|
|
|
|
giải đáp
|
Trong tác phẩm " nhìn về vốn văn hoá dân tộc" của Trần Đình Hượu viết "
|
|
|
|
Gợi ý làm bài
Vượt hành trình gian nan để đổ về đại dương, dòng sông luôn khởi khởi
nguồn từ đất liền, chảy qua bao vùng miền để hoà vào biển lớn. Dòng sông
văn hoá Việt Nam cũng khởi nguồn từ quá khứ 4000 năm lịch sử, chảy
trong thời gian qua các miền văn hoá kế thừa và sáng tạo kết tụ lại
thành những giá trị văn hoá Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc. Nhưng "con
đường hình thành bản sắc dân tộc của văn hoá không chỉ trông cậy vào sự
tạo tác của chính dân tộc đó mà còn trông cậy vào khả năng chiếm
lĩnh,khả năng đồng hoá các giá trị văn hoá bên ngoài"- quan điểm đó của
Trần Đình Hượu đã đặt ra trong lòng độc giả những trăn trở, đặc biệt
trong hiện tượng tiếp nhận văn hoá ngoại lai của giới trẻ hiện nay.
Văn hoá Việt Nam hình thành sớm, xuất hiện từ những ngày công xã nguyên
thuỷ, phát triển qua nền văn minh lúa nước, hình thành những loại hình
văn hoá dân gian từ sự chạm khắc của miền truyền thuyết ,ca dao, cổ tích
với những tập tục ăn trầu, búi tóc từ thủa cổ xưa.
"Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi
Đất nước có trong cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể
Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
Tóc mẹ thì bới sau đầu...."
Và cùng với sự ra đời của nhà nước quân chủ chuyên chế, xã hội phong
kiến đã mang đến cho nền văn hoá Việt nam những dấu ấn đặc sắc mang đậm
tính chất Á Đông. Người Việt Nam có quyền tự hào về vốn văn hoá đậm đà
thuần Việt cả trong những lĩnh vực Văn học, nghệ thuật, kiến trúc, hội
hoạ , điêu khắc...Với nền văn học dân gian phong phú thể loại (truyền
thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, thơ nôm, sử thi....) mà đỉnh cao
là thể thơ lục bát, vẫn được sử dụng đến ngày nay. Kiến trúc Việt Nam
với những mái đình cổ kính, thấp thoáng ẩn hiện dưới những gốc đa, sau
những rặng tre xanh, bến nước, sân đình...Các làn điệu dân ca như ca
trù, quan họ, cải lương.... hay những nghệ thuật hội hoạ dân gian Đông
Hồ....có thể coi là những thành quả đã có làm cơ sở xây dựng một nền văn
hoá phong phú đa dạng đậm đà bản sắc dân tộc VN.
Nhưng "con đường hình thành bản sắc dân tộc đâu chỉ trông cậy vào khả
năng tạo tác " tức là sáng tác, kế thừa và phát huy những gì đã có mà
còn phải " trông cậy vào khả năng chiếm lĩnh, sự đồng hoá những giá trị
văn hoá bên ngoài". Phải chăng, hành trình phát triển văn hoá từ sông ra
biển chính là sự đồng hành của quá trình giao lưu và tiếp biến văn hoá-
cũng chính là khả năng đồng biến và chiếm lĩnh những giá trị văn hoá
bên ngoài? Khả năng chiếm lĩnh và đồng hoá phải chăng là khả năng tiếp
thu hội nhập nhiều nền văn hoá, khả năng đón nhận những ảnh hưởng của
nền văn minh văn hoá lớn, khả năng tiếp thu chủ động, biến những cái
ngoại lai thành cái của mình và có sàng lọc. Do bối cảnh của lịch sử với
bao thăng trầm, trwocs những dòng chủ lưu về văn hoá ồ ạt theo con
đường cai trị của phong kiến thực dân xâm nhập vào văn hoá Việt Nam một
cách có hệ thống thì việc "chiếm lĩnh" và" đồng hoá" để ko bị chiếm lĩnh
và đồng hoá lại là vô cùng cần thiết, nó quyết định tới sự tồn tại
riêng rẽ của một nền Văn hoá Việt ko thể hoà lẫn. "Truyện Kiều" của
Nguyễn Du cũng là một cách tiếp thu có chọn lọc những giá trị của văn
học Trung Hoa từ "Kim Vân Kiều truyện" của Thanh Tâm Tài Nhân để trở
thành đỉnh cao của văn học dân tộc, sự chuyển thể từ thể loại truyện
sang truyện thơ ( Nôm) là một sự đồng hóa hết sức sáng tạo và tích cực
của đại thi hào Nguyễn Du. Các thể thơ nôm đường luật cũng là hệ quả của
quá trình tiếp thu và lĩnh hội có chọn lọc như thế. Kiến truc văn hoá
đình chùa ảnh hưởng từ Phật giáo từ Trung Quốc hay Ấn Độ nhưng vẫn mang
dáng vẻ kiến trúc Việt Nam cũng là một tminh chứng diệu kì cho khả năng"
chiếm lĩnh" và" đồng hoá" những giá trị Văn hoá bên ngoài.
Cùng với sự đổi thay của lịch sử, bước sang kỉ nguyên hội nhập với bao
thay đổi của nền kinh tế thị trường, trước ngưỡng cửa của sự xâm nhập
văn hoá với quy mô toàn cầu thì nhận định của Giáo sư Trần Đình Hượu đặt
ra bao suy tư cho giới trẻ về trách nhiệm của bản thân trong thời đại
mới. Trước dòng chảy xâm nhập ào ạt của nền văn hoá ngoại lai từ các nền
văn minh trên thế giới, một bộ phận thanh niên Việt Nam đã biết nắm bắt
lấy thời cơ, phát triển nền văn hoá dân tộc vốn đã giàu đẹp ngày càng
văn minh và tiến bộ hơn, Sự tiếp thu có hệ thống các hệ tư tưởng văn hoá
tây phương với những phong cách nghệ thuật thơ văn của Pháp, Italia,
Anh, hay Đức, các công trình kiến trúc đậm dấu ấn cổ điển hay hiện đại
của những quốc gia này cũng được tiếp thu và thiết kế bài bản. Chính sự
năng động và sáng tạo đó đã góp phần làm văn minh hơn, giàu có hơn cho
bản sắc văn hoá Việt Nam, tạo nên sự phối trộn hài hoà giữa cũ và mới,
cổ điển và hiện đại, truyền thống và cách tân. Sự giao lưu và tiếp biến
được coi là "nguồn gen tiến hoá" cho sự phát triển của văn hoá dân tộc
trong giai đoạn giao lưu và hội nhập. Nền văn hoá Internet, văn hoá
Online, văn hoá Game, hay sự thay đổi của trào trào lưu thời trang trên
thế giới góp phần lột xác hình ảnh đất nước Việt Nam vốn vẫn được biết
đến là nền văn hoá nông nghiệp với hình ảnh "con trâu đi trước cái cày
theo sau". Để làm đwocj điều đó, không chỉ đòi hỏi người thanh niên Việt
Nam ph ải năng động sáng tạo biết nắm bắt du nhập một cách có chọn lọc
mà còn đặt ra vấn đề về sự bảo tồn những nét văn hoá truyền thống cũ,
hoà nhập nhưng ko hoà tan- đó cũng là một thách thức đầy khó khăn, là
những chướng ngại vật trong hành trình dòng chảy tiếp biến, hội nhập.
