Ông là người phá vỡ cấu trúc của thơ ca truyền thống để cho nguồn cảm xúc tự do tuôn trào bất chấp cả vần luật âm điệu. Tản Đà là người khơi nguồn cho khuynh hướng văn học lãng mạn.Nhiều nhà thơ cùng thời với ông như Trần Tuấn Khải, Đông Hồ…cũng lãng mạn nhưng nghiêng về cảm hứng yêu nước. Vì vậy so với những người đó Tản Đà có sự nổi bật hơn nhiều vì thơ ông có sự cách tân về cả nội dung và hình thức. Điều này đã chứng minh vì sao coi Tản Đà là nhà thơ trung gian giữa hai thời kỳ văn học. Hơn nữa ông lại là người mở đường cho văn học thời kỳ mới.Qua đó chúng ta thấy được vị trí quan trọng của Tản Đà hơn bất cứ ai khác. 2. Tính giao thời trong tác phẩm “ Hầu Trời của Tản Đà. 2.1-Tính giao thời thể hiện qua nội dung.Tản Đà được coi là người nằm vắt mình qua hai thế kỷ, là gạch nối giữa thơ mới và thơ cũ.Là người đặt nền móng cho thơ mới.Những đánh giá ấy đã xác nhận vị trí của Tản Đà một cách chính xác nhất trong nền văn học Việt Nam buổi giao thời. Ông là đại diện tiêu biểu của văn học Việt Nam giai đoạn này, giai đoạn văn học dân tộc có những bước chuyển mình, bắt đầu cho giai đoạn hiện đại hoá mau lẹ. Hầu trời là một bài thơ có rất nhiều điểm mới. Bài thơ thể hiện đậm nét cá tính sáng tác của Tản Đà. Mạch thơ được triển khai theo lôgíc một câu chuyện với các chi tiết cụ thể, rành mạch, khiến cho bài thơ hấp dẫn và có sức thuyết phục : nằm một mình, buồn nên dậy đun nước uống rồi ngâm văn, động đến Trời, tiên xuống hỏi rồi đưa lên gặp Trời, Trời cùng chư tiên đón tiếp long trọng, mời đọc thơ, giới thiệu về mình rồi đọc thơ và giãi bày cảnh ngộ cùng Trời, Trời giải thích, khen ngợi rồi cho đưa về trần giới. Nhà thơ đã chọn những cách rất độc đáo để thể hiện tâm sự của mình.Chuyện hầu Trời bằng tưởng tượng đã giúp nhà thơ khẳng định tài năng của bản thân và bộc lộ quan niệm mới mẻ của ông về nghề văn, đồng thời thể hiện ý thức của cái Tôi cá nhân đầy cá tính của mình.Đây là một chủ đề mới mẻ trong văn học giai đoạn này vì nó thể hiện được ý thức cá nhân tác giả ở trong đó. Tuy nhiên cách vào đề thì lại quen thuộc vì nó mang dáng dấp của văn học trung đại khi mà nhiều thi nhân cũng vào mộng để làm thơ. Đêm qua chẳng biết có hay không… Thật được lên tiên sướng lạ lùng.
Lí do được Trời mời lên hầu cũng thật đời thường và dễ tin : Nằm buồn dậy đun nước uống, rồi ngâm thơ, chơi trăng. Và “Tiếng ngâm vang cả sông Ngân Hà” đã làm Trời mất ngủ.Thế là được lên Trời.Cuộc hội kiến với Trời và chư tiên được kể lại chi tiết, hồn nhiên, nghe tự nhiên như thật. Tác giả đã chọn lối kể chuyện nôm na của dân gian để tái hiện câu chuyện hầu Trời.Nhà thơ tưởng tượng tình huống gặp Trời để giới thiệu về mình.Giới thiệu rõ, chính xác tên tuổi, quê hương, đất nước, nghề nghiệp, kể tên các tác phẩm của mình. Nhà thơ đã chọn tình huống độc đáo : gặp Trời, ngâm thơ cho Trời cùng chư tiên nghe, qua đó khẳng định tài năng của mình. Khẳng định một cách rất tự nhiên. Đương cơn đắc ý đọc đã thích Che trời nhấp giọng càng tốt hơi Văn dài hơi tốt ran cung mây.
Sau khi giới thiệu các tác phẩm, có phân chia rõ ràng thành từng loại theo quan điểm của bản thân (văn thuyết lí, văn chơi, văn tiểu thuyết, văn vị đời và lối văn dịch) thì đưa ra nhận xét, cùng với những nhận xét của Trời “Văn đã giàu thay, lại lắm lối” (đa dạng về thể loại, giọng điệu). Nhà thơ lại còn mượn lời của Trời để khẳng định tài năng của bản thân. Văn đã giàu thay lại lăm lối Trời lại phê cho văn thật tuyệt Văn trần được thế chắc có ít. Đầm như mưa xa, lạnh như tuyết.
Nhà thơ đã hiên ngang khẳng định cái Tôi của mình, gắn liền với tên tuổi thật của mình.Đó là thái độ ngông của người có tài và biết trân trọng, khẳng định tài năng của mình.Trong thời đại đất nước đang mất chủ quyền, Tản Đà tự giới thiệu như còn là biểu hiện của sự tự hào, tự tôn dân tộc. Hóm hỉnh hơn, nhà thơ còn khẳng định cả phong cách “ngông”của mình.Qua cuộc đối thoại tưởng tượng với Trời, nhà thơ còn khẳng định nghĩa vụ và trách nhiệm cao cả của mình nói riêng và của người nghệ sĩ nói chung là lo việc Tạo tình huống tưởng tượng này để an ủi mình, đồng thời cũng là để nói lên ý nghĩa cao quý của văn chương. Điều này chứng tỏ ý thức tiến bộ của tác giả về nghề văn.Cũng nhân đây, nhà thơ giãi bày tâm sự của mình về nghề văn. Được coi là người đặt nền móng cho thơ Mới, không chỉ bởi thơ ông mang hơi thở hiện đại của thời đại với cái Tôi cá nhân sừng sững giữa trang văn mà còn vì ông là nhà thơ đầu tiên “mang văn chương ra bán phố phường”, coi nghề văn là nghề kiếm sống. Với Hầu Trời, Tản Đà đã mang đến cho văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX một không khí mới. Dưới hình thức một bài thơ câu chuyện tưởng tượng vui và đầy hào hứng, nhà thơ đã khẳng định cái Tôi cá nhân của người nghệ sĩ. Nhà thơ vừa tự tin khẳng định tài năng của mình vừa nói lên quan điểm làm văn chương, đó là viết văn để phục vụ thiên lương.Trong sáng tác văn học, không phải ai cũng thể hiện được cái tôi của mình trên trang viết. Cái tôi gắn liền với cá tính sáng tạo của một người cầm bút. Điều đó đòi hỏi người viết phải thể hiện được cái riêng có giá trị thẩm mĩ cao, có khả năng đóng góp tích cực cho nền văn học chung.Tản Đà, nhắc đến thi nhân là nhắc đến "xê dịch, ngông và đa tình”.Ba yếu tố đủ để làm nên một cái tôi riêng trong làng thơ Việt Nam.Nhưng có lẽ, cái tôi độc đáo của nhà thơ đã thể hiện trong "Hầu Trời” là một cái tôi ngông rất lạ."Ngông” không phải chỉ định một kiểu ứng xử xã hội và nghệ thuật khác. Cái ngông ở đây được nói đến là ngông dựa trên khả năng mình có, nghĩa là chỉ những người tài năng, tự tin bởi cái tài của mình, tự tin để khẳng định nó với đời mới là cái ngông được người đời chấp nhận. Người ngông tạo cho mình những phong cách riêng, khác người nhưng để lại những ấn tượng sâu đậm.Chất ngông thương được thể hiện bởi các nhà văn, nhà thơ có ý thức cao độ về cái tài và cái tình.Với cái tài đó, họ mang ra phục vụ cho đời nhưng cũng là để "đóng dấu” hình ảnh của mình với thời gian. Họ có thể ngông bởi họ có tài, họ có cái để hãnh diện, để thách thức với cuộc đời, với người đời và cũng bởi trong cuộc sống, mỗi con người họ đã là một tính cách riêng, một sự phá cách không thể trộn lẫn với một người nào khác. Và cái ngông ấy trong "Hầu Trời” đã tạo ra cho nhà thơ một cái tôi độc đáo.Nhà thơ ý thức sâu sắc về tài năng của mình. Vì vậy tiếng ngâm thơ "vang cả sông Ngân Hà” khiến Trời mất ngủ là ở chỗ ấy.Chính vì tình yêu văn chương, ông mới tự tin sáng tác, chuyển tải những tư tưởng tình cảm mới mẻ vào trang thơ. Dường như với ông, hầu Trời là khoảnh khắc đẹp nhất. Vì thế ông mới đem cái tài của mình để thể hiện trước Trời cùng chư Tiên. Và lúc này quan niệm mới mẻ của ông được bộc lộ: sáng tác văn chương là một nghề. Dù không biểu hiện trực tiếp nhưng đằng sau các câu chữ ta vẫn thấy có một sự hình dung khác trước về hoạt động tinh thần đặc biệt này. Với Tản Đà, văn chương là một nghề kiếm sống mới, có người bán kẻ mua, có thị trường tiêu thụ và bản thân thị trường đó cũng hết sức phức tạp, không dễ chiều. Đặc biệt hơn dương như nhà thơ đã ý thức được sự cần thiết phải chuyên tâm với nghề văn, phải có vốn để theođuổi nó. Nhà thơ ý thức về nhân cách, một nhân cách vượt ra khỏi mọi sự ràng buộc về danh lợi. Nó đối lập với cái xã hội bất công vụ lợi, chạy theo đồng tiền và danh lợi thời bấy giờ. Cuối cùng nhà thơ vẫn muốn khẳng định, tự khen thơ mình. Thơ thi nhân chẳng những đẹp mà còn ẩn chứa những ý niệm cao siêu về cuộc đời, về thiên lương, nhân sinh thế giới quan… Tóm lại là tất cả những gì nhân loại cần có để vươn đến cái chân- thiện- mỹ. Thoát ra khỏi quan niệm "thi dĩ ngôn chí” , Tản Đà thực sự thăng hoa trong thế giới nghệ thuật, bộc lộ cảm xúc cái tự do cá nhân mới mẻ của riêng mình. Kế thừa nét ngông của truyền thống, song trong sự ngông của Tản Đà, người ta không thấy cái ngông đến mức lấy thú ăn chơi hưởng lạc có phần tiêu cực như một cách để đối lại với đời như Nguyễn Công Trứ. Và cũng không thấy cái ngông trong việc đi tìm một phong cách, một lối thể hiện riêng của người tôn thờ cái đẹp như Nguyễn Tuân. Cái ngông của Tàn Đà là cái ngông của một người chìm đắm trong mộng: mộng về cuộc đời, mộng về sự đổi thay, say để mộng, mộng để ngông với người đời. Nhưng có thể thấy rằng, họ gặp nhau ở một điểm cơ bản mà nếu như thiếu nó thì sẽ không thể "ngông” được đó là cái tài, cái tình và ý thức về cái tôi bản ngã của chính mình.Họ làm nên những phong cách nghệ thuật riêng độc đáo, nhưng ấn tượng đặc biệt, không thể nào phai trong lòng người đọc và không lẫn với cái ngông của nhà thơ nào khác. 2.2-Tính giao thời thể hiện qua hình thức – nghệ thuật.Bài thơ "Hầu Trời” đã kết tinh cái tôi của Tàn Đà.Nhưng không chỉ trên phương diện nội dung, những nét độc đáo và mới mẻ còn làm nên cái tôi trong nghệ thuật.Có lẽ "Hầu Trời” có vẻ quá dài nhưng chính điều đó lại tạo cho bài thơ giàu yếu tố tự sự. Hơn thế, nguyên tắc tôn trọng dòng chảy tự nhiên,sống động của cảm xúc cá nhân, cá thể của thơ cho phép nhà thơ thoát khỏi những ràng buộc quá khắt khe về hình thức để tự do vẫy vùng thể hiện tư tưởng tình cảm của mình. Thể thơ thất ngôn trường thiên được viết một cách phóng túng, tự do theo cá tính riêng của nhà thơ và không bị câu lệ bởi những ràng buộc của thi pháp văn học trước đó. Bên cạnh đó, "Hầu Trời” còn đáng chú ý với hiện tượng chia khổ, các khổ có độ dài khác nhau tạo nên cảm xúc tự do và nét mới trong thơ văn. Cách thể hiện của Tản Đà đã vượt ra khỏi quy phạm nội dung và nghệ thuật, muốn phá cách để thể hiện rõ cái tôi của ông.Sáng tạo độc đáo nữa của Tản Đà về mặt nghệ thuật là đã đưa ngôn ngữ đời thường nôm na, dễ hiểu, dung dị mà vẫn rất gợi cảm vào thơ ca. Ngôn ngữ thơ ở Hầu Trời đã có sự xâm nhập của giọng điệu văn xuôi và ngôn ngữ bình dân nhưng nhà thơ đã tinh tế hơn khi chọn lọc những từ trau chuốt để thể hiện làm cho những dòng thơ đầy chất trữ tình nhưng không ước lệ. Không quá gò mình vào vần luật nên mạch cảm xúc trong thơ của Tản Đà được phát triển rất tự nhiên và cái Tôi cá nhân đã thoả sức bộc lộ và thể hiện mình. Điểm độc đáo và thành công của bài thơ còn thể hiện ở chỗ tạo ra cái cớ là tình huống hầu Trời để tự khẳng định tài năng và quan niệm của mình. Tác giả khôn khéo chọn tình huống vậy để tạo cớ diễn đạt cho xuôi và tác giả vừa là người kể đồng thời cũng là nhân vật chính trong câu chuyện của mình. Đó là một kiểu ngông rất nghệ sĩ, vui vẻ và đáng yêu. Bài thơ cũng đã phác hoạ một chân dung thi sĩ Tản Đàvới phong cách ngông độc đáo, đó là cái ngông của một nhà nho tài tử ở thời kì mà ý thức cá nhân bắt đầu được trân trọng và khẳng định. 2.3-Tiểu kếtNét độc đáo trong cái tôi của Tản Đà là sự dung hòa nhiều yếu tố khác nhau. Tất cả tạo nên ở thi sĩ tính cách của một nhà Nho tài tử, đa tình, ngông và xê dịch. Cái cũ và mới, xưa và nay đan xen đưa Tàn Đà trở thành người nối kết hai thời đại thi ca, trở thành ngôi sao sáng với vẻ đẹp rất riêng trên bầu Trời văn học Việt Nam. Xác định tính giao thời trong sáng tác của Tản Đà mà ở đây cụ thể là trong bài thơ “Hầu trời” đã giúp chúng ta hiểu sâu hơn về nội dung và tính chất giao thời của văn học giai đoạn 1900 – 1930. IV.KẾT LUẬN Trong số các thi nhân Việt Nam hiện đại và thuộc tầng lớp tiên phong cắm mốc cho phong trào thơ mới để lột bỏ cái xác thơ cũ.Tản Đà là nhà thơ diễn tả chính xác nhất tâm hồn Việt Nam.Ông là người căm mốc cho bước đi của thơ mới ra đời.Ông là người đầu tiên dám làm thi sĩ và coi văn chương là một nghề trong xã hội.Trong thi nhân Việt Nam Tản Đà đã được đặt vào một vị trí đặc biệt và xứng đáng.Một nhà thơ đàn anh chứng dám cho cuộc họp mặt của hội tao đàn lớp sau.Có thi sĩ Tản Đà chúng ta mới thấy một mạch thơ từ cuối thế kỷ XVIII đến phong trào thơ mới. Thơ Tản Đà thực sự đã thể hiện trọn vẹn tính chất giao thời về nội dung và nghệ thuật từ thơ ca trung đại đến thơ mới. Con ngưới sinh ra trong cõi đời này vốn chỉ là hạt cát bụi, hóa kiếp vào đời sống để rồi cũng trở về vời cát bụi. Được mất ở đời chỉ là hư vô. Tản Đà đến với chúng ta và sống trọn tình với sông núi quê hương đất nước và trọn tình hết mình với văn chương. Ông đã là người của một thời xa xưa mà giờ chỉ còn lại trong lòng người là những vang vọng. Người ta biết và nhớ tới ông qua những trang thơ như “ Hầu trời” và để qua đó nghĩ về ông như một vì tinh tú nằm vắt mình giữa hai giai đoạn văn học, người của buổi giao thời đáng nhớ. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Tím hiểu bài "Hầu trời"
|
|
|
|
Bài tham khảo:Nhà thơ Xuân Diệu từng nói rằng: "Tản Đà là thi sĩ đầu tiên, mở đầu cho thơ Việt Nam hiện đại. Tản Đà là người thứ nhất đã có can đảm làm thi sĩ, đã làm thi sĩ một cách đường hoàng, bạo dạn, dám giữ một cái tôi”. Bằng bản lĩnh của mình, Tản Đà mang đến một luồng sinh khí mới cho nền văn học Việt Nam. Thi sĩ trực tiếp thể hiện cái tôi bản ngã của mình một cách hết sức độc đáo và mới mẻ. Và "Hầu Trời” là một trong những bài thơ kết tinh những nét riêng độc đáo đó. Như Hoài Thanh đã nói "Tiên sinh là người của hai thế kỉ”, Tản Đà là người đã đặt được dấu gạch nối giữa văn học truyền thống và văn học hiện đại, là người "dạo bản đàn mở đầu cho một cuộc hòa nhạc tân kì đương sắp sửa”(Hoài Thanh). Tản Đà tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, ông sống khoáng đạt và đã đeo "túi thơ” đi khắp cuộc đời mình. Là một cây bút tiêu biểu của văn học Việt Nam giai đoạn giao thời, ông để lại khá nhiều tác phẩm cho đời. Trong đó đáng kể là "Hầu Trời” được trích trong tập Còn chơi (1921). Bài thơ đã thể hiện rõ cái tôi cá nhân của Tản Đà thông qua sự việc lên thiên đình đọc thơ. Trong sáng tác văn học, không phải ai cũng thể hiện được cái tôi của mình trên trang viết. Cái tôi gắn liền với cá tính sáng tạo của một người cầm bút. Điều đó đòi hỏi người viết phải thể hiện được cái riêng có giá trị thẩm mĩ cao, có khả năng đóng góp tích cực cho nền văn học chung. Tản Đà-nhắc đến thi nhân là nhắc đến "xê dịch, ngông và đa tình”. Ba yếu tố đủ để làm nên một cái tôi riêng trong làng thơ Việt Nam. Nhưng có lẽ, cái tôi độc đáo của nhà thơ đã thể hiện trong "Hầu Trời” là một cái tôi ngông rất lạ. "Ngông” không phải chỉ định một kiểu ứng xử xã hội và nghệ thuật khác. Cái ngông ở đây được nói đến là ngông dựa trên khả năng mình có, nghĩa là chỉ những người tài năng, tự tin bởi cái tài của mình, tự tin để khẳng định nó với đời mới là cái ngông được người đời chấp nhận. Người ngông tạo cho mình những phong cách riêng, khác người nhưng để lại những ấn tượng sâu đậm. Chất ngông thương được thể hiện bởi các nhà văn, nhà thơ có ý thức cao độ về cái tài và cái tình. Với cái tài đó, họ mang ra phục vụ cho đời nhưng cũng là để "đóng dấu” hình ảnh của mình với thời gian. Họ có thể ngông bởi họ có tài, họ có cái để hãnh diện, để thách thức với cuộc đời, với người đời và cũng bởi trong cuộc sống, mỗi con người họ đã là một tính cách riêng, một sự phá cách không thể trộn lẫn với một người nào khác. Và cái ngông ấy trong "Hầu Trời” đã tạo ra cho nhà thơ một cái tôi độc đáo. Nhà thơ ý thức sâu sắc về tài năng của mình. Vì vậy tiếng ngâm thơ "vang cả sông Ngân Hà” khiến Trời mất ngủ là ở chỗ ấy. "Đêm qua chẳng biết có hay không
Chẳng phải thảng thốt không mơ mòng
Thật hồn! Thật phách! Thật than thể
Thật được lên tiên sướng lạ lùng!”.