Bởi bên cạnh những cá nhân, tập thể tích cực cũng tồn tại không ít những
thanh niên sống thiếu lí tưởng, ko có MĐ rõ ràng, du nhập văn hoá một
cách tràn lan máy móc, cả những nền văn hoá vốn ko mang nhiều giá trị
nhân văn thẩm mĩ chỉ để thoả mãn nhu cầu sống gấp, sống sành điệu của
một bộ phận giơí trẻ ngày nay. Đó là bộ phận có biểu hiện sống ngoại lai
mất gốc, xa rời văn hoá truyền thống dân tộc, bị hoà tan một cách hoàn
toàn trong dòng lũ hội nhập mà tự đánh mất chính mình. Một số khác lại
có tư tưởng bảo thủ, không chiêm slĩnh, đồng hoá văn hoá ngoại lai, chỉ
khư khư chăm chút cho cái vốn văn hoá xưa của dân tộc, không chịu du
nhập, đổi mới, Bất giác, ở họ gợi lên hình ảnh về biển Chết, suốt đời
chỉ khư khư khép mình, ko nhận nước từ bất kì dòng chảy nào nên chưa ở
đâu sự sống của các loài sinh vật lại nghèo nàn đến thế.Có thể nói, cả 2
đối tượng trên đều có ảnh hưởng tiêu cực, là bước cản trở trên con
đường xây dựng một nền văn hoá tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Ý thức được trách nhiệm và sứ mệnh của bản thân đòi hỏi mỗi thanh niên
của thời đại mới cần có thái độ và nhận thức đúng đắn về trách nhiệm,
xác định lập trường tư tưởng vững vàng, để phát huy mặt mạnh, hạn chế
mặt còn thiếu sót củavăn hoá dân tộc, tích cực quảng bá văn hoá dân tộc
tới bạn bè quốc tế, có thái độ tôn trọng đúng mực và chiếm lĩnh đồng hoá
hiệu quả nền văn hoá ngoại lai, Điều đó là một ẩn số chỉ được giải
quyết bằng bất đẳng thức hành động của mỗi con người.
Có một câu hỏi khá phổ biến khi ta đặt chân lên xứ người" Bạn đến từ
đâu". Hãy tự hào trả lời 2 tiếng" Việt Nam" và giới thiệu cho họ về đất
nước hình chữ S- khi bạn đã tự tin về nền văn hoá đậm đà bản sắc của
mình! Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Tìm hiểu: "Nhìn về vốn văn hóa dân tộc"
|
|
|
|
Bài tham khao:NHÌN VỀ VỐN VĂN HÓA DÂN TỘC (Trần Đình Hượu)
A. Kiến thức cơ bản 1.TÁC GIẢ: Trần Đình Hượu(1926-1995) quê ở Võ Liệt-Thanh Chương-Nghệ An. Ông chuyên nghiên cứu các vấn đề lịch sử tư tưởng và văn học Việt Nam trung cận đại. Năm 2000 được tặng Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ. 2.TÁC PHẨM: a.Thể loại: Nghị luận xã hội(văn bản thông dụng) b.Xuất xứ: Trích từ phần II, bài Về vấn đề tìm đặc sắc văn hóa dân tộc, in trong cuốn Đến hiện đại từ truyền thống. c.Bố cục: B. Phân tích I.Nêu và giới hạn vấn đề. Ngắn gọn, khiêm tốn, đúng mực: một số nhận xét về vài ba mặt của cái vốn văn hóa dân tộc; không phải cái hình thành vào thời kì định hình mà là cái ổn đinh dần, tồn tại cho đén trước thời cận- hiện đại. II. Đặc điểm vốn văn hóa dân tộc. 1.Luận điểm 1: “ Giữa các dân tộc, chúng ta không thể tự hào là nền văn hóa của chúng ta đồ sộ có những cống hiến lớn lao cho nhân loại, hay có những đặc sắc nổi bật” Luận điểm mới mẻ khách quan mang tính khoa học được chứng minh bằng những luận cứ xác thực, thuyết phục: Thần thoại không phong phú Tôn giáo, triết học không phát triẻn. Không có một ngành khoa học kĩ thuật… phát triển đến thành có truyền thống Nghệ thuật không phát triển đến tuyệt kĩ. Yêu thơ nhưng không coi đó là sự nghiệp. Chưa có ngành văn hóa nào trở thành đài danh dự thu hút, quy tụ cả nền văn hóa. Nguyên nhân: Sự hạn chế của trình độ sản suất, đời sống xã hội. Văn hóa của dân nông nghiệp định cư. Không có nhu cầu lưu chuyển, trao đổi, đô thị không được kích thích phát triển. 2.Luận điểm 2: Trong lối sống, ứng sử: coi trọng cái hiện tại và tương lai Ý thức về cá nhân và sở hữu không phát triển cao Mong ước thái bình, an cư lạc nghiệp sống thanh nhàn no đủ, gia đình hạnh phúc, lối sống quân bình. Con ngừoi được ưa chuộng là người hiền lành, tình nghĩa không chuộng trí, dũng; trọng văn nhưng không trọng võ. Không ca tụng trí tuệ mà ca tụng sự khôn khéo Đối với những cái mới không dễ hòa hợp nhưng cũng không cự tuyệt. 3.Luận điểm 3:về cái đẹp: xinh, khéo, dịu dàng, thanh lịch, duyên dáng, vừa phải: Không có cái tráng lệ huy hoàng, cái huyền ảo kì vĩ. Giao tiếp hợp tình, hợp lí. Ăn mặc nền nã, đơn giản. Không thích sự phô chương thích sự hòa đồng. Nguyên nhân: ý thức lâu đời về sự nhỏ yếu, thực tế nhiều khó khăn bất chắc do lịch sử, địa lí Đó là những nét riêng trong vốn văn hóa Việt, vừa là những ưu điểm, đồng thời có những hạn chế cần khắc phục 4.Luận điểm 4: về lối sống, quan niệm sống: Người Việt Nam sống có văn hóa. Có nền văn hóa của mình. Tinh thần chung của văn hóa Việt Nam là thiết thực, linh hoạt, dung hòa.Luận điểm quan trọng nhất là nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam: tính nhân bản III.Con đường hình thành bản sắc dân tộc của văn hóa: Sự tạo tác của chính dân tộc Vai trò của quá trình tiếp biến các văn hóa tôn giáo Phật giáo, Nho giáo, Lão-Trang. Sự dung hợp các tôn giáo du nhập vào Việt Nam. Thể hiện bản lĩnh Việt Nam: không bị đồng hóa; tiếp nhận, tiếp biến và hỗn dung văn hóa. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Đọc - hiểu: "Nhìn về vốn văn hóa dân tộc"
|
|
|
|
Bài tham khảo:NHÌN VỀ VỐN VĂN HOÁ DÂN TỘC – Trần Đình Hượu -
Câu 1: Em hãy trình bày những nét chính về tác giả Trần Đình Hượu và bài Nhìn về vốn văn hoá dân tộc.
- Trần Đình Hượu (1926-1995) quê ở xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Từ 1963 đến 1993 , ông giảng dạy tại khoa Văn Trường đại học tổng hợp Hà Nội. Ông chuyên nghiên cứu các vấn đề lịch sử tư tưởng và văn học Việt Nam trung cận đại. - Các công trình chính : Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900-1930, Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại, Đến hiện đại từ truyền thống, Các bài giảng về tư tưởng phương Đông. - Năm 2002, Trần Đình Hượu được tặng Giải thưởng nhà nước về khoa học và công nghệ. - Văn bản được trích từ phần II, bài Về vấn đề tìm đặc sắc văn hoá dân tộc, in trong cuốn Đến hiện đại từ truyền thống. Câu 2: Tác giả đã phân tích đặc điểm của vốn văn hoá dân tộc trên cơ sở những phương diện cụ thể nào của đời sống vật chất và tinh thần?- Tác giả Trần Đình Hượu đã đề cập đến những đặc điểm của truyền thống văn hoá Việt Nam trên cơ sở những phương diện chủ yếu của đời sống tinh thần và vật chất : tôn giáo , nghệ thuật (kiến trúc ,hội hoạ ,văn học), ứng xử ( giao tiếp cộng đồng, tập quán ), sinh hoạt (ăn, ở, mặc). Câu 3: Theo tác giả, đặc điểm nổi bật nhất trong các sáng tạo văn hoá của Việt Nam là gì? Đặc điểm này nói lên thế mạnh gì của vốn văn hoá dân tộc? Tìm một số ví dụ cụ thể trong đời sống văn hoá thực tiễn: Tín ngưỡng, văn học nghệ thuật, ứng xử, sinh hoạt mang tính truyền thống của người Việt để làm rõ luận điểm này.- Văn hoá Việt Nam giàu tính nhân bản, tinh tế, hướng tới sự hài hoà trên mọi phương diện (tôn giáo ,nghệ thuật, ứng xử, sinh hoạt). Thực tế cho thấy Việt Nam có nhiều tôn giáo , nhiều dân tộc cùng tồn tại trên lãnh thổ nhưng hầu như trong lịch sử không xảy ra xung đột dữ dội về tôn giáo ,về sắc tộc. Các công trình kiến trúc như chùa Tây phương, chùa Một Cột, Tháp Rùa , lăng tẩm vua chúa đời Nguyễn …có kiến trúc với qui mô nhỏ nhưng vẫn có những điểm nhấn tinh tế ,hài hoà với thiên nhiên… - Đặc điểm nổi bật nhất trong các sáng tạo của văn hoá Việt Nam : “Cái đẹp vừa ý là xinh, là khéo. Ta không háo hức cái tráng lệ ,huy hoàng, không say mê cái huyền ảo, kì vĩ. Màu sắc chuộng cái dịu dàng thanh nhã, ghét sặc sỡ. Quy mô chuộng sự vừa khéo, vừa xinh, phải khoảng. Giao tiếp ứng xử chuộng hợp tình,hợp lí. Áo quần ,trang sức , món ăn đều không chuộng sự cầu kì. Tất cả đều hướng vào cái đẹp dịu dàng, thanh lịch duyên dáng và có qui mô vừa phải”. - Tác giả khẳng định: “ nhìn vào lối sống, quan niệm sống, ta có thể nói người Việt Nam sống có văn hoá, người Việt Nam có nền văn hoá của mình. Những cái thô dã,những cái hung bạo đã bị xoá bỏ để có cái nền nhân bản. Tinh thần chung của văn hoá Việt Nam là thiết thực, linh hoạt , dung hoà” Câu 4: Những đặc điểm nào có thể coi là hạn chế của vốn văn hoá dân tộc?- Ngay trong mặt tích cực của văn hoá Việt Nam cũng ẩn tàng những hạn chế. Do quan niệm “dĩ hoà vi quí” trong mọi lĩnh vực đời sống tinh thần, vật chất nên văn hoá Việt chưa có một tầm vóc lớn lao, chưa có một vị trí quan trọng, chưa nổi bật và chưa ảnh hưởng sâu sắc đến các nền văn hoá khác . So sánh với văn hoá Hi Lạp, La Mã , Ấn Độ, Trung Hoa…ta mới thấy được điêù đó.“Tôn giáo hay triết học đều cũng không phát triển”. Không có một ngành khoa học,kĩ thuật, giả khoa học nào phát triển đến đến thành có truyền thống. Âm nhạc, hội hoạ, kiến trúc đều không phát triển đến tuyệt kĩ…”, Không chuộng trí mà cũng không chuộng dũng. Dân tộc chống ngoại xâm liên tục nhưng không thượng võ”, “Không ca tụng trí tuệ mà ca tụng sự khôn khéo”. Tác giả nhận định khái quát về bản chất của nền văn hoá truyền thống: “ Đó là văn hoá của dân nông nghiệp định cư, không có nhu cầu lưu chuyển,trao đổi, không có sự kích thích của đô thị” và lí giải về nguyên nhân của những hạn chế này : “Phải chăng đó là kết quả của ý thức lâu đời về sự nhỏ yếu, về thực tế nhiều khó khăn, nhiều bất trắc” Câu 5: Những tôn giáo nào có ảnh hưởng mạnh nhất đến văn hoá truyền thống của Việt Nam ? Người Việt đã tiếp nhận tư tưởng của các tôn giáo này theo hướng nào để tạo nên bản sắc văn hoá dân tộc? Tìm một số ví dụ cụ thể trong văn học để làm sáng tỏ luận điểm này?- Phật giáo, Nho giáo là những tôn giáo có ảnh hưởng mạnh nhất đếnvăn hoá truyền thống Việt Nam. Người Việt đã tiếp nhận các tôn giáo này theo hướng : Thiết thực, linh hoạt, dung hoà. Những câu tục ngữ Việt Nam đã nói lên quan niệm đó : “Thứ nhất là tu tại gia , thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa”… Tư tưởng nhân nghĩa ,trung quân ái quốc, tôn sư trọng đạo … của Nho giáo cũng được Việt hoá theo hướng phù hợp với tâm lí và xã hội người Việt:“Học thầy không tầy học bạn”… “Phép vua thua lệ làng” “Việc nhân nghĩa cốt ở yên Câu 6: Nhận định : “ Tinh thần chung của văn hoá Việt Nam là “thiết thực, linh hoạt, dung hoà” nhằm nêu lên mặt tích cực hay hạn chế của văn hoá Việt Nam? Hãy giải thích rõ vấn đề này?“ Tinh thần chung của văn hoá Việt Nam là thiết thực, linh hoạt , dung hoà” . Đặc điểm này vừa nêu lên mặt tích cực, vừa tàng ẩn những hạn chế của văn hoá Việt Nam. - Đây là điểm tích cực vì : + Tính thiết thực khiến cho văn hoá Việt gắn bó sâu sắc với đời sống cộng đồng. Chẳng hạn nhà chùa là nơi thờ Phật tôn nghiêm nhưng đồng thời diễn ra nhiều sinh hoạt thế tục như ma chay, cưới hỏi, nuôi nấng trẻ em cơ nhỡ… + Tính linh hoạt thể hiện rõ ở khả năng tiếp nhận và biến đổi các giá trị văn hoá thuộc nhiều nguồn khác nhau sao cho phù hợp với đời sống bản địa của người Việt : Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, Ki-tô giáo, Hồi giáo…đều có chỗ đứng trong văn hoá Việt. +Tính dung hoà là hệ quả tất yếu của hai thuộc tính trên trong văn hoá của người Việt. Các giá trị văn hoá thuộc nhiều nguồn khác nhau không loại trừ nhau mà được người Việt tiếp thu có chọn lọc để tạo nên sự hài hoà bình ổn trong đời sống văn hoá. => Chính vì thế , vốn văn hoá Việt truyền thống giàu giá trị nhân bản, không sa vào tình trạng cực đoan, cuồng tín. - Tuy nhiên trong mặt tích cực lại tàng ẩn những hạn chế . Hạn chế ấy là vì luôn dung hoà nên thiếu những sáng tạo lớn, không đạt đến những giá trị phi phàm, kì vĩ. Chỉ có những tư tưởng tôn giáo hoặc quan niện xã hội ít nhiều mang tính cực đoan mới tạo ra những giá trị đặc sắc nổi bật (Vạn lí trường thành-Trung Quốc, Kim Tự tháp-Ai Cập). - Tuy nhiên, trong hoàn cảnh địa lí , lịch sử , xã hội cụ thể của cộng đồng các dân tộc việt nam, tính thiết thực, linh hoạt, dung hoà bảo đảm cho văn hoá Việt tồn tại qua những gian nan bất trắc của lịch sử. Câu 7: Vì sao có thể khẳng định: “Con đường hình thành bản sắc dân tộc của văn hoá không chỉ trông cậy vào sự tạo tác của chính dân tộc đó mà còn trông cậy vào khả năng chiếm lĩnh, khả năng đồng hoá các giá trị văn hoá bên ngoài. Về mặt đó ,lịch sử chứng minh dân tộc Việt Nam có bản lĩnh”.Hãy liên hệ với thực tế lịch sử , văn hoá và văn học để làm sáng tỏ vấn đề này.