Cái duyên được lên hầu Trời gắn liền với câu chuyện văn thơ, gắn liền với những phút cảm hứng của nhà thơ. Chuyện tưởng tượng nhưng như thật, có lẽ cái tôi độc dáo của Tản Đà là ở chỗ vào đề tự nhiên, hấp dẫn nhưng có duyên. Để thế gian thấy tài năng của nhà thơ đã khó vậy mà ngay đến Trời còn say mê, chư tiên yêu thích thì thật lạ lùng. Vậy mới thấy được cái ngông của nhà thơ biểu hiện mạnh mẽ qua bài Hầu Trời. Đã có dịp được lên Thiên đình, vì thế Tản Đà tranh thủ "quảng cáo” tài năng của bản thân: "Dạ bẩm lạy Trời con xin đọc
Đọc hết văn vần sang văn xuôi
Hết văn thuyết lí lại văn chơi
Đương cơn đắc ý đọc đã thích
Chè Trời nhấp giọng càng tốt hơi.”
Tác giả đọc thơ rất tự tin, khoe tài của mình, đọc cao hứng và nhập thân vào tác phẩm. Qua đó bộc lộ cái tôi in đậm phong cách cái tôi cá nhân tự ý thức của chính ông. Sẵn tiện nhà thơ giới thiệu luôn những tác phẩm của mình: "Bẩm con không dám man cửa Trời
Những áng văn con in cả rồi
Hai quyển Khối tình văn thuyết lí
Hai Khối tình con là văn chơi
Thần tiền, Giấc mộng văn tiểu thuyết
Đài gương, Lên sáu văn vị đời
Quyển Đàn bà Tàu lối văn dịch
Đến quyển Lên tám nay là mười
Nhờ Trời văn con còn bán được
Chửa biết con in ra mấy mươi?”
Nhà thơ có vẻ rất đắc ý bởi ông ý thức được cái tài của mình. Khẳng định bản ngã cái tôi phóng túng, ý thức tài năng giá trị của mình giữa cuộc đời. Trước Tản Đà các nhà nho tài tử đều hết thảy thị tài nhưng chữ tài mà họ nói tới nhiều khi mang một nội hàm khá rộng. Họ không dám nói đến cái hay, cái "tuyệt” của thơ mình, hơn nữa, lại nói trước mặt Trời. Rõ ràng ý thức cá nhân ở nhà thơ đã phát triển rất cao độ. Chính vì vậy mà đến Trời cũng phải tán thưởng: "Văn dài hơi tốt ran cung mây!
Trời nghe, Trời cũng lấy làm hay.
Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi
Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày
Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng
Đọc xong một bài cùng vỗ tay.”
" Trời lại phê cho: Văn thật tuyệt!
Văn trần được thế chắc có ít
Nhời văn chuốt đẹp như sao băng!
Khí văn hung mạnh như mây chuyển!
Êm như gió thoảng, tinh như sương!
Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết!”
Chính vì tình yêu văn chương, ông mới tự tin sáng tác, chuyển tải những tư tưởng tình cảm mới mẻ vào trang thơ. Dường như với ông, hầu Trời là khoảnh khắc đẹp nhất. Vì thế ông mới đem cái tài của mình để thể hiện trước Trời cùng chư Tiên. Và lúc này quan niệm mới mẻ của ông được bộc lộ: sáng tác văn chương là một nghề. Dù không biểu hiện trực tiếp nhưng đằng sau các câu chữ ta vẫn thấy có một sự hình dung khác trước về hoạt động tinh thần đặc biệt này. Với Tản Đà, văn chương là một nghề kiếm sống mới, có người bán kẻ mua, có thị trường tiêu thụ và bản thân thị trường đó cũng hết sức phức tạp, không dễ chiều. Đặc biệt hơn dương như nhà thơ đã ý thức được sự cần thiết phải chuyên tâm với nghề văn, phải có vốn để theo đuổi nó: "Nhờ Trời văn con còn bán được”
"Vốn liếng còn một bụng văn đó”
Thật ngang tang khi thi sĩ muốn "gánh văn” lên Trời để bán.
"Chư tiên ao ước tranh nhau dặn:
-"Anh gánh lên đây bán chợ Trời!””
Làm náo động thiên cung bằng những lời văn giàu thay lắm lối, nay nhà thơ còn muốn văn của ông được lan rộng cung đình để mọi người biết đến ông- một tài năng thực thụ của trần thế. Thế mới thấy được cái tôi mạnh mẽ đến nhường nào. Qua bài thơ "Hầu Trời” không dừng lại ở đó, Tản Đà còn vạch ra thực tế phũ phàng: tài năng không thống nhất với số phận. Ở cuộc đời nhà thơ thiếu tri âm, tri kỉ và bất hòa với cuộc đời: "Văn chương hạ giới rẻ như bèo
Kiếm được đồng lãi thực rất khó
Kiếm được thời ít tiêu thời nhiều
Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu.”
Vì vậy ông khát khao lên Trời đọc thơ và tìm được người tri âm. Chỉ có Trời và chư tiên mới hiểu cái hay, cái đẹp trong thơ ông. Và lời Trời khen hắn là sự thẩm định có sức nặng nhất, không thể bác bỏ, nghi ngờ. Đúng là lối tự khẳng định rất ngông ngạo của nhà thơ. Để Trời hiểu thơ, khen văn thơ tuyệt, Tản Đà liền đó "tâu trình” rõ ràng thân thế của mình, phù hợp hoàn toàn mạch chuyện: "Dạ bẩm lạy Trời con xin thưa
Con tên Khắc Hiếu họ là Nguyễn
Quê ở Á châu về Địa Cầu
Sông Đà núi Tản nước Nam Việt”.
Khác người xưa, Tản Đà đã tách tên, họ theo một kiểu công khai lý lịch rất hiện đại, lại còn nói rõ bản quán, châu lục, tên hành tinh. Qua đó ông thể hiện niềm yêu nước tha thiết, đầy tự hào về bản thân, ý thức cá nhân tự tôn dân tộc sâu sắc. Một cái tên- tên thật chứ không phải tự hay hiệu- mà được nói ra trịnh trọng đến vậy hẳn nhà thơ phải thấy có một giá trị không thể phủ nhận gắn liền với nó. Cũng qua câu thơ, tác giả ngầm giới thiệu bút hiệu của mình. Tản Đà là con người khoe tài, thị tài và rất ngông cho nên trước chư tiên không bao giờ kiềm chế mà luôn thể hiện hết tài hoa của mình. Từ đầu đến cuối nhà thơ đều tự tin về tài năng của bản thân và một lần nữa Tản Đà lại khẳng định rất "ngông”, của kẻ vốn đã "ngông” khi nhận mình là "trích tiên” bị đày xuống hạ giới vì tội ngông. Nhà thơ khẳng định tài năng và thân phận "khác thường của mình”. Sự khác thường đặc biệt này còn nằm ở việc thi sĩ được thừa nhận là một người nhà Trời, được sai xuống hạ giới thực hiện một sứ mệnh cao cả”việc thiên lương của nhân loại”, "Trời rằng không phải Trời đày, Trời định sai con một việc này, Là việc "thiên lương” của nhân loại, Cho con xuống thuật cùng đời hay”. Một lần nữa cái ngông ấy lại được thổi vào trong ý thơ. Nhưng cái ngông ấy chẳng qua là vì nó đối lập lại với cả xã hội bất công, vì ông phải đi làm công việc là tìm lại thiên lương vốn đang bị mai một của con người: "Hai chữ thiên lương thằng Hiếu nhớ
Dám xin không phụ Trời trông mong”
Nhà thơ ý thức về nhân cách, một nhân cách vượt ra khỏi mọi sự ràng buộc về danh lợi. Nó đối lập với cái xã hội bất công vụ lợi, chạy theo đồng tiền và danh lợi thời bấy giờ. Cuối cùng nhà thơ vẫn muốn khẳng định, tự khen thơ mình. Thơ thi nhân chẳng những đẹp mà còn ẩn chứa những ý niệm cao siêu về cuộc đời, về thiên lương, nhân sinh thế giới quan… Tóm lại là tất cả những gì nhân loại cần có để vươn đến cái chân- thiện- mỹ. Thoát ra khỏi quan niệm "thi dĩ ngôn chí” , Tản Đà thực sự thăng hoa trong thế giới nghệ thuật, bộc lộ cảm xúc cái tự do cá nhân mới mẻ của riêng mình. Kế thừa nét ngông của truyền thống, song trong sự ngông của Tản Đà, người ta không thấy cái ngông đến mức lấy thú ăn chơi hưởng lạc có phần tiêu cực như một cách để đối lại với đời như Nguyễn Công Trứ. Và cũng không thấy cái ngông trong việc đi tìm một phong cách, một lối thể hiện riêng của người tôn thờ cái đẹp như Nguyễn Tuân. Cái ngông của Tàn Đà là cái ngông của một người chìm đắm trong mộng: mộng về cuộc đời, mộng về sự đổi thay, say để mộng, mộng để ngông với người đời. Nhưng có thể thấy rằng, họ gặp nhau ở một điểm cơ bản mà nếu như thiếu nó thì sẽ không thể "ngông” được đó là cái tài, cái tình và ý thức về cái tôi bản ngã của chính mình. Họ làm nên những phong cách nghệ thuật riêng độc đáo, nhưng ấn tượng đặc biệt, không thể nào phai trong lòng người đọc và không lẫn với cái ngông của nhà thơ nào khác. Bài thơ "Hầu Trời” đã kết tinh cái tôi của Tàn Đà. Nhưng không chỉ trên phương diện nội dung, những nét độc đáo và mới mẻ còn làm nên cái tôi trong nghệ thuật. Có lẽ "Hầu Trời” có vẻ quá dài nhưng chính điều đó lại tạo cho bài thơ giàu yếu tố tự sự. Hơn thế, nguyên tắc tôn trọng dòng chảy tự nhiên,sống động của cảm xúc cá nhân, cá thể của thơ cho phép nhà thơ thoát khỏi những ràng buộc quá khắt khe về hình thức để tự do vẫy vùng thể hiện tư tưởng tình cảm của mình. Thể thơ thất ngôn trường thiên được viết một cách phóng túng, tự do theo cá tính riêng của nhà thơ. Bên cạnh đó, "Hầu Trời” còn đáng chú ý với hiện tượng chia khổ, các khổ có độ dài khác nhau tạo nên cảm xúc tự do và nét mới trong thơ văn. Cách thể hiện của Tản Đà đã vượt ra khỏi quy pham nội dung và nghệ thuật, muốn phá cách để thể hiện rõ cái tôi của ông. Nét độc đáo trong cái tôi của Tản Đà là sự dung hòa nhiều yếu tố khác nhau. Tất cả tạo nên ở thi sĩ tính cách của một nhà Nho tài tử, đa tình, ngông và xê dịch. Cái cũ và mới, xưa và nay đan xen đưa Tàn Đà trở thành người nối kết hai thời đại thi ca, trở thành ngôi sao sáng với vẻ đẹp rất riêng trên bầu Trời văn học Việt Nam. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Soạn bài "Hầu trời"
|
|
|
|
Bài tham khảo:I. Kiến thức cơ bản 1. Tác giả-tác phẩm- Tản Đà: (1889-1939), tên thật Nguyễn Khắc Hiếu - Quê hương: Tỉnh Sơn Tây (Nay thuộc tỉnh Hà Tây) - Con người: + Sinh ra va Lớn lên trong buổi giao thời. + Là“người của hai thế kỷ” (Hoài Thanh) + Học chữ hán từ nhỏ nhưng về sau chuyển sang sáng tác văn chương bằng chữ quốc ngữ… - Phong cách thơ: + lãng mạng, bay bổng, vừa phóng khoáng, ngông nghênh, vừa cảm thương ưu ái. + Có thể xem thơ văn ông như một gạch nối giữa hai thời văn học của dân tộc: trung đại và hiện đại. * Các tác phẩm: Thơ: Khối tình con người I, II (1916, 1918) Truyện: Giấc mộng con người I, II (1916, 1932) Tự truyện: Giấc mộng lớn (1928) Thơ và văn xuôi: Còn chơi (1921). 2. Văn bản “Hầu trời”
a) Xuất xứ-Trong tập “Còn chơi” (1921) -Bài thơ ra đời vào thời điểm khuynh hướng lãng mạng đã khá đậm nét trong văn chương thời đại. Xã hội thực dân nữa phong kiến tù hãm, u uất, đầy rẫy những cảnh ngang trái, xót đau… b) Bố cục: 3 phần: Phần 1; Giới thiệu về câu truyện, từ “đêm qua … lạ lùng” Phần 2: “chủ tiên … chợ trời” Thi nhân đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe. Phần 3: “Trời lại phê cho… sương tuyết” thi nhân trò chuyện với trời. II. Nội dung cơ bản1. Giới thiệu câu chuyện- Câu chuyện xảy ra vào “đêm qua” (câu 1) Gợi khoảng khắc yên tĩnh, vắng lặng. - Câu truyện kể về một giấc mơ được lên cõi tiên (câu 4). - Nhân vật trữ tình là tác giả, đang mang tâm trạng “chẳng phải hoảng hốt, không mơ màng” - Biện pháp nghệ thuật: + Điệp từ ‘thật” nhấn mạnh tâm trạng cảm xúc của thi nhân. + Câu cảm thán Bộc lộ cảm xúc bàng hoàng. + Câu khẳng định dường như lật lại vấn đề: mơ và tỉnh, hư mà như thực. - Cách giới thiệu trên đã gợi cho người đọc về tứ thơ lãng mạng nhưng cảm xúc là có thực. Tác giả muốn người đọc cảm nhận được cái “hồn cốt” trong cõi mộng, mộng mà như tỉnh, hư mà như thực. =>Cảm nhận được “cái tôi” cá nhân đầy chất lãng mạng, bảy bổng pha lẫn nét “ngông” trong thơ thi nhân. Với cách vào chuyện độc đáo có duyên đã làm cho câu truyện mà tác giải sắp kể trở nên hấp dẫn lôi cuốn. 2. Thi nhân đọc thơ cho trời và chư tiên nghea) Thái độ của thi nhân khi đọc thơ và việc thi nhân nói về tác phẩm của mình:- Thi nhân đọc rất cao hứng, sảng khoái và có phần tự đắc: “ Đọc hết văn vần sang văn xuôi Hết văn thuyết lý lại văn chơi” - Thi nhân kể tường tận, chi tiết về các tác phẩm của mình: “Hai quyển khối tình văn lý thuyết Hai khối tình còn là văn chơi Thần tiên, giấc mộng văn tiểu thuyết….”