- Ta có thể khẳng định: “Con đường hình thành bản sắc dân tộc của văn hoá không chỉ trông cậy vào sự tạo tác của chính dân tộc đó mà còn trông cậy vào khả năng chiếm lĩnh, khả năng đồng hoá các giá trị văn hoá bên ngoài. Về mặt đó ,lịch sử chứng minh dân tộc Việt Nam có bản lĩnh”.Thực tế lịch sử , văn hoá và văn học Việt Nam đã chứng minh điều đó. Thực tiễn sử dụng chữ viết của người Việt là một ví dụ .Lúc đầu , ta mượn chữ Hán để sáng tác văn chương. Sau đó , ta dùng chữ Hán ghi âm tiếng Việt để tạo thành chữ Nôm. Kiệt tác văn học Việt Nam thời trung đại là truyện Kiều được viết bằng thứ chữ này. Về sau, ta lại mượn mẫu tự La tinh ghi âm tiếng Việt để tạo ra chữ Quốc ngữ. Chữ Hán, chữ Nôm, Chữ Quốc ngữ đều tạo nên những tác phẩm mang quan niệm Việt Nam, tâm hồn Việt Nam. - Tóm lại, bản sắc văn hoá là cái riêng, cái độc đáo mang tính bền vững và tích cực của một cộng đồng văn hoá. Vì thế không có sự tạo tác của cộng đồng đó thì nền văn hoá sẽ không có một nội lực bền vững. Ngược lại, nếu có nội lực mà bế quan toả cảng về văn hoá thì không thừa hưởng được những giá trị tinh hoa và tiến bộ của văn hoá nhân loại, không thể phát triển, cũng không toả rạng được giá trị vốn có vào đời sống văn hoá rộng lớn của thế giới -TỔNG KẾT : Từ hiểu biết sâu sắc về vốn văn hoá dân tộc, tác giả đã phân tích rõ những mặt tích cực và một số hạn chế của văn hoá truyền thống.Bài viết có văn phong khoa học chính xác ,mạch lạc . Nắm vững bản sắc văn hoá dân tộc, chúng ta có thể phát huy điểm mạnh ,khắc phục hạn chế để hội nhập với thế giới trong thời đại ngày nay. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Cảm nhận: "Nhìn về vốn văn hóa dân tộc"
|
|
|
|
Bài tham khảo: NHÌN VỀ VỐN VĂN HÓA DÂN TỘC
Trần Đình Hượu
Nhìn về vốn văn hóa dân tộc là một trích đoạn của tiểu luận Về vấn đề tìm đặc sắc văn hóa dân tộc được Trần Đình Hượu viết từ năm 1986. Với tiểu luận này, mục đích chính mà tác giả đặt ra không phải là xác định rõ ràng từng điểm một về cái gọi là bản sắc văn hóa dân tộc, mà gợi mở con đường nghiên cứu về nó trong tư cách một vấn đề thời sự của chiến lược phát triển đất nước thời kỳ đổi mới. Như vậy, ở đây, "nhìn về" cũng chính là "hướng tới", và hành động "nhìn về" truyền thống, "nhìn về" quá khứ trở thành một yếu tố then chốt của hành động "hướng tới" hiện đại, "hướng tới" tương lai. Trong tiểu luận, bên cạnh khái niệm vốn văn hoá dân tộc, tác giả cũng dùng một số khái niệm khác như : đặc sắc văn hóa dân tộc, thiên hướng văn hóa dân tộc, tinh thần chung của văn hóa dân tộc. Cách diễn đạt của tác giả không cố định, cứng nhắc. Có khi tác giả chỉ viết đơn giản : bản sắc dân tộc, hoặc nói hơi khác : bản sắc dân tộc của văn hóa. Nhìn chung, theo tinh thần toát lên từ toàn bộ tiểu luận, có thể hiểu vốn văn hoá dân tộc hay bản sắc văn hóa dân tộc là cái giúp khu biệt văn hóa của dân tộc này với văn hóa của dân tộc khác. Bản sắc văn hóa dân tộc là hiện tượng kết tinh, là thành quả tổng hợp của một quá trình sáng tạo, tiếp xúc văn hóa, nhào trộn cái vốn có, riêng có của dân tộc với những cái tiếp thu từ bên ngoài. Bản sắc văn hóa vừa có mặt ổn định vừa có mặt biến đổi. ổn định không đối lập mà tạo tiền đề cho biến đổi và biến đổi cũng để đi đến một dạng ổn định mới, cao hơn, phong phú hơn. Khái niệm vốn văn hóa dân tộc mà tác giả dùng vừa có mặt rộng hơn, vừa có mặt hẹp hơn khái niệm bản sắc văn hóa dân tộc. Nói rộng là vì : bản sắc văn hóa làm nên cái vốn văn hóa. Còn nói hẹp là bởi : vốn văn hóa dường như chỉ nói được mặt ổn định, cố hữu mà chưa nói được mặt biến đổi của bản sắc văn hóa. Với các khái niệm thiên hướng văn hóa, tinh thần chung của văn hóa, có lẽ tác giả muốn nói chiều động, chiều phát triển của bản sắc văn hóa. Ngoài đoạn mở đầu mang tính chất đặt vấn đề, cả tiểu luận (phần được trích học) tập trung nêu lên và nhận xét về một số điểm mà theo tác giả là có "liên quan gần gũi" với cái gọi là đặc sắc văn hóa dân tộc. Cách triển khai lập luận của tác giả khá đặc biệt. Bắt đầu, ông đã không nói về cái có, mà nói về cái không của vốn văn hoá dân tộc. Có thể dễ dàng đếm được trong bài có đến trên vài chục lần từ không được lặp lại - từ không với hàm nghĩa chỉ ra những cái mà dân tộc ta không có (so với các dân tộc khác trên thế giới). Bên cạnh từ không, các cụm từ và từ như chưa bao giờ, ít cũng chở theo một nội dung tương tự. Khó nói rằng tác giả cố tình "độc đáo", cố tình gây ấn tượng ở điểm này. Cái gây ấn tượng, nếu có, toát lên từ cách nhìn trực diện về vấn đề hơn là cách tung hứng ngôn từ. Vào thời điểm tiểu luận của Trần Đình Hượu ra đời, người ta vốn đã quen nghe những lời ca tụng về dân tộc mình (Càng nhìn ta, lại càng say - Tố Hữu), bởi vậy, khi giáp mặt với một cách đặt vấn đề khác, một cảm hứng nghiên cứu khác, nhiều người dễ có cảm tưởng rằng tác giả đã "nói ngược" hay đã cực đoan trong các nhận định. Kì thực, nếu nắm được mạch nghiên cứu lịch sử tư tưởng của Trần Đình Hượu, đồng thời chấp nhận nét đặc thù của lối văn "phát biểu ý kiến", ít có trích dẫn cũng như ít đưa dẫn chứng (ở cấp độ cụ thể, chi tiết), lại chủ yếu hướng vào giới chuyên môn vốn am hiểu sâu sắc các vấn đề hữu quan, ta sẽ dễ dàng chia sẻ, tán đồng với tác giả về hầu hết những luận điểm then chốt mà ông nêu lên. Khi khẳng định : "Giữa các dân tộc, chúng ta không thể tự hào là nền văn hóa của ta đồ sộ, có những cống hiến lớn lao cho nhân loại, hay có những đặc sắc nổi bật", tác giả đã dựa vào khá nhiều căn cứ : ở Việt Nam, kho tàng thần thoại không phong phú (xét theo những gì còn được bảo tồn đến bây giờ) ; tôn giáo, triết học đều không phát triển ; không có một ngành khoa học, kĩ thuật nào phát triển đến thành có truyền thống ; âm nhạc, hội họa, kiến trúc đều không phát triển đến tuyệt kĩ ; thơ ca rất được yêu thích nhưng các nhà thơ không ai nghĩ sự nghiệp của mình là ở thơ ca ;... Dĩ nhiên, đây mới chỉ là những "căn cứ lớn", mà bản thân chúng có thể và cần phải được chứng minh bằng hàng loạt dữ kiện cụ thể. Do định hướng riêng của bài viết, tác giả đành lướt qua vấn đề này. Điều quan trọng hơn đối với ông là nói rõ tiền đề mà dựa trên đó các "căn cứ lớn" đã được nêu lên : "ở một số dân tộc hoặc là một tôn giáo, hoặc là một trường phái triết học, một ngành khoa học, một nền âm nhạc, hội họa,... phát triển rất cao, ảnh hưởng phổ biến và lâu dài đến toàn bộ văn hóa, thành đặc sắc văn hóa của dân tộc đó, thành thiên hướng văn hóa của dân tộc đó". Theo lô gích vấn đề, ở cuối đoạn 2, tác giả còn cắt nghĩa lí do của các "kiểu lựa chọn văn hóa" vừa được chính ông trình bày để ta thấy rõ tính qui luật của nó : "Thực tế đó cho ta biết khuynh hướng, hứng thú, sự ưa thích, nhưng hơn thế, còn cho ta biết sự hạn chế của trình độ sản xuất, của đời sống xã hội. Đó là văn hoá của cư dân nông nghiệp định cư, không có nhu cầu lưu chuyển, trao đổi, không có sự kích thích của đô thị". Bằng cách lật đi lật lại vấn đề như thế, tác giả đã thực sự làm tăng sức thuyết phục cho luận điểm của mình. Dễ dàng nhận thấy rằng, với tiểu luận này, tác giả đã thoát khỏi thái độ hoặc ca ngợi, hoặc chê bai đơn giản thường thấy khi tiếp cận vấn đề. Tinh thần chung của bài viết là tiến hành một sự phân tích, đánh giá khoa học đối với những đặc điểm nổi bật của văn hóa Việt Nam. Thực ra, khen hay chê vốn là một phản ứng tình cảm bình thường, hoàn toàn có đủ lí do để có mặt trong một bài nghiên cứu. Nhưng điều quan trọng là nếu người viết không vượt lên được vòng trói buộc của sự khen - chê chủ quan thì mọi kiến nghị, đề xuất sau đó sẽ ít tính thuyết phục. Trần Đình Hượu hẳn ý thức sâu sắc về điều đó nên đã sử dụng một giọng văn điềm tĩnh, khách quan để trình bày các luận điểm. Người đọc chỉ có thể nhận ra được nguồn cảm hứng thật sự của tác giả nếu hiểu cái đích xa mà ông hướng đến : góp phần xây dựng một chiến lược phát triển mới cho đất nước, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, kém phát triển hiện thời. Sau khi đã nêu một loạt điểm "không đặc sắc" của văn hóa Việt Nam, tác giả lại khẳng định : "người Việt Nam có nền văn hóa của mình". Nếu việc làm trước không đồng nghĩa với cái gọi là "chê" thì việc làm sau không phải là biểu hiện cụ thể của cái gọi là "khen". Không có gì mâu thuẫn ở đây cả, bởi, thứ nhất, theo tác giả quan niệm, việc đi tìm cái riêng của văn hóa Việt Nam không nhất thiết phải gắn liền với việc cố chứng minh dân tộc Việt Nam không thua kém các dân tộc khác ở những điểm mà thế giới đã thừa nhận là rất nổi bật ở họ (ví dụ như sự phát triển của hệ thống thần thoại, tôn giáo, triết học, các ngành nghệ thuật, kiến trúc,....). Nỗ lực chứng minh như thế là một nỗ lực vô vọng. Tác giả chỉ ra những điểm "không đặc sắc" của văn hóa Việt Nam là trên tinh thần ấy. Việc làm của tác giả rõ ràng hàm chứa một gợi ý về phương pháp luận nghiên cứu vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc : đi tìm đặc sắc văn hóa Việt Nam phải có cái nhìn sát với thực tế Việt Nam, không thể vận dụng những mô hình cố định ; điều quan trọng khác là phải tìm ra cội nguồn của hiện tượng không có những điểm đặc sắc nổi bật như của các dân tộc khác để thấy được cái "đặc sắc" của văn hóa Việt Nam. Vấn đề "có" hay "không" nhiều khi chưa quan trọng bằng vấn đề "tại sao có ?", "tại sao không ?". Thứ hai, tác giả quan niệm văn hóa là sự tổng hòa của nhiều yếu tố, trong đó lối sống, quan niệm sống là yếu tố then chốt ; mà lối sống, quan niệm sống ấy cũng lại là một hệ thống, kết quả sự tổng hòa của muôn vàn yếu tố khác nhỏ hơn. Khi quan sát thấy người Việt Nam có lối sống, quan niệm sống riêng, biểu hiện qua việc ta đã tự tạo ra được cho mình một cái "màng lọc" nhằm gạt bỏ hoặc tiếp thu, lựa chọn những cái gì không cần thiết hoặc cần thiết cho mình, tác giả hoàn toàn có cơ sở để khẳng định : người Việt Nam có nền văn hóa riêng. Hóa ra, "không đặc sắc" ở một vài điểm thường hay được người ta nhắc tới không có nghĩa là không có gì ! Phải nói rằng, tác giả đã có một quan niệm toàn diện về văn hóa, và hơn thế, biết triển khai công việc nghiên cứu của mình dựa vào việc khảo sát thực tế khách quan chứ không phải vào các "tri thức tiên nghiệm", các định đề. Trong đoạn 3, tác giả có nêu khái quát một đặc điểm của văn hóa Việt Nam :"Cái đẹp vừa ý là xinh, là khéo. Ta không háo hức cái tráng lệ, huy hoàng, không say mê cái huyền ảo, kì vĩ. Màu sắc chuộng cái dịu dàng, thanh nhã, ghét sặc sỡ. Quy mô chuộng sự vừa khéo, vừa xinh, phải khoảng. Giao tiếp, ứng xử chuộng hợp tình, hợp lí, áo quần, trang sức, món ăn đều không chuộng sự cầu kì. Tất cả đều hướng vào cái đẹp dịu dàng, thanh lịch, duyên dáng và có quy mô vừa phải". Vào thời điểm tiểu luận ra đời, khái quát nêu trên có thể đã gây được những ngạc nhiên thú vị, bởi nó giống như kết quả của một cái nhìn đến từ phía bên ngoài hoặc của một nỗ lực phản tỉnh, cố gắng tách mình ra khỏi mình nhằm tự đánh giá. Thực tế cho thấy : thật khó nhận diện được nét đặc sắc văn hoá của dân tộc mình một khi ta đang hít thở trong bầu khí quyển của nó, quá quen với nó. Giờ đây, khái quát trong tiểu luận của Trần Đình Hượu gần như đã trở thành một nhận