- Giọng đọc: đa dạng, hóm hỉnh, ngông nghênh có phần tự đắc. => Đoạn thơ cho thấy thi nhân rất ý thức về tài năng văn thơ của mình và cũng là người táo bạo, dám đường hoàng bộc lộ “cái tôi” cá thể. Ông cũng rất “ngông” khi tìm đến trời để khẳng dịnh tài năng. Đây là niềm khát khai chân thành trong tâm hồn thi sĩ. b) Thái độ của người nghe:Rất ngưỡng mộ tài năng thơ văn của tác giả.- Thái độ của trời: khen rất nhiệt thành: văn thật tuyệt, văn trần được thế chắc có ít, văn chuốt như sao băng… - Thái độ của chư tiên: xúc động, hâm mộ và tán thưởng…Tâm nở dạ, cơ lè lưỡi… => Cả đoạn thơ mang đậm chất lãng mạng và thể hiện tư tưởng thoát li trước cuộc đời. 3. Thi nhân trò chuyện với trờia) Thi nhân kể về hoàn cảnh của mình- Thi nhân kể họ tên, quê quán: “ Con tên Khắc Hiếu họ Nguyễn Quê ở Á châu về địa cầu Sông Đà núi Tản nước Việt Nam”
Trong văn chương việc thể hiện họ tên trong tác phẩm chính là một cáh để khẳng định cái tôi cá nhân của mình. - Thi nhân kể về cuộc sống: Đó là môt cuộc sống nghèo khó, túng thiếu, thân phận nhà văn bị rẻ rúng, coi thường. Ở trần gian ông không tìm được tri âm, nên phải lên tận cỏi trời để thoả nguyện nỗi lòng. + “Bẩm trời hoàng cảnh con thực nghèo khó”
+ “Trần gian thước đất cũng không có”
+ “Văn chương hạ giới rẻ như bèo”
+ “Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu’
Đó cũng chính là hiện thực cuộc sống của người nghệ sĩ trong xã hội lúc bấy giờ, một cuộc sống cơ cực không tấc đất cắm dùi, thân phận bĩ rẻ rúng, làm chẳng đủ ăn. =>Qua đoạn thơ tác giả đã cho người đọc thấy một bức tranh chân thực và cảm động về chính cuộc đời mình và cuộc đời nhiều nhà văn nhà thơ khác. => Cảm hứng hiện thực bao trùm cả đoạn thơ này. b) Trách nhiệm và khát vọng của thi nhân- Nhiệm vụ trời giao: Truyền bá thiên lương. Nhiệm vụ trên chứng tỏ Tản Đà lãng mạn chứ không hoàn toàn thoát li cuộc sống. Ông vẫn ý thức về nghĩa vụ, trách nhiệm đối với đời để đem lại cuộc sống ấm no hành phúc hơn. - Thi nhân khát khao được gánh vác việc đời đó cũng là một cách tự khẳng định mình trước thời cuộc. =>Như vậy có thể nói trong thơ Tản đà cảm hứng lãng mạng và cảm hứng hiện thực đan xen khăng khít . III. Tổng kết
1. Nội dung- Bài thơ thể hiện cái tôi cá nhân ngông nghênh, kiêu bạc, hào hoa và cái tôi cô đơn, bế tắc trước thời cuộc. - Có thể thấy nhà thơ đã tìm được hướng đi đúng đắn để khẳng định mình. 2. Nghệ thuật- Cách kể chuyện hóm hỉnh, có duyên, lôi cuốn người đọc. - Ngôn ngữ thơ chọn lọc, tinh tế, gợi cảm, không cách điệu, ước lệ. - Tác giả vừa là người kể chuyện vừa là nhân vật chính. - Cảm xúc bộc lộ thoaỉ mái, tự nhiên, phóng túng. - Thể thơ thất ngôn trường thiên khá tự do… Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Phân tích bài thơ "Hầu trời"
|
|
|
|
Bài tham khảo: I/ Tìm hiểu chung 1. Tác giảTản Đà (1889 - 1939) tên khai sinh là Nguyễn Khắc Hiếu. Ông sinh ra bên núi Tản sông Đà, huyện Bất Bạt, Sơn Tây (nay là Ba Vì, Hà Tây) nên lấy bút danh là Tản Đà. Tản Đà sinh ra trong một gia đình nhà nho có truyền thống khoa bảng và văn học nghệ thuật. Là con trai của quan án sát tỉnh Ninh Bình Nguyễn Danh Kế và một đào nương tên là Nhữ Thị Nghiêm, vì vậy Tản Đà không chỉ say mê ca trù mà còn rất am hiểu về nhạc dân gian. Ông thành thạo xẩm, chèo và cải lương đồng thời thông tỏ về từ khúc (nhạc cung đình Trung Quốc). Tản Đà là đại diện tiêu biểu của kiểu nhà nho tài tử buổi giao thời, là người đầu tiên "mang văn chương ra bán phố phường". Sáng tác của Tản Đà thể hiện một cá tính nghệ sĩ tài hoa, tài tử. Tản Đà viết cả văn và làm thơ nhưng ông nổi tiếng với tư cách nhà thơ hơn. Thơ Tản Đà mang màu sắc cổ điển về hình thức và mới mẻ về nội dung, ông được gọi là cầu nối giữa hai thời đại văn học trung đại và hiện đại. Là thi sĩ tài hoa và đa tình, ông viết nhiều về tình yêu. Đồng thời thơ Tản Đà còn thể hiện tính dân tộc rõ nét từ hình thức đến nội dung. Trong thơ ông, lòng yêu nước, yêu quê hương được biểu hiện rất phong phú và đa dạng, khi thì trực tiếp, khi thì gián tiếp. Tác phẩm chính : Về thơ có Khối tình con I, II, III, Còn chơi, Thơ Tản Đà... Về văn xuôi có Giấc mộng lớn, Giấc mộng con I, II, Tản Đà văn tập... 2. Tác phẩm Hầu trời được xếp trong tập Còn chơi (1921) là bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Tản Đà. Bài thơ được viết dưới dạng tự sự, kể một tình huống tưởng tượng cảnh nhà thơ lên gặp trời để ngâm thơ cho trời nghe. Qua đó thể hiện ý thức cá nhân và thái độ của nhà thơ về nghề văn, về cuộc đời. II/ Phân tíchTản Đà được coi là “người nằm vắt mình qua hai thế kỉ”, là gạch nối giữa thơ mới và thơ cũ, là người đặt nền móng cho thơ mới. Những đánh giá ấy đã xác nhận vị trí quan trọng của Tản Đà đối với văn học Việt Nam giai đoạn giao thời. Ông là đại diện tiêu biểu của văn học Việt Nam giai đoạn này, giai đoạn văn học dân tộc có những bước chuyển mình, bắt đầu cho giai đoạn hiện đại hoá mau lẹ. Hầu trời là một bài thơ có rất nhiều điểm mới. Bài thơ thể hiện đậm nét cá tính sáng tác của Tản Đà. Mạch thơ được triển khai theo lôgíc một câu chuyện với các chi tiết cụ thể, rành mạch, khiến cho bài thơ hấp dẫn và có sức thuyết phục : nằm một mình, buồn nên dậy đun nước uống rồi ngâm văn, động đến Trời, tiên xuống hỏi rồi đưa lên gặp Trời, Trời cùng chư tiên đón tiếp long trọng, mời đọc thơ, giới thiệu về mình rồi đọc thơ và giãi bày cảnh ngộ cùng Trời, Trời giải thích, khen ngợi rồi cho đưa về trần giới. Nhà thơ đã chọn một cách rất độc đáo để thể hiện tâm sự của mình. Chuyện hầu Trời bằng tưởng tượng đã giúp nhà thơ khẳng định tài năng của bản thân và bộc lộ quan niệm mới mẻ của ông về nghề văn, đồng thời thể hiện ý thức của cái Tôi cá nhân đầy cá tính của mình. Nhà thơ đã mở đầu câu chuyện của mình bằng một giọng điệu rất hấp dẫn, bịa mà rất tự nhiên, hóm hỉnh :
Đêm qua chẳng biết có hay không,
...
Thật được lên tiên sướng lạ lùng.
Lí do được Trời mời lên hầu cũng thật đời thường và dễ tin : Nằm buồn dậy đun nước uống, rồi ngâm thơ, chơi trăng. Và “Tiếng ngâm vang cả sông Ngân Hà” đã làm Trời mất ngủ. Thế là được lên Trời. Cuộc hội kiến với Trời và chư tiên được kể lại chi tiết, hồn nhiên, nghe tự nhiên như thật. Tác giả đã chọn lối kể chuyện nôm na của dân gian để tái hiện câu chuyện hầu Trời. Nhà thơ tưởng tượng tình huống gặp Trời để giới thiệu về mình. Giới thiệu rõ, chính xác tên tuổi, quê hương, đất nước, nghề nghiệp, kể tên các tác phẩm của mình. Nhà thơ đã chọn tình huống độc đáo : gặp Trời, ngâm thơ cho Trời cùng chư tiên nghe, qua đó khẳng định tài năng của mình. Khẳng định một cách rất tự nhiên : Đương cơn đắc ý đọc đã thích
Chè trời nhấp giọng càng tốt hơi.
Văn dài, hơi tốt ran cung mây !...
Tự khen tài của mình nhưng lại chọn hình thức để Trời cùng chư tiên khen ngợi. Đây là một kiểu ngông đáng yêu. Sau khi giới thiệu các tác phẩm, có phân chia rõ ràng thành từng loại theo quan điểm của bản thân (văn thuyết lí, văn chơi, văn tiểu thuyết, văn vị đời và lối văn dịch) thì đưa ra nhận xét, cùng với những nhận xét của Trời “Văn đã giàu thay, lại lắm lối” (đa dạng về thể loại, giọng điệu). Nhà thơ lại còn mượn lời của Trời để khẳng định tài năng của bản thân : Trời lại phê cho : “Văn thật tuyệt
Văn trần được thế chắc có ít !...
Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết !”
Nhà thơ đã hiên ngang khẳng định cái Tôi của mình, gắn liền với tên tuổi thật của mình. Đó là thái độ ngông của người có tài và biết trân trọng, khẳng định tài năng của mình. Trong thời đại của Tản Đà, đất nước đang mất chủ quyền, tự giới thiệu như còn là biểu hiện của sự tự hào, tự tôn dân tộc. Hóm hỉnh hơn, nhà thơ còn khẳng định cả phong cách ngông của mình : “Bẩm quả có tên Nguyễn Khắc Hiếu
Đày xuống hạ giới vì tội ngông.”
Qua cuộc đối thoại tưởng tượng với Trời, nhà thơ còn khẳng định nghĩa vụ và trách nhiệm cao cả của mình nói riêng và của người nghệ sĩ nói chung là lo việc “thiên lương” của nhân loại : Trời rằng : “Không phải là Trời đày,
Trời định sai con một việc này
Là việc “thiên lương” của nhân loại,
Cho con xuống thuật cùng đời hay.”