thức phổ biến, thường được nhắc lại với một ít biến thái trong nhiều tài liệu khác nhau. Điều này thực ra khá dễ hiểu vì có vô số dẫn chứng trong đời sống và trong văn học chứng tỏ sự xác đáng của nó, ví dụ : Việt Nam không có những công trình kiến trúc đồ sộ như Kim tự tháp, Vạn lí trường thành, Ăng - ko Vát... Chùa Một cột (chùa Diên Hựu) - một biểu tượng của văn hóa Việt Nam - có quy mô rất bé ; chiếc áo dài rất được phụ nữ Việt Nam ưa chuộng có vẻ đẹp nền nã, dịu dàng, thướt tha ; nhiều câu tục ngữ, ca dao khi nói về kinh nghiệm sống, ứng xử rất đề cao sự hợp lí, hợp tình : Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm ; ở sao cho vừa lòng người/ ở rộng người cười, ở hẹp người chê ; Lời nói chẳng mất tiền mua/ Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau... Kết luận quan trọng nhất của tác giả về tinh thần chung của văn hóa Việt Nam nằm ở câu in nghiêng trong phần cuối đoạn trích : Tinh thần chung của văn hóa Việt Nam là thiết thực, linh hoạt, dung hòa. Toàn bộ những từ như tinh nhanh, khôn khéo, dung hợp, sàng lọc, tinh luyện, tiếp nhận,... được dùng trong đoạn văn cũng có tác dụng "phụ hoạ" cho kết luận đó. Tác giả còn chỉ rõ : trên lĩnh vực văn hóa, bản lĩnh của dân tộc Việt Nam thể hiện tập trung ở sự "đồng hóa", "dung hợp" chứ không phải ở sự "tạo tác". Về các khái niệm vừa dẫn, dựa vào văn cảnh chúng được sử dụng, có thể xác định : - "Tạo tác" là khái niệm có tính chất quy ước, chỉ những sáng tạo lớn của một dân tộc - những sáng tạo mà các dân tộc khác không có hoặc có mà không đạt tầm vóc kì vĩ, gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến chung quanh, tạo thành những mẫu mực đáng học tập đến như thế. - Khái niệm "đồng hóa" vừa chỉ vị thế tồn tại nghiêng về phía tiếp nhận những ảnh hưởng từ bên ngoài, những ảnh hưởng lan đến từ các nền văn minh, văn hóa lớn, vừa chỉ khả năng tiếp thu chủ động của chủ thể tiếp nhận - cái khả năng cho phép một dân tộc biến những cái ngoại lai thành cái của mình, trên cơ sở gạn lọc và thu giữ. - Khái niệm "dung hợp" vừa có những mặt gần gũi với khái niệm "đồng hóa" vừa có điểm khác. Với khái niệm này, hẳn tác giả muốn nhấn mạnh đến khả năng "chung sống hòa bình" của nhiều yếu tố tiếp thu từ nhiều nguồn khác nhau, có thể hài hòa được với nhau trong một hệ thống, một tổng thể mới. Nhìn chung, theo Trần Đình Hượu, văn hóa Việt Nam xa lạ với sự cực đoan, không chấp nhận sự cực đoan, và riêng việc không chấp nhận điều đó đã biểu hiện một bản lĩnh đáng trọng. Như vậy, khi khái quát bản sắc văn hóa Việt Nam qua các từ như "đồng hóa", "dung hợp", tác giả Trần Đình Hượu không hề rơi vào thái độ tự ti hay miệt thị dân tộc. Cũng cần nói thêm : trên con đường xác định cái gọi là bản sắc văn hoá dân tộc, Trần Đình Hượu đã có những điểm gặp gỡ với nhiều nhà nghiên cứu tư tưởng, văn hóa, văn học khác. Nhà Đạo học Cao Xuân Huy từng hình dung triết lí Việt Nam là triết lí Nước hay Nhu đạo. Còn nhà sử học Trần Quốc Vượng thì viết: "Tôi gọi cái bản lĩnh - bản sắc biết nhu, biết cương, biết công, biết thủ, biết "trông trời trông đất trông mây..." rồi tùy thời mà làm ăn theo chuẩn mực "nhất thì nhì thục"... ấy, là khả năng ứng biến của người Việt Nam, của lối sống Việt Nam, của văn hóa Việt Nam !"[1] v.v... Trong bối cảnh thời đại ngày nay, việc tìm hiểu bản sắc văn hóa dân tộc trở thành một nhu cầu tự nhiên. Chưa bao giờ dân tộc ta có cơ hội thuận lợi như thế để xác định "chân diện mục" của mình qua hành động so sánh đối chiếu với "khuôn mặt" của các dân tộc khác. Giữa hai vấn đề hiểu mình và hiểu người có mối quan hệ tương hỗ. Tìm hiểu bản sắc văn hóa dân tộc rất có ý nghĩa đối với việc xây dựng một chiến lược phát triển mới cho đất nước, trên tinh thần làm sao phát huy được tối đa mặt mạnh vốn có, khắc phục được những nhược điểm dần thành cố hữu để tự tin đi lên. Tìm hiểu bản sắc văn hóa dân tộc dĩ nhiên cũng gắn liền với việc quảng bá cái hay, cái đẹp của dân tộc để "góp mặt" cùng năm châu, thúc đẩy một sự giao lưu lành mạnh, có lợi chung cho việc xây dựng một thế giới hòa bình, ổn định và phát triển. Đến với tiểu luận Vấn đề tìm đặc sắc văn hoá dân tộc, cụ thể là đến với đoạn trích Nhìn về vốn văn hoá dân tộc, chúng ta cảm nhận được những điều gợi mở quý báu đó từ một nhà nghiên cứu tâm huyết với tiền đồ phát triển của dân tộc. PHAN HUY DŨNG
|
|
|
|
giải đáp
|
Phân tích bài "Nhìn về vốn văn hóa dân tộc"
|
|
|
|
Bài tham khảo:Trong tác phẩm " nhìn về vốn văn hoá dân tộc" của Trần Đình Hượu viết "con đường hình thành bản sắc dân tộc của văn hoá không chỉ trông cậy vào sự sáng tạo mà còn trong cậy vào khả năng chiếm lĩnh, sự đồng hoá những giá trị văn hoá bên mình." Anh chị trình bày suy nghĩ của mình về hiện tượng tiếp nhận văn hoá ngoại lai của giới trẻ hiện nay. Vượt hành trình gian nan để đổ về đại dương, dòng sông luôn khởi khởi nguồn từ đất liền, chảy qua bao vùng miền để hoà vào biển lớn. Dòng sông văn hoá Việt Nam cũng khởi nguồn từ quá khứ 4000 năm lịch sử, chảy trong thời gian qua các miền văn hoá kế thừa và sáng tạo kết tụ lại thành những giá trị văn hoá Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc.Nhưng " con đường hình thành bản sắc dân tộc của văn hoá ko chỉ trông cậy vào sự tạo tác của chính dân tộc đó mà còn trông cậy vào khả năng chiếm lĩnh,khả năng đồng hoá các giá trị văn hoá bên ngoài"- quan điểm đó của Trần Đình Hượu đã đặt ra trong lòng độc giả những trăn trở, đặc biệt trong hiện tượng tiếp nhận văn hoá ngoại lai của giới trẻ hiện nay. Văn hoá Việt Nam hình thành sớm, xuất hiện từ những ngày công xã nguyên thuỷ, phát triển qua nền văn minh lúa nước, hình thành những loại hình văn hoá dân gian từ sự chạm khắc của miền truyền thuyết, ca dao, cổ tích với những tập tục ăn trầu, búi tóc từ thủa cổ xưa. "Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi
Đất nước có trong cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể
Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
Tóc mẹ thì bới sau đầu...."
Và cùng với sự ra đời của nhà nước quân chủ chuyên chế, xã hội phong kiến đã mang đến cho nền văn hoá Việt nam những dấu ấn đặc sắc mang đậm tính chất Á Đông. Người Việt Nam có quyền tự hào về vốn văn hoá đậm đà thuần Việt cả trong những lĩnh vực Văn học, nghệ thuật, kiến trúc, hội hoạ , điêu khắc...Với nền văn học dân gian phong phú thể loại (truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, thơ nôm, sử thi....) mà đỉnh cao là thể thơ lục bát, vẫn được sử dụng đến ngày nay. Kiến trúc Việt Nam với những mái đình cổ kính, thấp thoáng ẩn hiện dưới những gốc đa, sau những rặng tre xanh, bến nước, sân đình...Các làn điệu dân ca như ca trù, quan họ, cải lương.... hay những nghệ thuật hội hoạ dân gian Đông Hồ....có thể coi là những thành quả đã có làm cơ sở xây dựng một nền văn hoá phong phú đa dạng đậm đà bản sắc dân tộc VN. Nhưng "con đường hình thành bản sắc dân tộc đâu chỉ trông cậy vào khả năng tạo tác " tức là sáng tác, kế thừa và phát huy những gì đã có mà còn phải " trông cậy vào khả năng chiếm lĩnh, sự đồng hoá những giá trị văn hoá bên ngoài". Phải chăng, hành trình phát triển văn hoá từ sông ra biển chính là sự đồng hành của quá trình giao lưu và tiếp biến văn hoá- cũng chính là khả năng đồng biến và chiếm lĩnh những giá trị văn hoá bên ngoài? Khả năng chiếm lĩnh và đồng hoá phải chăng là khả năng tiếp thu hội nhập nhiều nền văn hoá, khả năng đón nhận những ảnh hưởng của nền văn minh văn hoá lớn, khả năng tiếp thu chủ động, biến những cái ngoại lai thành cái của mình và có sàng lọc. Do bối cảnh của lịch sử với bao thăng trầm, trwocs những dòng chủ lưu về văn hoá ồ ạt theo con đường cai trị của phong kiến thực dân xâm nhập vào văn hoá Việt Nam một cách có hệ thống thì việc "chiếm lĩnh" và" đồng hoá" để ko bị chiếm lĩnh và đồng hoá lại là vô cùng cần thiết, nó quyết định tới sự tồn tại riêng rẽ của một nền Văn hoá Việt ko thể hoà lẫn. "Truyện Kiều" của Nguyễn Du cũng là một cách tiếp thu có chọn lọc những giá trị của văn học Trung Hoa từ "Kim Vân Kiều truyện" của Thanh Tâm Tài Nhân để trở thành đỉnh cao của văn học dân tộc, sự chuyển thể từ thể loại truyện sang truyện thơ ( Nôm) là một sự đồng hóa hết sức sáng tạo và tích cực của đại thi hào Nguyễn Du. Các thể thơ nôm đường luật cũng là hệ quả của quá trình tiếp thu và lĩnh hội có chọn lọc như thế. Kiến truc văn hoá đình chùa ảnh hưởng từ Phật giáo từ Trung Quốc hay Ấn Độ nhưng vẫn mang dáng vẻ kiến trúc Việt Nam cũng là một tminh chứng diệu kì cho khả năng" chiếm lĩnh" và" đồng hoá" những giá trị Văn hoá bên ngoài. Cùng với sự đổi thay của lịch sử, bước sang kỉ nguyên hội nhập với bao thay đổi của nền kinh tế thị trường, trước ngưỡng cửa của sự xâm nhập văn hoá với quy mô toàn cầu thì nhận định của Giáo sư Trần Đình Hượu đặt ra bao suy tư cho giới trẻ về trách nhiệm của bản thân trong thời đại mới. Trước dòng chảy xâm nhập ào ạt của nền văn hoá ngoại lai từ các nền văn minh trên thế giới, một bộ phận thanh niên Việt Nam đã biết nắm bắt lấy thời cơ, phát triển nền văn hoá dân tộc vốn đã giàu đẹp ngày càng văn minh và tiến bộ hơn, Sự tiếp thu có hệ thống các hệ tư tưởng văn hoá tây phương với những phong cách nghệ thuật thơ văn của Pháp, Italia, Anh, hay Đức, các công trình kiến trúc đậm dấu ấn cổ điển hay hiện đại của những quốc gia này cũng được tiếp thu và thiết kế bài bản. Chính sự năng động và sáng tạo đó đã góp phần làm văn minh hơn, giàu có hơn cho bản sắc văn hoá Việt Nam, tạo nên sự phối trộn hài hoà giữa cũ và mới, cổ điển và hiện đại, truyền thống và cách tân. Sự giao lưu và tiếp biến được coi là "nguồn gen tiến hoá" cho sự phát triển của văn hoá dân tộc trong giai đoạn giao lưu và hội nhập. Nền văn hoá Internet, văn hoá Online, văn hoá Game, hay sự thay đổi của trào trào lưu thời trang trên thế giới góp phần lột xác hình ảnh đất nước Việt Nam vốn vẫn được biết đến là nền văn hoá nông nghiệp với hình ảnh "con trâu đi trước cái cày theo sau". Để làm đwocj điều đó, không chỉ đòi hỏi người thanh niên Việt Nam ph ải năng động sáng tạo biết nắm bắt du nhập một cách có chọn lọc mà còn đặt ra vấn đề về sự bảo tồn những nét văn hoá truyền thống cũ, hoà nhập nhưng ko hoà tan- đó cũng là một thách thức đầy khó khăn, là những chướng ngại vật trong hành trình dòng chảy tiếp biến, hội nhập. Bởi bên cạnh những cá nhân, tập thể tích cực cũng tồn tại không ít những thanh niên sống thiếu lí tưởng, ko có MĐ rõ ràng, du nhập văn hoá một cách tràn lan máy móc, cả những nền văn hoá vốn ko mang nhiều giá trị nhân văn thẩm mĩ chỉ để thoả mãn nhu cầu sống gấp, sống sành điệu của một bộ phận giơí trẻ ngày nay. Đó là bộ phận có biểu hiện sống ngoại lai mất gốc, xa rời văn hoá truyền thống dân tộc, bị hoà tan một cách hoàn toàn trong dòng lũ hội nhập mà tự đánh mất chính mình. Một số khác lại có tư tưởng bảo thủ, không chiêm slĩnh, đồng hoá văn hoá ngoại lai, chỉ khư khư chăm chút cho cái vốn văn hoá xưa của dân tộc, không chịu du nhập, đổi mới, Bất giác, ở họ gợi lên hình ảnh về biển Chết, suốt đời chỉ khư khư khép mình, ko nhận nước từ bất kì dòng chảy nào nên chưa ở đâu sự sống của các loài sinh vật lại nghèo nàn đến thế.Có thể nói, cả 2 đối tượng trên đều có ảnh hưởng tiêu cực, là bước cản trở trên con đường xây dựng một nền văn hoá tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Ý thức được trách nhiệm và sứ mệnh của bản thân đòi hỏi mỗi thanh niên của thời đại mới cần có thái độ và nhận thức đúng đắn về trách nhiệm, xác định lập trường tư tưởng vững vàng, để phát huy mặt mạnh, hạn chế mặt còn thiếu sót củavăn hoá dân tộc, tích cực quảng bá văn hoá dân tộc tới bạn bè quốc tế, có thái độ tôn trọng đúng mực và chiếm lĩnh đồng hoá hiệu quả nền văn hoá ngoại lai, Điều đó là một ẩn số chỉ được giải quyết bằng bất đẳng thức hành động của mỗi con người. Có một câu hỏi khá phổ biến khi ta đặt chân lên xứ người" Bạn đến từ đâu". Hãy tự hào trả lời 2 tiếng" Việt Nam" và giới thiệu cho họ về đất nước hình chữ S- khi bạn đã tự tin về nền văn hoá đậm đà bản sắc của mình! Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Một cách dạy bài " Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống SAIDS, 1.12.2003"
|
|
|
|
MỘT CÁCH GIẢNG DẠY “THÔNG ĐIỆP NHÂN NGÀY THẾ GIỚI PHÒNG CHỐNG AIDS, 1.12.2003” (Cô-phi An-nan), NGỮ VĂN 12, THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP
Nguyễn Thị Bảo Thúy Trường THPT Bảo Lộc, Bảo Lộc, Lâm Đồng