Tạo tình huống tưởng tượng này để an ủi mình, đồng thời cũng là để nói lên ý nghĩa cao quý của văn chương, của nhà văn. Cũng nhân đây, nhà thơ giãi bày tâm sự của mình về nghề văn. Tản Đà được coi là người đặt nền móng cho thơ Mới, không chỉ bởi thơ ông mang hơi thở hiện đại của thời đại với cái Tôi cá nhân sừng sững giữa trang văn mà còn vì ông là nhà thơ đầu tiên “mang văn chương ra bán phố phường”, coi nghề văn là nghề kiếm sống. Khi giãi bày cảnh ngộ với Trời, nhà thơ đã kể lể rất chi tiết về nghề làm văn kiếm sống này. Tản Đà cũng đã dùng lời Trời để tự an ủi mình. Với Hầu Trời, Tản Đà đã mang đến cho văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX một không khí mới. Dưới hình thức một bài thơ câu chuyện tưởng tượng vui và đầy hào hứng, nhà thơ đã khẳng định cái Tôi cá nhân của người nghệ sĩ. Nhà thơ vừa tự tin khẳng định tài năng của mình vừa nói lên quan điểm làm văn chương, đó là viết văn để phục vụ thiên lương. Viết văn hay làm cho đời đẹp hơn là nhiệm vụ trời đã trao cho người nghệ sĩ. Sáng tạo độc đáo về mặt nghệ thuật của Tản Đà là đã đưa ngôn ngữ đời thường nôm na, dễ hiểu, dung dị mà vẫn rất gợi cảm vào thơ ca. Ngôn ngữ thơ ở Hầu Trời đã có sự xâm nhập của giọng điệu văn xuôi và ngôn ngữ bình dân. Không quá câu nệ vào vần luật nên mạch cảm xúc được phát triển rất tự nhiên và cái Tôi cá nhân đã thoả sức bộc lộ và thể hiện mình. Điểm độc đáo và thành công của bài thơ còn thể hiện ở chỗ tạo ra cái cớ là tình huống hầu Trời để tự khẳng định tài năng và quan niệm của mình. Đó là một kiểu ngông rất nghệ sĩ, vui vẻ và đáng yêu. Bài thơ cũng đã phác hoạ một chân dung thi sĩ Tản Đà với phong cách ngông độc đáo, đó là cái ngông của một nhà nho tài tử ở thời kì mà ý thức cá nhân bắt đầu được trân trọng và khẳng định. Sưu tầm
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Ý nghĩa nhan đề "Người trong bao". Thầy giup em với ạ. E kam ơn nhìu. hi
|
|
|
|
- Ý nghĩa nhan đề "Người trong bao" là nhằm chỉ một kiểu người, một
hiện tượng xã hội đã và đang tồn tại trong cuộc sống của bộ phận trí
thức Nga đương thời, có ý nghĩa phổ quát cao mang tính quy luật". - Đó là lối
sống hạ thấp giá trị nhân phẩm của con người, biến con người
thành một nô lệ tự nguyện, chỉ răm rắp phục tùng mà không hề biết phân
biệt đúng sai, thật giả, tạo ra một cơ chế sống giả tạo, máy móc, rập
khuôn. - Nhân vật Bê-li-cốp
là một điển hình cho loại người trong bao,
loại người luôn tự tìm cho mình một cách thức bao gói để tự co mình lại
vì sợ cuộc sống đang diến ra ồn ã xung quanh. Y sợ và “ghê tởm” hiện tại
cho nên hướng về quá khứ, “luôn ngợi ca những gì không có thật”. Nghề
nghiệp của y là dạy tiếng Hi Lạp cổ, thứ tiếng này cũng là một hình thức
bao gói, giúp anh ta ẩn sâu hơn vào quá khứ mà trách đi cái hiện thực
đang diễn ra. Chạy trốn hiện tại cũng có nghĩa là từ chối tương lai, từ
chối cái sẽ đến hoặc sẽ phải đến. Tìm về quá khứ, kể cả quá khứ không có
thật, chính là sự vô trách nhiệm với bản thân, với cuộc đời. Chui vào
bao, tự tìm cho mình những cái bao để che chở đã trở thành lối sống của
Bê-li-cốp, trở thành “thói quen kì cục” của nhân vật này. Lối sống đó
trở thành nỗi ám ảnh triền miên đối với mọi người, vì chẳng ai biết là y
muốn gì, cần gì và lại càng không biết phải nói với y thế nào. Y đã
khống chế cả trường học, cả thành phố “suốt mười lăm năm trời”.
|
|
|
|
giải đáp
|
Ý nghia nhan đề : "VỘi vàng"
|
|
|
|
Nên hiểu ngắn gọn thế này em nhé! - Nhan đề "Vội vàng" có ý nghĩa khái quát một quan niệm nhân sinh mới mẻ, tích cực của nhà thơ Xuân Diệu + Đó là một thái độ sống gắn bó, yêu quí cuộc đời, biết tận hưởng tất cả những vẻ đẹp, những giá trị của cuộc sống trần gian + Vội vàng không đồng nghĩa với lối sống chỉ biết đến hưởng thụ, ích kỉ, đề cao vật chất mà mà phải biết tận hưởng một cách cao đẹp; tận hưởng đi cùng với nâng niu, sáng tạo - Nhan đề này còn gián tiếp phê phán thái độ sống, thờ ơ, lãng quên, trốn tránh thực tại...
|
|
|
|
giải đáp
|
Viết giúp em bài này a. Nghị luận XH: "Việc làm xua đuổi ra ta ba mối họa lớn: buồn nản, thói hư và cùng túng"
|
|
|
|
tham khảo e nhé!
Trái đất vẫn cứ quay, một ngày mới lại bắt đầu bằng những ánh bình minh
ấm áp. Trên cành hoa con ong đang hút mật; dưới mặt đất chú kiến đang
tha mồi, những xon đường đầy ắp những người qua lại với biết bao công
việc.... và nhịp sống cứ qua đi . Guồng quay xã hội hoạt động như thế
thu hút tâm hồn ta, làm ta say sưa với muôn người, muôn vật - làm việc
là điều kiện tất yếu cho vạn vật phát triển, nó có tác dụng hết sức to
lớn. Bởi thế àm nhà văn Voltaire mới có câu "việc làm xua đuổi xa ta ba mối họa lớn: buồn nản, thói hư và cùng túng". " lao động là vinh quang" và làm việc là quy luật của xã hội.
Ở đời không ai không làm việc mà có thể sống bình yên được cả. Làm việc
tuy khiến ta mệt mỏi nhưng lại là một phương pháp để rèn luyện sức khỏe
đồng thời tâm hồn được thoải mái hơn, trái lại những người nhàn rỗi
tưởng rằng sẽ rất khỏe khoắn nhưng sự thật có thể ít hoạt động khiến cho
cơ bắp yếu ớt, sức khỏe không tốt và dĩ nhiên điều đó xẽ ảnh hưởng
không nhỏ tới tinh thần làm cho con người đâm ra uể oải buồn. Không có
việc gì làm thì càng tăng thêm chán nản, lúc ấy bao nhiêu thú vui trên
đời cũng cho là vô vị. Vì thế nhà văn Wagner mới khuyên ta "chôn hạnh phúc trong công việc làm, trong sự phấn đấu hàng ngày" .
Hạnh phúc là khi ta làm việc, dù nhỏ bé hay lớn lao nhưng dẫu sao đó
cũng là một phần sức lực mà ta cống hiến cho đời, cho người. Ngày ngày
làm việc tức là ngày ngày cống hiến, ngày ngày vui vẻ. Trong sự mệt nhọc
của công việc ta lại tìm thấy hạnh phúc, và hơn hết điều đó xẽ khiến
cho tâm hồn con người ngày càng thỏa mái, tươi trẻ. Còn mệt mỏi, chán
nản khi không có việc làm chỉ khiến cho con người sinh ra bi quan, thấy
cuộc đời chỉ toàn đen tối. Xã hội với bao nhiêu tiêu cực đấy là tất cả
những gì mà một người nhàn rỗi thấy được. Họ " ngồi chơi sơi nước"
mãi nên tinh thần trở nên kém minh mẫn. Nhưng không, cảnh sống trước
mặt vẫn tươi sáng, đầy màu sắc huy hoàng nếu con người biết tìm kiếm
niềm vui qua những công việc hàng ngày. " Hãy lao động như thể làm là chính sự nhàn rỗi đã giết chết bạn" đấy là một lời kêu gọi cho biết bao lớp trẻ hiện nay.
Sự buồn chán sẽ bị tiêu tan nếu con người biết tạo ra cho mình một sinh
lực, mới đó chính là công việc. Càng làm việc ta càng thấy hăng hái,
yêu đời và càng nhận thức rõ nghĩa vụ của con người.. Khi mọi người đều
lao động thì ý thức về quyền lợi và nghĩa vụ của mình được rõ ràng trong
họ. Họ biết họ phải làm gì? và đáng được hưởng như thế nào? Vì hơn
những người lười biếng họ đã biết cống hiến, đã làm việc và tất nhiên sự
cho nhận luôn được đền đáp, lao động xẽ đem lại cho họ những điều tốt
đẹp nhất có thể, xóa tan đi chán nản và thay voa fđó là cuộc sống ấm no,
hạnh phúc Chatavoinen đã nói "nơi nào có cây" "nghĩa vụ" khai hoa thì chỗ ấy sầu muộn " sẽ khô héo",
khiến cho người ta sinh ra bao tật sấu, bao thói hư. Đó là tính lười
biếng, và những người lười biếng coi như những con ký sinh trùng của xã
hội. Bởi thế mới có câu " tiểu nhân hàn cư vi bất thiện", lười
biếng là bất thiện, là sấu sa vì bị mọi người khinh ghét, mỗi chán nản
của những kẻ lười lại càng tăng lên và tất yêu họ lại tìm cách giải sầu.
Những thú vui lành mạnh là từ công việc mà ra, do đó sự giải buồn của
những khẻ lười biếng là những con bạc xanh xao, những tên nghiện ngập.
Nói chung là những kẻ bê tha vướng vào vòng tội lỗi, là những con sâu
đang đục khoét dần tài sản cuả gia đình và xã hội. Cũng có khi đó là
những kẻ giàu có con nhà đại gia, nhưng có tiền để mà vung tìn qua cửa
sổ để tiêu sầu mãi rồi cũng trở nên nghèo túng. Rồi những kẻ không tiền
thì phải xoay sở bằng đủ mọi cách và ngày càng túng quẫn. Như vậy người
lười nhác lại càng sinh ra nghèo túng, thậm chí còn phá hoại lẫn nhau.
Ở đời mỗi người là một móc xích gắn kết lại thành một đoàn thể, một xà
hội. Vì vậy nhiều người xấu xẽ làm cho xã hội xấu, gây cản trở sự phát
triển của xã hội. Âu Dương Tu đã nói" Kẻ nào chỉ biết ăn chơi phóng dật
có thể làm hại đến thân, người biết lo nghĩ chịu khó có thể làm cho nhà
nước mình được hưng thịnh". Ta đã là người của quốc gia thì phải biết
làm để công hiến lại cho quốc gia, như vậy mới chính là công dân tốt của
xã hội. Tục ngữ Việt Nam có câu: "Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ" hay ca dao cũng có câu: "Có khó mới có miếng ăn Không dưng ai dễ đem phần đến cho" vì
thế muốn thoát khỏi nghèo khó thì phải biết làm việc. Làm việc xẽ đem
lại những giá trị vật chất và cả giá trị tinh thần nữa, trái lại nếu như
ta không làm gì cả tất nhiên sẽ bị sa vào cùng đường túng quẫn. Trước
hết là sự cùng túng về vật chất: thiếu ăn, thiếu mặc, lâm vào cảnh cơ
hàn, nghèo khổ từ chỗ ấy sinh ra hay bực dọc cáu kỉnh và liều lĩnh tuyệt
vọng, tự hủy chính bản thân mình. Như vậy Voltaire đã rất
đúng khi cho việc có thể xua đi nỗi buồn nản, các tật hư và sự cùng
túng. Làm việc không những mang cho ta những lợi ích đó mà còn khiến cho
kiến thức của mỗi con người ngày càng hoàn thiện, cái sở học của ta sẽ
rộng thêm, nhiều hơn khi có được những kinh nghiệm quý giá từ lao động.
Con người hãy hoàn thiện đền mức có thể bằng sự lao động siêng năng, làm
việc sẽ giúp mỗi con người thành công, hạnh phúc có được những đức tính
tốt. Hãy sống và tìm đến vui thú trong hoạt động hằng ngày.
|
|
|
|
giải đáp
|
Viết bài NL: "Không phải cái gì óng ánh cũng là vàng" (Ngạn Ngữ Anh).
|
|
|
|
Dàn Ý em nhé! 1. Mở bài Giới thiệu ngạn ngữ Anh "Không phải cái gì óng ánh cũng là vàng".
2. Thân bài a. Giải thích ý nghĩa câu ngạn ngữ và giá trị của nó trong việc đánh giá một sự vật : -
Vàng là kim loại quý hiếm, có giá trị cao, màu sắc óng ánh bắt mắt.
Trên thực tế, có những thứ cũng có màu sắc óng ánh rất đẹp nhưng lại
không phải là vàng. Thế nhưng chính cái hình thức bên ngoài ấy lại dễ
làm cho người ta nhầm lẫn, thậm chí lóa mắt trước sự rực rỡ của chúng. -
Câu ngạn ngữ như một lời nhắc nhở con người hãy thận trọng khi nhìn
nhận, đánh giá một sự vật, một hiện tượng. Vì vậy, để có được một cái
nhìn chính xác, khách quan, con người cần phải bỏ thời gian để tìm hiểu,
suy xét trên mọi phương diện và nhất thiết là không được để cho hình
thức bên ngoài làm ảnh hưởng đến quyết định. - Con người rất dễ bị
cuốn hút bởi những thứ xa hoa, phù phiếm như vậy mà quên đi mất những
giá trị đích thực của chính sự vật, sự việc đấy. Chung quy cũng là từ
nhu cầu ngày càng nâng cao của con người. Chính vì vậy, yêu cầu về cái
đẹp, về thẩm mĩ ngày càng được chú trọng và nâng cao hơn bao giờ hết.
Đấy cũng chính là lí do khiến con người dễ dàng bị thu hút bởi vẻ óng
ánh, mĩ miều bên ngoài của các sự vật mà quên mất chất lượng thật sự bên
trong đó như thế nào. - Vẻ óng ánh hào nhoáng của những thứ giả tạo
ấy khiến con người phải lóa mắt và những tác hại mà nó đem lại khiến con
người càng phải đau lòng.
b. Giá trị của câu ngạn ngữ trong việc đánh giá con người : -
Câu ngạn ngữ có giá trị cảnh tỉnh con người phải tỉnh táo trước những
giá trị ảo, đừng nhìn vào bề ngoài bóng bẩy, hào nhoáng mà vội đánh giá
một con người. - Người ta hoàn toàn có thể tự tạo cho mình một dáng
vẻ bề ngoài bóng bẩy, lôi cuốn bằng một cách ngụy trang khéo léo nào đó
nhưng nhân cách và bản tính của chính họ thì dù có được che đậy khéo léo
đến đâu cũng không thể nào giấu giếm mãi được. - Đừng nhìn bề ngoài
mà đánh giá một con người chính là thông điệp sâu sắc nhất mà câu ngạn
ngữ muốn nhắn nhủ đến tất cả chúng ta.
c. Liên hệ với việc rèn luyện của bản thân : -
Nét đẹp của mỗi con người toát lên từ hình thức bên ngoài và phẩm chất
bên trong. Hình thức bên ngoài không hẳn là sắc đẹp. Phẩm chất bên trong
mới là điều quan trọng nhất. - Câu ngạn ngữ đặt ra cho mỗi người
nhiệm vụ tìm cho mình một cách sống, cách rèn luyện bản thân để trở
thành một thứ vàng thật sự, óng ánh bên ngoài và rạng rỡ bên trong.
3. Kết bài
Khẳng định những giá trị đích thực của cuộc sống không nằm ở sự rực rõ,
hào nhoáng bên ngoài mà tiền ẩn ở bên trong. Cho nên, khi nhìn nhận,
đánh giá bất kì một sự vật, hiện tượng hay bất kì một ai, chúng ta không
nên chỉ quan tâm đến vẻ bề ngoài mà bỏ qua phẩm chất thật sự bên trong.
|
|
|
|
giải đáp
|
Chiếc thuyền ngoài xa?
|
|
|
|
Đáp án đây em! Thông điệp nghệ thuật được tác giả gửi gắm thông qua cuộc hành trình đi tìm kiếm cái đẹp, tìm kiếm giá trị nghệ thuật chân chính của nhân vật nghệ sĩ nhiếp ảnh - Phùng. Mục đích chuyến đi của Phùng là tìm những khoảnh khắc đẹp để sáng tạo nên những tác phẩm nghệ thuật tuyệt mĩ, nhằm thỏa mãn khát khao của cá nhân người nghệ sĩ và phục vụ công chúng. Trên cuộc hành trình ấy Phùng đã khám phá ra nhiều vấn đề của cuộc sống và thân phận con người - đó là những vấn đề mà không phải nghệ sĩ nào cũng dễ dang nhìn thấy được. Đằng sau cảnh tượng đẹp như bức tranh thủy mặc mà anh được chiêm ngưỡng, là cả một câu chuyện về một cuộc đời, một thân phận đầy khổ đau, bất hạnh. Và đằng sau những bất hạnh, khổ đau của người dàn bà hàng chài, lại có muôn vàn những câu chuyện trái khoáy và cảm động về cuộc sống con người. Như vậy có thể thấy thông điệp nghệ thuật mà tác giả gửi gắm đó là người nghệ sĩ không nên nhìn cuộc sống đơn giản, xuôi chiều, mà phải luôn luôn khám phá, phát hiện về đời sống. Nghệ thuật chân chính không được tô son, điểm phấn cho đời sống mà phải nhìn thẳng vào sự thực đời sống.
|
|
|
|
giải đáp
|
Chí làm trai trong "Xuất dương lưu biệt"
|
|
|
|
Bài tham khảo:Lưu biệt khi xuất dương” khẳng định chí làm trai và quyết tâm xuất dương, làm nên sự nghiệp lớn cứu nước cứu dân. Đó là sự quyết tâm cao độ và những ý tưởng mới mẻ của nhân vật trữ tình buổi đầu ra nước ngoài tìm đường cứu nước. Cái chí làm trai mà nhà thơ nói đến trong bài thơ trước hết là “phải lạ ở trên đời”. Đó là một lí tưởng sống, một khát vọng lớn lao. Đấng nam nhi phải làm được những việc lớn lao, phi thường, phải chủ động xoay chuyển trời đất, không để cho trời đất tự chuyển vần. Nhà thơ chuyển chữ ta thành chứ tớ . Tớ phản ánh được cái hăm hở, lạc quan, trẻ trung. Hai câu thơ trên dường như có chút ngông nghênh tự phụ nhưng thực ra là sự bộc lộ sâu sắc về cái tôi cá nhân tich cực. Cái tôi này chẳng những khảng đinh trách nhiệm đối với hiện tại, với vận mệnh hôm nay của đất nước mà còn khảng đingh nghĩa vụ với lịch sử. Đó là tư thế của người có chí khí lớn, muốn vươn tới những đỉnh cao của lịch sử. Cái chí làm trai mà cụ Phan nói trong bài thơ chắc chắn khiến chúng ta thấy cảm phục về những con người sống ý thức được vai trò, trách nhiệm của mình đối với lịch sử. Mỗi con người sống là phải gắn liền với đất nước, dân tộc, biết sống chết cùng dân tộc. Rõ ràng nhân vật trữ tình tuy đang nói về mình nhưng thực chất là tiếng nói đại diện cho cả một tầng lớp, một thế hệ và cao hơn là cả dân tộc. Cách nhìn nhận, suy nghĩ của tác giả là hướng về tương lai phía trước chứ không phải là lối sống hoài niệm. Đây cũng chính là một điểm rất tiến bộ mà thông qua bài thơ chúng ta không chỉ cảm nhận được ý nghĩa của chúng mà còn học tập được vào thực tế cuộc sống của mình. Lời thơ kết của bài thơ với hai câu tuyệt đẹp, đầy cảm hứng lãng mạn. Con đại bàng đã tung cánh bay ra biển khơi, bay vào thời đại “Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi”. Bằng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, bằng chữ Hán, với giọng thơ trang nghiêm hào hùng mạnh mẽ, lôi cuốn đã toát lên một chí lớn phi thường không cam tâm làm nô lệ, quyết đi tìm đường cứu nước. Đó không còn là lời nói mà đã biến thành hành động vượt bể Đông của ông. Bài thơ là một khúc anh hùng ca kêu gọi lên đường cứu nước mang giá trị khích lệ động viên, tuyên truyền cách mạng không chỉ đối với thế hệ thanh niên ở giai đoạn đó mà còn là lời nhắn nhủ chung đối với thanh niên các thế hệ sau. Phan Bội Châu (1867 – 1940) là lãnh tụ kiệt xuất của các phong trào Duy Tân, Đông *** Việt Nam quang phục hội đầu thế kiX. Ông là “bậc anh hùng, vị thiên sứ, được 25 triệu đồng bào tôn kính” (Nguyễn Ái Quốc). Cụ Huỳnh Thúc Kháng cũng hết lời ca ngoại Phan Bội Châu: “Miệng giọng cuốc vạch trời kêu giật một – giữa tầng không mù cuốn mây tan – tay ngòi lông vỗ án múa chầu ba – đầy mặt giấy mưa tuôn sấm nổ.” Năm 1905, mở đầu phong trào Đông *** Phan Bội Châu xuất dương sang Trung Quốc, Nhật Bản tìm đường cứu nước. Trong không khí chia tay với các đồng chí trong Hội Duy Tân, Phan Bội Châu sáng tác bài “Xuất dương lưu biệt” (Lời để lại khi chia tay để ra nước ngoài) bằng chữ Hán. Mở đầu bài thơ, tác giả nêu lên quan niệm về chí nam nhi: “Sinh vi nam tử yếu vi kì, Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di”. Tôn Quang Phiệt dịch là: “Làm trai phải lạ ở trên đời
Há để càn khôn tự chuyển dời”
Phan Bội Châu nêu lên quan niệm về chí làm trai mà các nhà nho trứ danh đều đồng tình. Nguyễn Công Trứ, trong bài thơ “Chí nam nhi” cũng từng nói: “Thông minh nhất nam tử, Yếu vi thiên hạ kì”. Làm đấng nam nhi trên đời này phải làm điều kì lạ, kì tích để giúp đời, giúp dân, giúp nước. Làm trai là phải tung hoành ngang dọc, dời non lấp bể: “Há để càn khôn tự chuyển dời”
Phải là bậc hào kiệt trên đời này thì mới phát ngôn nhu vậy. Nội lực mạnh mẽ phi thường. Con người muốn tham gia vào sự vận động của vũ trụ. “Há để còn khôn tự chuyển dời” là câu hỏi tu từ vừa khẳng định vừa muốn đối thoại với hết thảy các đấng mày râu trên đời này. Nhận thức về mối quan hệ giữa con người và vũ trụ về sự tác động của con người đối với vũ trụ như vậy thật là tích cực, thật là cách mạng. Câu thơ làm thức dậy nội lực của mỗi con người để họ tham gia cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội. Sau khi tỏ bày quan niệm về chí nam nhi, về mối quan hệ giữa con người và vũ trụ, tác giả nói về trách nhiệm của chính mình với thời đại của mình: “Ư bách niên trung tu hữu ngã, Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy”. Hai câu thơ đó được Tôn Quang Phiệt dịch là: “Trong khoảng trăm năm cần có tớ
Sau này muôn thuở há không ai?”
Trong một nền văn học phi ngã (tôi) mà hiện lên một chữ “ngã” sừng sững, phải nói là “kì” (lạ)! “Ư bách niên trung tu hữu ngã”
Nhận thức về sự hiện hữu của cái “tôi”, trách nhiệm của cái “tôi” đối với thời đại như vậy chẳng khác nào một ngọn lửa giữa đêm đông, một cây tùng giữa băng tuyết. Không phải là cái “tôi” hưởng lạc mà là cái “tôi” hành động, cái “tôi” tham gia vào sự “chuyển dời” của “càn khôn”. “Giữa cuộc sống tối tăm của đất nước lúc đó, có được một ý thức về cái “tôi” như thể, quả là cứng cỏi, là đẹp vô cùng, cũng như có được một ý thức lưu danh thiên cổ bằng sự cứu nước quả là cần thiết, là cao cả vô cùng” (Nguyễn Đình Chú). Còn mối quan hệ giữa con người với muôn thuở thì tác giả lại đặt ra câu hỏi “Khởi thiên tài hậu cánh vô thùy?” (Sau này muôn thuở há không ai?) Hỏi nhưng thật ra là để khẳng định. Tác giả có niềm tin vào chính mình, lại càng có niềm tin vào cộng đồng, vào dân tộc. Thơ Phan Bội Châu xói vào tâm can người ta, kích thích vào ý thức trách nhiệm của mỗi con người, giục giã con người hành động, chuyển dời tự nhiên, chuyển dời xã hội. Đấy chính là thơ của một nhà cách mạng. Sang hai câu luận, tác giả càng riết róng hơn về mối quan hệ giữa con người với non sông đất nước, giữa cuộc sống thực tại với sách vở của thánh hiền: “Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế
Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si”
(Non sông đã chết sống thêm nhục
Hiền thánh còn đâu học cũng hoài.)
Tác giả sử dụng thủ pháp nhân hóa “non sông đã chết” khiến ta cảm thấy “giang sơn” (non sông) như một sinh mệnh, thật đau lòng. “Non sông đã chết sống thêm nhục”
Nhiều nhà Nho thức thời cũng đã nói lên nỗi nhục mất nước, nhưng chưa có nhà Nho nào nói một cách triệt để, thống thiết như vậy. Đem sự sống chết của cá nhân mà gắn liền với sự vinh nhục của non sông đất nước thì không còn nghi ngờ gì nữa, Phan Bội Châu là nhà ái quốc vĩ đại. Sách vở của thánh hiền cũng chẳng rửa được vết nhơ nô lệ: “Hiền thánh còn đâu học cũng hoài”
Câu thơ nguyên tác trực cảm mãnh liệt hơn “Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si”, (Hiền thánh đã vắng thì có đọc sách cũng ngu thôi). Viết như vậy thì đúng như cụ Huỳnh Thúc Kháng nói “đầy mặt giấy mưa tuôn sấm nổ”. Không nên hiểu là cụ Phan phủ định sách của thánh hiền, mà nên hiểu cụ Phan đã hành cái đạo của thánh hiền một cách sáng suốt, cái sáng suốt của một nhà cách mạng. Mà có ông Khổng, ông Mạnh, ông Lão nào dạy các đệ tử ngồi “tụng” sách của quý vị trong khi nước mất dân nô lệ đâu? Tóm lại, từ quan niệm sống “ư bách niên trung tu hữu ngã”, trong hai câu luận, tác giả tự dồn mình vào cái thế phải xuất dương cứu nước. Hai câu kết, tác giả thể hiện trọn vẹn chủ đề “xuất dương lưu biệt” “Nguyện trục trường phong Đông hải khứ
Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi”,
(Muốn vượt biển Đông theo cánh gió
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi).
Hình ảnh đẹp, lãng mạn. “Muốn vượt biển Đông theo cánh gió”, không gian rộng lớn của biển Đông sánh với chí lớn của nhà cách mạng. Câu thơ dịch hay, xứng với tinh thần của nguyên tác. Nhưng câu kết “Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi” thì được cái tình của non nước đối với người ra đi, chứ không sát với nguyên tác. “Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi”
(Ngàn đợt sóng bạc cùng bay lên)
Hình tượng thơ làm hiển hiện trước mắt ta hàng ngàn đợt sóng sôi réo trắng xóa, lạ là không vỗ vào bở mà “nhất tề phi” (cũng bay lên). Hình tượng vừa kì vĩ vừa thơ mộng thể hiện được tinh thần phơi phới, nhiệt huyết, thăn hoa của nhà thơ mà cũng là nhà cách mạng. Muốn hiểu được nhà ái quốc vĩ đại Phan Bội Châu mà chưa đọc được hàng ngàn trang trước tác của cụ thì tốt hơn hết là đọc bài thơ “Xuất dương lưu biệt”. Một bài thơ nhỏ cũng cho ta thấy được chí nam nhi của người anh hùng, thấy được chí lớn muốn dời non lấp bể, thấy được ý thức trách nhiệm của cái “tôi” đối với lịch sử, với dân tộc, thấy được quan niệm sống chết, vinh nhục, thấy được hoài bão lớn lao của một nhà chi sĩ muốn cứu dân cứu nước. “Mượn Đông du thăm hỏi bạn đồng tâm, Hương Cảng, Hoành Tân, lỏi len đường mới. Ba tấc lưỡi mà gươm mà súng, nhà cầm quyền trông gió cũng gai ghê.
Một ngòi lông vừa trống vừa chiêng, cửa dân chủ khêu đèn thêm sáng chói.”
Đấy là mấy dòng Phan Bội Châu viết về Phan Châu Trinh, nhưng ta thấy hình ảnh của cả hai cụ Phan, hai tâm hồn yêu nước lừng danh trong lịch sử đấu tranh của dân tộc, giai đoạn đầu của thế kỉ này. Hoàn cảnh ra đời của bài thơ này là những năm đầu thế kỷ XX, đất nước ta đã mất chủ quyền, hoàn toàn lọt vào tay thực dân Pháp. Tiếng trống, tiếng mõ Cần Vương đã tắt, báo hiệu sự bế tắc của con đường cứu nước theo tư tưởng phong kiến do các sĩ phu lãnh đạo. Phan Bội Châu lúc này mới ba mươi tám tuổi, là hình ảnh tiêu biểu của một thế hệ cách mạng mới, quyết tâm vượt mình, bỏ qua mớ giáo lý đã quá lỗi thời của đạo Khổng để đón nhận tư tưởng tiên phong trong giai đoạn, mong tìm ra bước đi mới cho dân tộc, nhằm tự giải phóng mình. Phong trào Đông du được nhóm lên cùng với bao nhiêu hy vọng... Bài thơ đã thể hiện rất sinh động tư thế, ý nghĩ của Phan Bội Châu trong buổi xuất dương tìm đường cứu nước. Hai câu đề nói rõ nhận thức của nhà thơ về chí làm trai - một nhận thức làm cơ sở cho mọi hành động: Làm trai phải lạ ở trên đời Há để càn khôn tự chuyển dời.
Thực ra chí làm trai chẳng phải đến bây giờ mới được Phan Bội Châu khẳng định. Trước đó, trong thơ trung đại, ta vẫn thấy Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Công Trứ nhắc đến (ở các bài Thuật hoài, Chí nam nhi). Nhưng điều đó không có nghĩa là ở bài thơ của Phan Bội Châu, lý tưởng nhân sinh kia đã mất đi sự mới lạ, thôi thúc. Nó chính là điều nung nấu bao năm của tác giả bây giờ được nói ra, trước hết như lời tự vấn, tự nhủ, tự mình nâng cao tinh thần mình: đã làm trai là phải làm nên chuyện lạ, đó là trời đất không để "tự chuyển dời". Đây là một tư tưởng táo bạo, cách mạng đối với người xuất thân từ cửa Khổng sân Trình trong thời điểm ấy. Với hai câu thực, nhà thơ tiếp tục khẳng định tư thế của kẻ làm trai giữa vũ trụ và trong cuộc đời: Trong khoảng trăm năm cần có tớ, Sau này muôn thuở, há không ai ?
Ý thức về cái "tôi" đã hiện lên rõ ràng, không rụt rè, dè dặt. Đó là nhân vật trữ tình đang tự đứng giữa cuộc đời một cách can đảm, do ý thức được sứ mệnh của mình trong lịch sử và cũng do sự thôi thúc của khát vọng lập công danh. Hai câu luận nói về sự thực nhức nhối: Non sông đã chết sống thêm nhục, Hiền thánh còn đâu học cũng hoài.
Đến hai câu này, ta cũng thấy nổi lên ý chí làm trai với khát vọng lưu danh theo một nội dung mới, đó là ý thức về non sông đã mất chủ quyền, "hiền thánh" thần tượng một thuở giờ còn đâu nữa. Hai câu thơ nhận định thực trạng lịch sử bằng một cái nhìn dứt khoát. "Hiền thánh còn đâu học cũng hoài" - đây quả là một câu thơ thể hiện khí thế sục sôi của Phan Bội Châu, cho thấy cái nhìn tỉnh táo của ông về thời cuộc. Hai câu kết của bài thơ có cái khí thế gân guốc và ý thức được sự ra đi một cách sôi trào, đầy dũng khí: Muốn vượt biển Đông theo cánh gió, Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.
"Vượt biển Đông" là cách nói có vẻ khoa trương nhưng đó là hành động sắp diễn ra. Người ra đi trong niềm hứng khởi vô biên "muôn trùng sóng bạc" tiễn chân như một yếu tố kích thích. Đó chính là bạn đồng hành trong cuộc ra đi hùng tráng này. Xuất dương lưu biệt là một khúc hát lên đường. Đề tài có tính chất truyền thống, nhưng tư tưởng lại rất mới mẻ. Bài thơ mang âm hưởng lạc quan nên đã khiến cho cảm xúc thể hiện trong bài thơ có chiều sâu, có sức gợi cảm mạnh mẽ. Đây là tráng ca của một vị anh hùng mà suốt đời không hề biết mệt mỏi trong hành động cứu nước thương dân. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Soạn bài " Xuất dương lưu biệt"
|
|
|
|
Bài tham khảo:I. Kiến thức cơ bản1. Vài nét về tác giả- Phan Bội Châu tên thuở nhỏ là Phan Văn San (1867-1940), hiệu Sào Nam. Quê: Nam Đàn, Nghệ An. - Cuộc đời chia ba giai đoạn: + Trước 1905, Hoạt động ở trong nước. + Từ 1905-1925 hoạt độngcách mạng ở nước ngoài, lập hội Duy Tân, Phong trào Đông Du, Việt Nam quang phục hội. + Từ 1925-1940: Bị Thực dân Pháp giam lỏng ở Huế cho đến lúc mất. -Vừa là một lãnh tụ cách mạng, vừa là một nhà văn lớn. Thơ văn Phan Bội Châu là những lời tâm huyết chứa chan lòng yêu nước (Hải ngoại huyết thư), là vũ khí tuyên truyền vận động cách mạng sắc bén (Ngục trung thư, Trùng quan tâm sử…). 2. Hoàn cảnh sáng tác bài thơNăm 1905, sau khi vận động thành lập hội Duy Tân và để mở đầu phong trào Đông Du, Phan Bội Châu từ biệt các đồng chí ra nước ngoài. Bài thơ “Xuất dương lưu biệt” được sáng tác trong buổi chia tay này. II. Nội dung chính của bài thơ 1. Hai câu đề: Quan niệm về chí làm trai của Phan Bội Châu:-Thời phong kiến: nam tử sinh ra ở đời phải làm những công việc lớn lao có ích cho xã hội Lý tưởng nhân sinh. “ Đã mang tiếng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông” (Nguyễn Công Trứ)
Phan Bội Châu: đã làm trai phải làm nên chuyện lạ: xoay chuyển trời đất chí làm trai trong sự nghiệp cứu nước với một lý tưởng lớn lao và mãnh liệt. “ Làm trai phải lạ ở trên đời Há để càn khôn tự chuyển dời”
2. Hai câu thực: Ý thức tự khẳng định mình.- Khẳng định cái tôi trách nhiệm cống hiến cho đất nước trước lịch sử .Đó là một cái tôi cứng cỏi, đẹp đẽ, cần thiết và cao cả vô cùng. “Trong khoảng trăm năm cần có tớ Sau này muôn thuở há không ai?”
- Hình thức: + Câu 1: Khẳng định + Câu 2: Nghi vấn nhằm khẳng định lời giục giã của cái tôi trong buổi đầu xuất quân. 3. Hai câu luận: Quan niệm vinh nhục và thái độ đối với nền học vấn cũ:- Tác giả ý thức về nỗi nhục mất nước. “Non sông đã chết sống thêm nhục”
- Sách vở thành hiền không giúp gì cho thời buổi mất nước “Hiền thánh còn đâu học cũng hoài”
=>Quan niệm trên chứng tỏ tư tưởng tiến bộ, mới mẻ của Phân Bội Châu. 4. Hai câu kết: Khát vọng và tư thế của buổi lên đường- Khát vọng: Vượt bể đông Đây là một khát vọng hết sức lớn lao mạnh mẻ. -Tư thế: “thiên trùng bạch lũng nhất tề phi” khí thế trào lên sục sôi hăm hở =>Tư thế hăm hở ra đi tìm đường cứu nước. 5. Chủ đề: bài thơ thể hiện quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước của nhà cách mạng Phân Bội Châu.III. Tổng kết- Nội dung: Bài thơ nhỏ nhưng chứa đựng nội dung tư tưởng vừa phong phú vừa lớn lao: có chí làm trai, có khát vọng xoay chuyển vũ trụ, có ý thức cá nhân trách nhiệm cao cả, có hoài bảo lưu danh thiên cổ, có quan niệm vinh nhục ở đời, có thái độ mới mẻ và táo bạo về sách vở thánh hiền, có tư thế hăm hở ra đi tìm đường cứu nước. - Nghệ thuật: Bài thơ có một giọng điệu riêng đó chính là nét mạnh mẻ của lòng tâm huyết luôn sục sôi. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Đọc hiểu bài thơ "Xuất dương lưu biệt"
|
|
|
|
Bài tham khảo:
1. Hoàn cảnh sáng tác bài thơ
Năm 1905 Phan Bội Châu lên đường sang Nhật Bản>Khi chia tay bạn bè, đồng chí, Phan ứng khẩu đọc bài thơ này. Bối cảnh lịch sử, xã hội Virtj Nam lúc đó có những điểm đáng chú ý sau:
- Đất nước ta đang trong một hoàn cảnh chính trị rất đen tối, các cuộc đấu tranh vũ trang chống Pháp đã hầu như tan rã, thực dân Pháp đã làm chủ tình thế,ách đô hộ đã mặc nhiên quàng lên đầu lên cổ nhân dân. Nói như Phan Châu Trinh:
Vạn dân nô lệ cương quyền hạ, Bát cổ văn chương túy mộng trung. (Muôn dân nô lệ một đàn, Văn chương bát cổ nồng nàn giấc say.)
- Trong một bộ phận những người trí thức dân tộc, ý chí cứu nước không hề bị thui chột, nhưng vấn đề đặt ra cấp thiết là cứu nước bằng con đường nào? Và một ánh sáng mới đã bắt đầu loé lên. Người ta đón nhận những tư tưởng mới từ bên trời Âu truyền sang, người ta say sưa trước những thành tích duy tân của nước Nhật Bản, Trung Hoa. “Kì diều thay là sức quyến rũ của lí tưởng …thực tế càng ủ dột bao nhiêu thì cái viễn cảnh của tưởng tượng lại càng đẹp đẽ, thấm thía bấy nhiêu. Luồng máu nóng trong quả tim trai trẻ bị kích thíc đã bùng lên đến tột độ”(Đặng Thai Mai). Phan Bội Châu ra đi trong niềm say mê lí tưởng đó với một sứ mạng lịch sử đè nặng đôi vai: khôi phục lại đất nước, tái tạo giang sơn.
2. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là cảm hứng lãng mạn hào hùng sôi trào nhiệt huyết và cháy bỏng khát vọng ước mơ
- Chí làm trai:
Chí làm trai là một lí tưởng nhân sinh trong chế độ phong kiến, thể hiện tư tưởng nhập thế tích cực của đạo Nho. Chí làm trai đó thường gắn với cái mộng công danh:
Công danh nam tử còn vương nợ (Phạm Ngũ Lão) Không công danh thời nát với cỏ cây (Nguyễn Công Trứ)
hoặc để thoả cái chí "tang bồng hồ thỉ":
Chí làm trai nam, bắc, tây. đông, Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể (Nguyễn Công Trứ)
Và trong thực tế, không ít người đã lập nên công tích ở đời như Phạm Ngũ Lão từng “Múa giáo non sông trải mấy thu”, đánh đuổi giặc xâm lăng, giữ gìn đất nước; như Nguyễn Công Trứ từng khơi sông lấp biển, mang cuộc sống ấm no lại cho nhân dân…Phan Bội Châu cũng nói đến chí làm trai và cũng mong làm nên chuyện lạ ở đời:
Làm trai phải lạ ở trên đời,
Nhưng ở một nhà nho tân học, một nhà cách mạng nhiệt thành đang say mê hướng tới ánh sáng lí tưởng mới như Phan Bội Châu thì chuyện lạ đâu có phải là chuyện công danh, cũng đâu phải chỉ là phỉ sức vẫy vùng! Giữa lúc non sông chìm đắm, chí của Phan là chí xoay trời chuyển đất, lấp bể, vá trời chứ đâu chịu ngồi yên mà nhìn đất nước an bài theo ý muốn của bọn thực dân:
Há để càn khôn tự chuyển dời
Đó là lí tưởng sống mà vì nó Phan sẵn sàng hiến trọn cuộc đời mình, lí tưởng mà trước đó không lâu Phan đã nói rõ trong bài hát nói Chơi xuân:
Phùng xuân hội, may ra, ừ cũng dễ, Nắm địa cầu vừa một tí con con. Đạp toang hai cánh càn khôn Đenm xuân vẽ lại trong nnon nước nhà.
Với một lẽ sống như thế, tư thế con người trong vũ trụ là tư thế của một con người khổng lồ, con người làm chủ hoàn cảnh. Trong cảnh cá chậu chim ***g, giữa những tiếng tở dài bất lực ‘thời cơ đã lỡ rồi” của văn thơ Cần Vương cuói thế kỉ XIX, cái lẽ sống hào hùng, cái tư thế mạnh mẽ chủ động ấy có sức thu hút biết bao đối với cả một thế hệ thanh niên đương thời!
- Ý thức tự khẳng định mình giữa cuộc đời: Trong khoảng trăm năm cần có tớ,
Sau này muôn thuở há không ai?
Sự tự khẳng định này cũng là sụăt khẳng định của cái Tôi nhưng là một cái Tôi khác hẳn với cái Tôi cá nhân tư sản chỉ biết đòi hưởng thụ mà trốn tránh trách nhiệm với đời. Đây là một thái độ sống tích cực không buông trôi theo dòng đời mà cũng không thụ động chờ đợi . Cái Tôi ở đây là một cái Tôi trách nhiệm chủ động ghé vai gánh vác trọng trách ở đời. Lẽ sống anh hùng ấy gắn gắn liền với một nhân sinh quan thật cao cả, đẹp đẽ, nó vượt ra ngoài cái danh lợi tầm thường, tuy vẫn có ước vọng thật chính đáng là để lại tiếng thơm muôn đời. - Quan niệm về vinh nhục: Trong những tác phẩm văn học khác, có lúc Phan Bội Châu đã nói: “Bôi mặt thờ kẻ thù sẽ là một vật bẩn thỉu trong vũ trụ” (Việt Nam quốc sử khảo), “Sao bằng ngẩng đầu lên làm người lỗi lạc của Tổ quốc” (Hoà lệ cống ngôn). Đó là quan niệm về nỗi nhục và vinh trong trong câu thơ này: Non sông đã chết sống thêm nhục
Ở thời đại của Phan, không ít người thấm thía cái nỗi đau, nỗi nhục mất nước này, nhưng cách nói của Phan có cái gì đặc biệt, kích động tâm can con người. Một sự khẳng định thật dứt khoát, hàm chứa nỗi tức tối khôn nguôi “Giang sơn tử hĩ”(Non sông đã chết). Một sự phủ định cũng thật dứt khoát nhưng lại hàm chứa sự nóng bỏng sôi sục của con người không cam chịu cúi đầu; phủ định cuộc sống nhục nhã để tìm đến một lẽ sống vinh quang chứ không phải để chìm đắm trong đau buồn, thất vọng. Con người Phan là thế, lúc nào cũng sôi trào bầu nhiệt huyết. - Thái độ với những thần tượng cũ: Hiền thánh còn đâu học cũng hoài
Phan Bội Châu là một nhà nho, đã từng qua cửa Khổng, sân Trình, sách vở thánh hiền đã từng thấm sâu vào tim óc. Nhưng cùng với cả một thế hệ nhà nho tâm huyết lúc này, Phan đã được tận mắt thấy sự sụp đổcủa những thần tượng cũ trước làn sóng xâm lăng của thực dân, thấy sự bất lực của những tín điều xưa trước những vấn đề có liên quan đến sự mất còn của đất nước. Hơn thế nữa, ở thời đại “gió Âu, mưa Mĩ” này, một chân trời mới mẻ đã hé rạng trước mắt các nhà nho tiên tiến như Phan Bội Châu. Cái vốn sống, vốn tri thức ấy cộng với bầu nhiệt huyết sôi trào của một con người đang hăm hở tìm đường cứu nước đã giúp Phan Bội Châu có được một ý tưởng táo bạo và dứt khoát như thế với những cái gì đã cũ kĩ, lỗi thời, không đảm đương được trách nhiệm lịch sử đối với dân tộc nữa.
- Khát vọng và tư thế trong buổi lên đường:
Từ đầu bài thơ là những lời bộc bạch đầy hào khí, đến hai câu kết này, tác giả mượn một hình ảnh thơ thật đẹp, thật hùng tráng để bày tỏ lòng mình:
Muốn đuổi theo ngọn gió dài để đi ra biển Đông, Ngàn đợt sóng bạc cùng bay lên.
Phan Bội Châu ra đi lần này là để đi “tìm hình của nước”, để tiếp cận cái chân trời mơ ước đã mở ra từ những trang sách “tân thư”. Cho nên trong hành trang Phan Bội Châu mang theo không phải chỉ có cái chí “Đem xuân vẽ lại trong non nước nhà” của bản thân, mà còn cả biêt bao kì vọng của bạn bè, đồng chí, của nhân dân. Trách nhiệm đè nặng đôi vai, nhưng tâm hồn thì như đã rứt tung xièng xích, thả sức cho khát vọng ước mơ. Những ngọn gió dài (trường phong) và muôn trùng sóng bạc cùng một lúc bay lên (Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi) đã chắp cánh cho những khát vọng, ước mơ đó. Ta có cảm giác chính nhà cách mạng, nhà thơ này đã hoá thân thành những cánh chim bằng bay vút lên giữa sóng gió biển khơi, giữa cao rộng đất trời…Hình ảnh mang tính chất anh hùng ca này là kết tinh toàn bộ cái cảm hứng lãng mạn, hào hùng, cái tư thế khoẻ khoắn, hăm hở đầy nhiệt huyết, cái quyết tâm phi thường của nhân vật trữ tình là chính tác giả trong suốt bài lưu biệt này. Cùng với sự ra đi này của Phan Bội Châu, bài thơ Xuất dương lưu biệt có thể xem như mở đầu cho một loạt anh hùng ca của thời đại mới. Phân tích
Lưu biệt khi xuất dương được viết bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn bát cú Đường luật. Hình thức cổ điển nhưng tứ thơ, khí thơ và cảm hứng lại rất hiện đại, đó là sản phẩm tinh thần của một nhà nho tiến bộ. Bài thơ thể hiện một lí tưởng sống cao đẹp, đồng thời là một bài học về đạo làm người. Bài thơ là sự nối tiếp xuất sắc cảm hứng về chí làm trai của văn học truyền thống từ thời Phạm Ngũ Lão đến Nguyễn Công Trứ : Sinh vi nam tử yếu hi kì, Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di. (Làm trai phải lạ ở trên đời, Há để càn khôn tự chuyển dời.)
Hai câu thơ đã thể hiện một lí tưởng đẹp của con người. Con người phải làm chủ bước đi của lịch sử, phải tích cực tham gia vào sự vận động của thế sự. Mở rộng ra nghĩa là con người phải chủ động trước hoàn cảnh. "Làm trai" là khẳng định chí khí của thanh niên nói chung, chứ thực ra, Phan Bội Châu không phải là người có tư tưởng bảo thủ "trọng nam khinh nữ". Trong Trùng Quang tâm sử, ông đã thể hiện tư tưởng tiến bộ của mình qua việc xây dựng một số hình tượng người phụ nữ anh hùng, có chí khí như cô Chí (Tỏ mặt anh thư). Mở đầu bằng việc khẳng định lí tưởng truyền thống, tác giả đã tạo nên tâm thế để tiếp tục khẳng định : Ư bách niên trung tu hữu ngã, Khởi thiên tải hậu cánh vô thuỳ. (Trong khoảng trăm năm cần có tớ, Sau này muôn thuở, há không ai ?)
Một lời khẳng định dứt khoát, đầy khí phách về sức mạnh của con người trước càn khôn. ý thức về cái Tôi đã được tác giả tận dụng triệt để bằng cách tạo nên thế đứng đặc biệt : sự ngang hàng giữa "tớ" và “khoảng trăm năm". Đây không phải là sự đề cao cái Tôi một cách bi quan hay cực đoan như ở một số nhà thơ mới sau này mà là sự khẳng định trách nhiệm của mỗi người, nhất là thanh niên, đối với vận mệnh dân tộc. Câu thơ cũng là lời giục giã, đánh thức tinh thần đấu tranh của con người. Là lãnh tụ cách mạng đầy tâm huyết, Phan Bội Châu là người luôn có ý thức kêu gọi mọi người cùng góp sức tranh đấu. Để đánh thức tầng lớp thanh niên những năm đầu thế kỉ XX đang bị ru ngủ bởi những trò tiêu khiển được du nhập từ phương Tây, ông đã viết Bài ca chúc tết thanh niên (1927). Chính từ ảnh hưởng của bài thơ này mà đã có rất nhiều thanh niên ra đi tìm đường cứu nước. Sau khi khẳng định chí nam nhi, nhà thơ lại nói đến trách nhiệm đối với dân tộc của mỗi người. Tấm lòng và nhân cách cao đẹp của một nhà nho, một con người chân chính đã thể hiện ở đây : Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế, Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si ! (Non sông đã chết, sống thêm nhục, Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài !)
Hai câu luận vẫn tiếp tục được viết dưới hình thức đối ngẫu quen thuộc của thơ cổ điển, nó vừa khẳng định khí tiết vừa là quyết tâm của người chiến sĩ. Vào thời buổi đó của đất nước, ra đi tìm đường cứu nước là lí tưởng đúng đắn. Lúc này, khi dân tộc đã mất tự do, chủ quyền đất nước bị xâm hại, thì việc đầu tiên, cần thiết nhất không phải ngồi đó để học thứ văn chương cử tử nữa. Câu thơ không có ý chê bai hay bài xích chuyện học đạo thánh hiền mà chỉ có ý khuyên con người ta phải sống với thời cuộc. Nước mất thì nhà tan, thân nô lệ làm sao mà thực hiện được đạo thánh hiền. Câu thơ còn thể hiện nỗi xót xa của nhà thơ. Đất nước tao loạn, dân chúng lầm than, đói khổ, đạo đức xã hội suy đồi khiến những con người có trách nhiệm với dân tộc phải suy nghĩ mà đau lòng. Trên thực tế, khi thực dân Pháp vào xâm lược đất nước ta, văn hoá phương Tây vốn rất xa lạ với người phương Đông đã ồ ạt tràn vào Việt Nam, mang theo nhiều điều mới mẻ nhưng cũng không ít rác rưởi. Nó đã gây nên sự xáo trộn ghê gớm trong nền đạo đức, luân lí xã hội. Và trở thành nỗi đau đời của các nhà nho vốn coi trọng "tam cương ngũ thường". Non sông bị chà đạp, dân tộc mất tự do, nền luân lí, đạo đức xã hội bị đảo lộn đã khiến những người có trách nhiệm với dân tộc như Phan Bội Châu đau lòng. Những từ như tử (chết), nhuế (nhơ nhuốc), si (ngu) đã thể hiện thái độ khinh thường của tác giả đối với những kẻ tự ru ngủ mình bằng cách ngồi đọc sách thánh hiền trong lúc dân tộc đang lầm than, đồng thời khẳng định khí tiết hiên ngang, bất khuất của một nhân cách cao đẹp. Đến hai câu kết thì những nét bút kì vĩ cuối cùng đã hoàn thiện hành động kiệt xuất của một cuộc đời kiệt xuất: Nguyện trục trường phong Đông hải khứ, Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi. (Muốn vượt bể Đông theo cánh gió, Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.)
Khí thế ra đi thật hùng dũng và đầy quyết tâm, tràn trề sức mạnh. Câu thơ cuối cùng khẳng định bầu nhiệt huyết đang sục sôi của người ra đi. Hướng về phía đông (cụ thể là nước Nhật), người ra đi với một quyết tâm rất cao. Bản dịch chưa dịch hết được tinh thần của nguyên tác ở ba chữ nhất tề phi. Cái mạnh mẽ và hùng dũng, đầy nhiệt huyết và cũng tràn đầy hi vọng thể hiện ở câu thơ cuối cùng này. Hình ảnh kết thúc bài thơ hào hùng, lãng mạn, thể hiện được tư thế ra đi đầy khí phách của con người trong thời đại mới. Người ra đi đã gửi gắm bao nhiêu hi vọng vào con đường mình đã chọn. Vẫn tiếp tục thể hiện chí làm trai của văn học truyền thống nhưng Phan Bội Châu đã mang đến cho chí khí ấy một sắc màu, một khí thế mới, hiện đại hơn. Bài thơ không chỉ có ý nghĩa động viên khích lệ thế hệ thanh niên lúc đó mà còn thể hiện một lẽ sống đẹp, là bài học làm người cho thanh niên tầng lớp hùng hậu và mạnh mẽ nhất mọi thời đại. Nhân vật trữ tình trong bài thơ là hình tượng đẹp về một nhà nho tiến bộ đầu thế kỉ XX với lí tưởng cứu nước, khát vọng sống, chiến đấu vì dân tộc, lòng tin và ước mơ về một tương lai tươi sáng. Lời tạm biệt đầy nhiệt huyết, tâm thế ra đi đầy hào hứng và hiên ngang, bài thơ là khúc tráng ca của một thời đại đau thương nhưng đáng tự hào của dân tộc Việt Nam. Và là tấm gương sáng ngời muôn thủa để người đời sau soi mình. Đó là những giá trị bất hủ của Xuất dương lưu biệt. Bài thơ là lời mời gọi lên đường, gửi gắm một khát vọng hoài bão mãnh liệt, khẳng định tình yêu đất nước tha thiết và thôi thúc tin h thần chiến đấu và bảo vệ Tổ quốc của tác giả Giọng điệu bài thơ tâm huyết sâu lắng mà sôi sục, hào hùng, cùng với bút pháp khoa trương thể hiện niềm lạc quan, nhiệt tình hành động cùng những tư tưởng cách mạng của tác giả. Hình ảnh thơ kỳ vĩ, lớn lao kết hợp với những từ láy gây ấn tượng mạnh đã làm nổi bật được chí vá trời, lấp biển của nhà thơ Phan Bội Châu. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Phân tích bài thơ "Lưu biệt khi xuất dương"
|
|
|
|
Bài tham khảo:Tên tuổi ông gắn liền với các tổ chức yêu nước như Hội Duy Tân, phong trào Đông Du, Việt Nam Quang Phục hội…Tên tuổi Phan Bội Châu còn gắn liền với hàng trăm bài thơ, hàng chục cuốn sách, một số bài văn tế và vài ba vở tuồng chứa chan tinh thần yêu nước. Phan Bội Châu câu thơ dậy sóng (Tố Hữu). Năm 1900, Phan Bội Châu đậu giải nguyên khoa thi Hương Trường Nghệ. Năm 1904, ông sáng lập ra Hội Duy Tân, một tổ chức yêu nước. Năm 1905, ông dấy lên phong trào Đông Du. Trước lúc lên đường Đông Du, qua Trung Hoa, Nhật Bản để cầu ngoại viện với bao hoài bão tung hoành, ông đã để lại cho các đồng chí bài thơ Xuất dương lưu biệt. Có thể nói, bài thơ này như một mốc son chói lọi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và thơ văn Phan Bội Châu. Xuất dương lưu biệt được viết bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, là khúc tráng ca biểu lộ tư thế, quyết tâm hăm hở, và những ý nghĩ cao cả mới mẻ của chí sĩ Phan Bội Châu trong buổi đầu xuất dương cứu nước. Hai câu đề tuyên ngôn về chí hướng, về lẽ sống cao cả: Sinh nam tử yếu hi kì, Khẳng hứa càn khôn tự chuyển đi.
Tự hào mình là đấng nam nhi thì phải sống cho ra sống, mong muốn làm nên điều lạ (tử yếu hi kì). Suy rộng ra, là không thể sống tầm thường, không thể sống một cách thụ động để cho trời đất (càn khôn) tự chuyển dời một cách vô vị, nhạt nhẽo. Câu thơ thể hiện một tư thế, một tâm thế rất đẹp về chí nam nhi, tự tin ở đức độ, tài năng của mình, muốn làm nên sự nghiệp to lớn, xoay chuyển đất trời, như ông đã nói trong một bài thơ khác:
Dang tay ôm chặt bồ kinh tế, Mở miệng cười tan cuộc oán thù.
Gắn câu thơ với sự nghiệp cách mạng vô cùng sôi nổi của Phan Bội Châu ta mới cảm nhận được cái khẩu khí anh hùng của nhà chí sĩ vĩ đại. Đấng nam nhi muồn làm nên điều lạ ở trên đời, từng nung nấu và tâm niệm như trong một vần thơ cổ: Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch, Lập thân tối hạ thị văn chương. (Tùy biên thi thoại – Viên Mai)
(Bữa bữa những mong ghi sử sách, Lập thân xoáng nhất ấy văn chương)
Đấng nam nhi muốn làm nên điều lạ ở trên đời ấy có một bầu máu nóng sôi sục: Tôi được trời phú cho bầu máu nóng cũng không đến nỗi ít, lúc còn bé đọc sách của cha tôi, mỗi khi đến những chỗ nói người xưa chịu chết để thành đạo nhân, nước mắt dầm đìa rỏ xuống ướt đẫm cả giấy…(Ngục trung thư) Phần thực ý thơ được mở rộng, tác giả tự khẳng định vai trò của mình trong xã hội và trong lịch sử: Ư bách niên trung tu hữu ngã, Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy.
Ngã là ta; tu hữu ngã nghĩa là phải có ta trong cuộc đời một trăm năm (bách niên trung). Câu thơ khẳng định biểu lộ niềm tự hào lớn lao của kẻ sĩ yêu nước trong cảnh nước mất nhà tan. Thiên tải hậu là nghìn năm sau, là lịch sử của đất nước và dân tộc há lại không có ai (để lại tên tuổi) ư? Hai câu 3, 4 đối nhau, lấy cái phủ định để làm nổi bật điều khẳng định. Đó là ý thơ sâu sắc thể hiện vai trò cá nhân trong lịch sử: sẵn sàng gánh vác mọi trách nhiệm mà lịch sử giao phó. Ý tưởng đẹp này là sự kế thừa những tư tưởng vĩ đại của các vĩ nhân trong lịch sử: Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội có, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng (Trần Quốc Tuấn). - Nhân sinh tự cổ thùy vô tử, Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh (Văn Thiên Tường)
Lấy cái hữu hạn bách niên của một đời người đối với cái vô hạn thiên tải của lịch sử dân tộc, Phan Bội Châu đã tạo nên một giọng thơ đĩnh đạc, hào hùng biểu lộ quyết tâm và khát vọng trong buổi lên đường. Vì thế, trên bước đường cách mạng giải phóng dân tộc, trải qua muôn vàn thử thách và nguy hiểm, ông vẫn bất khuất, lạc quan:
Thân ấy hãy còn, còn sự nghiệp, Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu! (Cảm tác trong nhà ngục Quảng Đông)
Phần luận, tác giả nói về sự sống và cái chết, nói về đường công danh. Đây là một ý tưởng rất mới khi ta soi vào lịch sử dân tộc những năm dài đen tối dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Khi non sông đã chết, đã bị ngoại bang xâm chiếm, giày xéo thì thân phận dân ta chỉ là kiếp trâu ngựa, có sống cũng nhơ nhuốc nhục nhã. Trong hoàn cảnh ấy có nấu sử sôi kinh, có chúi đầu vào còn đường kinh sử cũng vô nghĩa. Sách vở của Thánh hiền liệu có ích gì trong sự nghiệp cứu nước cứu nhà: Non sông đã chết sống thêm nhục, Thánh hiền còn đâu học cũng hoài
Phan Bội Châu đã đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết. Ông nói bằng tất cả nhiệt huyết và chân thành. Ông nhắc nhở mọi người phải đoạn tuyệt với lối học cử tử, không thể đắm chìm trong vòng hư danh, mà phải hăm hở đi tìm lí tưởng cao cả. Trong Bài ca chúc tết thanh niên viết vào dịp Tết năm 1927, cụ thiết tha kêu gọi thanh niên: Ai hữu chí từ nay xin gắng gỏi Xếp bút nghiên mà tu dưỡng lấy tinh thần Đừng ham chơi, đừng ham mặc, đừng ham ăn Dụng gan óc lên đánh tan sắt lửa Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ…
Sống như thế nào là sống đẹp. Sống như thế mới mong làm nên điều lạ ở trên đời, mới tự khẳng định được: Trong khoảng trăm năm cần có tớ. Phần kết là sự kết tinh của một hồn thơ bay bổng đượm sắc màu lãng mạn: Nguyên trục trường phong Đông hải khứ, Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi
Thơ văn Phan Bội Châu là thơ văn tuyên truyền, cổ vũ lòng yêu nước, kêu gọi lòng căm thù giặc. Thơ văn Phan Bội Châu sở dĩ trở thành những bài ca ái quốc vì thấm đượm cảm xúc, sục sôi nhiệt huyết, có nhiều hình tượng đẹp nói về cảm hứng yêu nước và lí tưởng anh hùng. Hai câu kết này là một ví dụ: Trường phong – ngọn gió dài, Thiêu trùng bạch lãng – ngàn lớp sóng bạc, là hai hình tượng kì vĩ. Chí khí của người chiến sỹ cách mạng được diễn tả qua các vị ngữ: Nguyện trục (mong theo đuổi) và nhất tề phi (cùng bay lên). Cái không gian mênh mông mà nhà chí sĩ mong vượt qua là Đông hải. Nếu hai thanh trắc cuối câu 7 (Đông Hải khứ) làm cho âm điệu thắt lại, nén lại thì hai thanh bằng cuối câu 8 (nhất tề phi) lại làm cho âm điệu cất lên, bay lên. Âm hưởng trầm bổng ấy cũng góp phần thể hiện quyết tâm mạnh mẽ lên đường cứu nước cùa Phan Bội Châu. Ở đây nội lực, bản lĩnh chiến đấu và khẩu khí cùa người chiến sĩ có sự hòa hợp, gắn bó và thống nhất. Sự nghiệp cách mạng của Phan Bội Châu đã cho hậu thế biết rõ và cảm phục điều tiên sinh đã nói ở hai câu kết. Xuất dương lưu biệt là bai thơ tuyệt tác đầy tâm huyết. Bài thơ là tiếng nói tự hào của nhà chí sĩ giàu lòng yêu nước thương dân, dám xả thân vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Một giọng thơ đĩnh đạc hào hùng, tráng lệ nhất là ở hai câu kết. Bài thơ thể hiện một cách sâu sắc nhất cảm hứng yêu nước và lí tưởng anh hùng của nhà chí sĩ vĩ đại Phan Bội Châu. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Vẻ đẹp bi tráng của người nghĩa sĩ Cần Giuộc
|
|
|
|
Bài tham khảo:Người nông dân Việt Nam yêu nước chống ngoại xâm đã xuất hiện từ rất lâu, ít nhất cũng trên mười mấy thế kỷ nay. Nhưng trong văn học, hình ảnh người nông dân ấy chỉ thực sự xuất hiện vào nửa cuối thế kỷ XIX với bài văn “ Tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu đã tạo nên bức tượng đài nghệ thuật đầu tiên về người nông dân – nghĩa sĩ Việt Nam. Đó là hình tượng rất đẹp, rất chân thực đầy tính bi tráng, bi thương mà hào hung như cuộc chiến đấu bi tráng mà nhân dân Việt Nam đã tiến hành suốt nửa sau thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX, vì cuộc sống, vì độc lập, tự chủ của Tổ quốc mình. Nguyễn Đình Chiểu đã rất có lý, rất sâu sắc khi mở đầu khúc bi ca của mình: Hỡi ôi! Súng giặc đất rền: lòng dân trời tỏ.
Quả là, qua cuộc đấu tranh này, qua cái thử thách khắc nghiệt này, bản chất tốt đẹp, tấm lòng yêu nước của những nông dân bình thường này, vẻ đẹp thực sự của tâm hồn họ được bộc lộ một cách trọn vẹn. Họ vẫn có đấy, vẫn sống đấy, nhưng sống trong thầm lặng của sự quên lãng. Nguyễn Đình Chiểu, với sự cảm thông cao độ, nhận ra rằng cuộc sống của họ đã từng vất vả xiết bao: Nhớ linh xưa: Côi cút làm ăn, toan lo nghèo khó.
Bao nhiêu lượng thông tin chứa đựng trong tám tiếng ngắn ngủi ấy đã nói với chúng ta rất đầy đủ về tình cảnh của người nông dân Cần Giuộc, người nông dân lục tỉnh, cũng là người nông dân Việt Nam ngày đó. Bóng dáng của họ, nhỏ bé và cô đơn trong cuộc sống, sự khắc nghiệt và những tai họa trong thiên nhiên, từ xã hội, như hiện lên rõ mồn một qua từng chữ. Tưởng như, chỉ chừng ấy lo toan vất vả cũng quá đủ đối với họ, tưởng như họ, những người nông dân vất vả ấy, chẳng còn có thể nghĩ gì thêm, lo toan gì thêm ngoài những “ toan lo nghèo khó” vốn đã quá lớn lao ấy. Thế mà không, quân xâm lược đã xâm chiếm đất nước, đã đến tận xóm làng, đã đến tận ngôi nhà của họ. Và, những con người đang cúi xuống ấy bỗng đứng phắt dậy vươn vai, và họ chợt trở thành người khổng lồ như chú bé làng Gióng mấy nghìn năm xưa khi chợt nghe lời truyền của sứ giả. Nhưng có một điều cơ bản rất khác xưa là tiếng rao truyền cứu nước không phải phát đi từ cung điện nhà vua mà đã được phát đi từ chính trái tim của những người nông dân Cần Giuộc. Nó chính là lòng căm thù sôi sục vì hành động cướp nước: Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ. Bữa thấy bòng bong che trắng lốp: muốn tới ăn gan: ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.
Như một phản ứng hạt nhân tất yếu, lòng căm thù giặc cao độ đã làm nảy sinh một khát vọng cao độ: khát vọng đánh giặc. Đó là ước muốn hoàn toàn tự nhiên và hoàn toàn tự nguyện: Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình: Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc rat ay bộ hộ.
Người nông dân của Nguyễn Đình Chiểu thật đã khác hoàn toàn với người nông dân chỉ trước đó không bao lâu.” Bước chân xuống thuyền, nước mắt như mưa” khi phải sung làm lính đi biên thú phương xa để bảo vệ cương thổ của nhà vua. Tự nguyện chiến đấu, ấy là nét bản chất nhất trong hành động của người nghĩa sĩ thực sự. Phải chăng đó là sự tiếp tục giữa nghĩa sĩ Cần Giuộc đánh ngoại xâm với chàng tráng sĩ Lục Vân Tiên đánh cướp mà động cơ duy nhất: Nhớ câu kiến ngãi bất vi Làm người thế ấy cũng phi anh hùng.
Trong việc nghĩa, không có việc nào lớn hơn việc cứu nước. Thấy việc nghĩa thì phải làm, làm một cách vô tư, không vụ lợi, không chần chừ, không cần đợi có đủ điều kiện mới làm. Đó là chỗ bi kịch của người nông dân Cần Giuộc, đó cũng là chỗ hùng ca của người nghĩa sĩ Cần Giuộc. Bi kịch vì: Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin qua như trời hạn trông mưa.
Họ bắt đầu cuộc chiến đấu vào lúc lẽ ra triều đình phong kiến cùng quan quân của họ đã phải tiến hành cuộc chiến đấu ấy từ lâu nhưng lại “ án binh bất động” một cách khó hiểu. Bi kịch còn cho họ là những người: Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung, chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.
Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm: tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó. Bước vào chỗ sống chết của chiến trường mà những con người ấy chỉ mang theo những trang thiết bị chỉ đủ để làm những người cày ruộng. Trước giặc dữ là những tên lính nhà nghề có đủ “ tàu sắt tàu đồng”, đạn to, đạn nhỏ, họ chỉ là những người nông dân không có kiến thức gì về trận mạc, chỉ có “ một manh áo vải”, “ một ngọn tầm vông”, chỉ có “ lưỡi dao phay”. Cuộc chiến đấu mới chênh lệch làm sao! Kết cục cuộc chiến đấu ấy như thế nào thì đã rõ rang rồi. Đó là tấn bi kịch của những người nghĩa sĩ Cần Giuộc, cũng là tấn bi kịch của cuộc sống nước ta vào thời kỳ nghiệt ngã ấy, tấn bi kịch đã đưa đến cái họa mất nước kéo dài cả thế kỷ. Nhưng chính trong cái bi kịch ấy, bản hùng ca của cuộc sống đã cất lên. Hùng ca trước hết là sự ngoan cường của những con người quyết chiến thắng, vượt lên trên nỗi lo thất bại để chiến thắng, lấy tinh thần xả thân vì nghĩa để bù đắp hết mọi sự thiếu hụt, chênh lệch của mình so với kẻ thù: Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không, nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có, Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ.
Thật là phấn chấn, thật là hào hùng, thật là hả dạ. Đúng là họ đã chiến đấu như những người lính tuyệt vời dũng cảm. Ở đây, sức mạnh tinh thần đã phát huy đến mức tối đa và trong một chừng nào đó, đã tỏ rõ hiệu quả của nó trước sức mạnh của chiến thuật, của vũ khí, trang bị: Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia: gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rơi đầu quan hai nọ. …Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh…
Trong văn chương Việt Nam, cho đến Nguyễn Đình Chiểu, quả chưa hề có một bức tranh hào hùng như thế về tư thế chiến đấu của người lính áo vải. Hình ảnh người nông dân ở đây là sự kết tinh và thăng hoa ở mức độ cao nhất những gì vốn là bản chất của họ. Trong những giây phút tuyệt vời ấy, người nông dân Cần Giuộc đã đi vào vĩnh cửu. Quả Nguyễn Đình Chiểu đã tạc nên một bức tượng đài của người nông dân – nghĩa sĩ Cần Giuộc. Nhưng đây không phải là tượng đài của một người, mà của nhiều người, của một tập thể anh hùng. Không có cái tập thể ấy, không làm sao có được sự hòa hợp tuyệt đẹp, cái khí thế bừng bừng áp đảo hiểm nghèo, áp đảo cái chết, với những “ đạp rào lướt tới”, “ xô cửa xông vào”, với những “ kẻ đâm ngang người chém ngược”, bọn hè trước, lũ ó sau như thế được. Bức tượng đài của Nguyễn Đình Chiểu chỉ có một tên gọi chung là “ nghĩa sĩ Cần Giuộc”, còn mỗi người nghĩa sĩ trên đó đều vô danh. Họ không hề tìm cho mình một điều gì riêng mình khi chiến đấu. Cái duy nhất họ gửi lại cho đời, điều mà Nguyễn Đình Chiểu nêu lên như là một tiêu chí chung bên dưới bức tượng đài của họ, ấy là triết lý sống. Chết vinh hơn sống nhục. Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh: hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ. Hoàn thành bức tượng của mình, Nguyễn Đình Chiểu đã để một phần cuối cho những lời ca ngợi, thương tiếc và thắp những nén hương kính trọng:
Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân: cây hương nghĩa sĩ thấp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.
Cuộc tấn công của mấy chục nghĩa quân vào đồn Cần Giuộc của thực dân Pháp năm 1863 là cuộc tấn công đầu tiên của quân dân Việt Nam mở đầu cho cuộc kháng chiến chống Pháp. Số lượng thiệt hại mà quả thực họ tạo nên cho cuộc kháng chiến, cho lịch sử dân tộc, bằng lòng yêu nước thiết tha vô tư của họ, thì to lớn vô cùng. Họ sứng đáng được tạc thành tượng đài để đi vào bất tử. Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ của người nghệ sĩ nhân dân tạc nên bức tượng đài ấy. Năm 1859, giặc Pháp đánh chiếm Gia Định, Pháp đánh úp Cần Giuộc, một thị trấn cách Gia Định 23 km về phía Tây Nam. Ngày 16 tháng 12 năm 1861, nghĩa quân tập kích đồn giặc, hy sinh vài mươi người. Nguyễn Đình Chiểu dùng ngòi bút của của mình truy điệu những nghĩa quân hy sinh. Qua bài tế văn này, lần đầu tiên hình ảnh người nông dân Việt Nam đi vào văn học thành văn với tất cả vẻ đẹp và tầm vóc lịch sử vốn có của mình. Ta hãy cùng phân tích hình tượng người nông dân nghĩa sĩ qua bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu – một hình tượng nông dân bình thường mà vĩ đại, vì nước hy sinh, rực rỡ nét sử thi, làm rung động tâm hồn người đọc mọi thế hệ. Những người nghĩa sĩ ấy xuất thân là nông dân nghèo khó. Câu văn mở đầu giới thiệu cuộc đời họ là cui cút, khép lại là nghèo khó. Cui cút làm ăn., toan lo nghèo khó.
Trọn vẹn trong đó là hình ảnh những người làm ăn cần mẫn với những lo toan nhọc nhằn. Họ cũng chất phác, thật thà. Chưa quen cùng ngựa, đâu tới trường nhung, chỉ biết ruộng trân, ở trong làng bộ. Những con người ấy suốt cuộc đời tầm mắt chưa nhìn qua khỏi lũy tre làng, quanh năm cặm cụi với ruộng đồng, con trâu lưỡi cày. Câu kế tiếp liệt kê những công viêc nặng nhọc phủ vây con người lam lũ này: Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm:
Họ không biết chút gì về chiến trận: Tập khiên, tập sung, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.
Tuy nhiên, khi giặc Pháp đánh chiếm quê hương Nam Bộ, những người nông dân hiền lành, tăm tối ấy, dù hoàn toàn xa lạ với trận chiến binh đao, bỗng chốc trở thành người chiến sĩ anh hùng đánh Tây. Đó là sự phi thường với bản thân họ, nhưng cũng là lẽ bình thường khi chứng kiến cảnh nước mất nhà tan. Thực dân Pháp tiến công Nam Bộ đã hơn muoi tháng. Người dân mong chờ triều đình đánh giặc, nhưng trông tin qua như trời hạn trông mưa. Lúc đầu nghe thấy kẻ thù hôi tanh, mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, nên họ ghét thói xâm lăng mọi rợ đó như nhà nông ghét cỏ, thấy cỏ ở ruộng lúa là phải nhổ cho sạch. Khi kẻ thù hiện hình cụ thể trước mắt, toàn màu gay gắt, các lều trại của chúng che trắng lốp, những tàu thuyền của chúng nhả khói đen xì, lòng căm ghét chuyển thành căm thù, nên họ muốn tới ăn gan, muốn ra cắn cổ. Những động từ mạnh mẽ “ muốn ăn” muốn cắn” diễn tả mức độ căm thù lên đến tột đỉnh. Bữa thấy bong bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan, ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ, muốn tới ăn gan: ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.
Bên cạnh sự căm thù của tình cảm là sự căm thù của lý trí. Giặc Pháp lộ nguyên hình là những kẻ mượn chiêu bài truyền đạo, khai hóa ở nước ta nhưng thực chất là xâm lược, là một lũ dê bán chó. Đất nước văn hiến của ta không phải là vùng đất vô chủ mà chúng giành giật, mặc tình chém rắn đuổi hươu, cho nên dân ta há để chúng yên, thiên lý chói lòa đâu dung tha bọn xâm lược. Cả tình cảm lẫn lý trí đều nỗi giận, và do ý thức trách nhiệm, người nông dân tự nguyện đứng lên đánh giặc. Họ ra sức, ra tay với khí thế hào hùng, đoạn kinh, bộ hổ: Trong trận tập kích đồn Cần Giuộc này, họ là những người dũng sĩ công đồn. Họ không đợi tập rèn mười tám ban võ nghệ, cũng không chờ bày bố chin chục trận binh thư. Những người nông dân ấy cũng không chuẩn bị quân trang, nào đợi mang bao tấu bầu ngòi, chi nài sắm dao tu nón gõ. Vũ khí chỉ là ngọn tầm vông vạt nhọn, con cúi làm mồi lửa, lưỡi dao phay, vốn là những vật dụngntrong sinh hoạt hàng ngày: nhưng khi ở trong tay người chiến sĩ, tất cả đều trở thành vũ khí vô cùng lợi hại, đốt xong nhà dạy đạo kia, chem. Rơi đầu quan hai nọ. Biện pháp đối lập ( giặc thì đạn nhỏ, đạn to, tàu sắt, tàu đồng, còn ta thì ngọn tầm vông, lưỡi dao phay) đã cực tả quyết tâm chiến đấu của người nông dân nghĩa sĩ, dù kẻ thù có sức mạnh quan sự hơn ta gấp nhiều lần. Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không, nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xôngvào liều như mình chẳng có .
Kẻ đâm ngang người chém ngược, làm chi mã tà, ma ní kinh hồn, bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng sung nổ.
Nhiều cụm động từ diễn tả những động tác liên tục chống đỡ, công thủ mọi hướng, đạp rào lướt tới, xô của xông vào, đâm ngang, chém ngược, hè trước, ó sau. Từng vế câu đối nhau chan chat, quyết liệt. Hình ảnh những người nghĩa quân trong giờ phút căng thẳng cao độ của trận đánh được mô tả cực kỳ sinh động, thể hiện lòng dũng cảm tuyệt vời, sự hy sinh gan dạ của người nghĩa sĩ. Sự hy sinh của họ là một bi kịch, và tác giả vô cùng cảm kích: Những lăm lòng nghĩa lâu dùng: đâu biết xác phàm vội bỏ!.
Nhưng đây là một bi kịch cao cả thiêng liêng của những người chiến sĩ da ngựa bọc thây, những anh hùng vô danh nào đợi gươm hùm treo mộ. Cái chết của nghĩa quân gieo khắp không gian một vẻ u sầu, nơi người người một nỗi tiếc thương đau xót. Biện pháp ẩn dụ này cỏ ây mấy dặm sầu giăng và hình ảnh tả thực già trẻ hai hàng lụy nhỏ đã nói lên tình cảm bi thương đó. Càng thương hơn khi người ta hiểu được động cơ hy sinh vô cùng cao quý của nghĩa quân. Vì nghĩ tới tấc đất ngọn rau của quên hương, hạt cơm manh áo của nhân dân, không chịu làm nô lện, nên quyết tâm đánh giặc, dù phải hy sinh. Thà thác mà đặng câu định khái, về theo tổ phụ cũng vinh.
Cũng cần phân tích rõ trách nhiệm về cái chết của nghĩa quân. Dĩ nhiên là do giặc xâm lược, mắc mớ chi ông cha nó, nhưng cũng do triều đình hèn nhát, do bọn người theo dân tả đạo, ở lính Mã tà…Người nghĩa sĩ hy sinh thì bớt được mối hờn được trả, tấm lòng son sang mãi như ánh trăng rằm và phận bạc của họ cũng sẽ phôi pha, trôi theo ding nước đổ. Nhà thơ còn nghĩ đến số phận của quê hương Nam Bộ mà nhỏ lệ đau thương. Tiếng khóc của tác giả có bi thương nhưng không bi lụy.Đây là dòng nước mắt khóc người anh hùng như đang long lanh hình ảnh những con người nghìn năm tiết rỡ. Và sống đánh giặc thác cũng đánh giặc nên hồn thiêng nghĩa sĩ hay theo giúp cơ binh để đánh đuổi giặc thù ra khỏi bờ cõi. Lời khấn nguyện như đang thôi thúc những người đang sống hãy tiếp tục đứng lên chiến đấu diệt thù. Binh tướng nó hãy đóng song Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen, ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứ đặng một phường con đỏ. Tóm lại, qua bài văn tế này, người nông dân đã trở thành người anh hùng chân đất làm nên lịch sử. Một mặt họ vẫn lam lũ bé nhỏ, côi cút làm ăn, nhưng mặt khác, họ rất anh hùng. Anh hùng vì họ dám đánh giặc, dù chỉ với ngọn tầm vông, lưỡi dao phay, manh áo vải. Họ còn anh hùng hơn nếu so với thái độ sợ giặc, hàng giặc của triều đình. Quả thật người nông dân nghĩa sĩ đã gánh trên vai cả gánh nặng lịch sử “ một thời khổ nhục nhưng vĩ đại”. Sưu tầm
|
|