A. MỞ ĐẦU Cùng với việc xây dựng chương trình và sách giáo khoa theo quan điểm tích hợp, tích hợp đã và đang là một trong những xu thế dạy học mới được vận dụng trong nhà trường phổ thông, góp phần đổi mới phương pháp dạy học. Từ 2002, Bộ Giaó dục và Đào tạo đã khẳng định trong “Chương trình THPT môn Ngữ văn”: “Nguyên tắc tích hợp phải được quán triệt trong toàn bộ môn học, từ Đọc văn, Tiếng Việt đến Làm văn, quán triệt trong mọi khâu của quá trình dạy, quán triệt trong mọi yếu tố của hoạt động học tập, tích hợp trong chương trình, tích hợp trong sách giáo khoa, tích hợp trong phương pháp dạy học của giáo viên và tích hợp trong hoạt động học tập của học sinh…”. Do đó, giáo viên phải nghiên cứu, vận dụng cách dạy học tích hợp vào giảng dạy và học tập Ngữ văn. Tích hợp có nghĩa là sự hợp nhất, sự hòa nhập, sự kết hợp. Trong lí luận dạy học, “tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống, ở những mức độ khác nhau, các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học khác nhau hoặc các hợp phần của bộ môn thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặc các hợp phần của bộ môn đó.”(2, 5). Với bộ môn Ngữ văn, tích hợp được hiểu là “sự phối hợp các tri thức gần gũi, có quan hệ mật thiết với nhau trong thực tiễn, để chúng hỗ trợ và tác động vào nhau, phối hợp với nhau nhằm tạo nên kết quả tổng hợp nhanh chóng và vững chắc”(2, 27) Vận dụng quan điểm tích hợp vào giảng dạy Ngữ văn xuất phát từ quan điểm liên môn dựa trên sự liên kết, tương tác giữa các hợp phần tri thức và kĩ năng, trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn Văn học, Tiếng Việt, Làm văn cũng như các bộ phận tri thức khác như hiểu biết lịch sử xã hội, văn hóa nghệ thuật…và từ đòi hỏi thực tế là cần phải khắc phục, xóa bỏ lối học theo kiểu khép kín, tách biệt nhà trường và cuộc sống, kiến thức với kĩ năng vận dụng, thực hành…Đó là cách khắc phục, hạn chế lối dạy học cũ nhằm nâng cao năng lực sử dụng kiến thức và kĩ năng mà học sinh lĩnh hội được vào cuộc sống. Từ lí thuyết đến thực hành, giáo viên sẽ làm gì và làm như thế nào để có thể vận dụng quan điểm tích hợp vào giảng dạy Ngữ văn một cách hiệu quả nhất? Phạm vi bài viết này, chúng tôi đề xuất “Một cách giảng dạy “Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS” (Cô-phi An-nan), Ngữ văn 12, theo quan điểm tích hợp”. B. NỘI DUNG I. MẤY NHẬN XÉT VỀ THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY VĂN BẢN NHẬT DỤNG TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG HIỆN NAY 1. Thuận lợi - Giaó viên đã được bồi dưỡng thường xuyên về lí thuyết quan điểm dạy học tích hợp. - Xu thế đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là cơ sở, là đòi hỏi buộc giáo viên phải thay đổi cách dạy mà một trong những vấn đề góp phần đổi mới phương pháp dạy học chính là dạy học theo quan điểm tích hợp. 2. Khó khăn - Chương trình Ngữ văn THPT và vấn đề quá tải vẫn là một vấn nạn với cả người dạy và người học. - Việc đổi mới kiểm tra đánh giá và áp lực thi cử vẫn “khuyến khích” giáo viên chỉ chú ý giảng dạy nội dung bài học hơn là liên hệ mở rộng kiến thức. - Đa số học sinh hiện nay mang tâm lí học đối phó với môn Ngữ văn. - Từ chính giáo viên, việc đổi mới phương pháp dạy học vẫn là một vấn đề khó khăn mà nhiều người thật sự lúng túng. - Giảng dạy văn bản nhật dụng như “Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS” (Cô-phi An-nan) là khó khăn, thách thức vì văn bản nhật dụng mới đưa vào chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn THPT. II. GIẢI PHÁP CHO VIỆC GIẢNG DẠY “THÔNG ĐIỆP NHÂN NGÀY THẾ GIỚI PHÒNG CHỐNG AIDS” (Cô-phi An-nan) THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP Có thể nói, việc tích hợp kiến thức giữa các phân môn trong một giờ Đọc hiểu là công việc mà tất cả giáo viên giảng dạy Ngữ văn đều thực hiện song tích hợp như thế nào cho hợp lí, không khiên cưỡng nhằm mục đích giảng dạy đạt hiệu quả cao nhất lại là vấn đề cần bàn. Ở đây, chúng tôi đề xuất một vài cách tích hợp khả thi mà có thể mang lại hiệu quả. Tích hợp trong giảng dạy Ngữ văn là tích hợp trong nội bộ môn học, tích hợp đa môn, tích hợp liên môn, tích hợp xuyên môn. Song dạy Văn theo quan điểm tích hợp không làm mất đi những đặc thù riêng biệt, cơ bản của từng phân môn cũng như của bộ môn Ngữ văn nói chung. Tích hợp nhằm góp phần làm cho việc dạy Văn nhẹ nhàng, thú vị mà đem lại hiệu quả thiết thực nhưng không phủ định truyền thống mà kết hợp cả truyền thống và hiện đại một cách hợp lí, hiệu quả. Việc tích hợp trong giảng dạy văn bản nhật dụng nói riêng và Ngữ văn nói chung được hiểu là chọn những điểm đồng qui giữa ba phân môn trong mỗi đơn vị bài học theo các yêu cầu cần đạt trong sách giáo khoa và sách giáo viên và tích hợp qua thiết kế giáo án và thực tế giảng dạy trên lớp. Như thế, việc tích hợp sẽ xuyên suốt trong quá trình dạy học văn bản theo các bước: Chuẩn bị bài, Kiểm tra bài cũ, Giới thiệu bài, tìm hiểu Tiểu dẫn, Đọc hiểu và Luyện tập. II.1.Tích hợp giáo dục HS về một vấn đề xã hội: HIV/AIDS. Trước giờ học, giáo viên cần yêu cầu học sinh làm việc theo nhóm tìm hiểu các thông tin về HIV/AIDS và làm thành các sản phẩm đa phương tiện để giới thiệu về HIV/AIDS bằng cách chuẩn bị các vấn đề sau: ? HIV/AIDS là gì? ? HIV và AIDS khác nhau và liên quan với nhau như thế nào ? Vì sao HIV/ AIDS được gọi là đại dịch, là hiểm họa cho đời sống của dân tộc và nhân loại? ? Tình hình phòng chống đại dịch và hiểm họa ấy ở địa phương, đất nước và thế giới tại thời điểm chúng ta học văn bản “Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống HIV/AIDS”? ? Hình ảnh, video minh họa về HIV/AIDS? Học sinh sẽ tự học, tự chuẩn bị kiến thức về căn bệnh HIV/AID về: - Bản chất của bệnh. - Hội chứng. - Cách thức lây nhiễm. - Tác hại và hậu quả của bệnh. - Cách phòng chống.... * Thông qua, việc chuẩn bị bài và bản “Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống HIV/AIDS” học sinh một lần nữa có hiểu biết thêm về HIV/AIDS. II.2.Tích hợp kiến thức Làm văn kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống. Trong phân phối chương trình Ngữ văn 12, phần Làm văn tiết 7, 13, 15 là các bài học về lí thuyết và thực hành về kiểu bài Nghị luận xã hội, do đó, việc tích hợp rèn luyện kĩ năng làm văn kiểu bài Nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống ở tiết 16, 17 đọc hiểu “Thông điệp nhân ngày quốc tế phòng chống HIV/AIDS” là hết sức hợp lí vì thông qua việc đọc hiểu văn bản, học sinh được củng cố lí thuyết kiểu bài sau khi đã làm bài viết số 1 và tiếp tục rèn luyện kĩ năng để vận dụng làm bài viết số 2. Phương pháp tích hợp trong tiết học này được tiến hành từng phần như sau: 1.1. Kiểm tra bài cũ: Giaó viên có thể kiểm tra bài cũ của học sinh bằng cách: Kiểm tra sản phẩm đa phương tiện của các nhóm học sinh tìm hiểu về HIV/AIDS, chọn nhóm có sản phẩm tốt nhất để chuẩn bị trình bày. 1.2. Giới thiệu bài: Tích hợp kiểm tra kiến thức về văn bản nhật dụng bằng cách phát vấn : ? Nêu tên những văn bản nhật dụng các em đã học? Từ những văn bản đó, các em nhớ gì về văn bản nhật dụng? Từ câu trả lời của học sinh, giáo viên dẫn dắt vào bài. 1.3.Tiểu dẫn: Khi giáo viên định hướng cho HS tìm hiểu: Thể loại văn bản, Bố cục văn bản là lúc giáo viên tích hợp kiến thức về văn bản nhật dụng và bố cục một bài văn nghị luận cho học sinh. 1.4. Đọc hiểu: 1.4.1. Nội dung của bản thông điệp Đây là một văn bản nhật dụng do đó, khi tìm hiểu nội dung của bản thông điệp, giáo viên cần kiểm tra kiến thức của học sinh về HIV/AIDS, tích hợp giáo dục HS về HIV/AIDS. - Chọn nhóm có sản phẩm đa phương tiện tốt trình bày 5’ những hiểu biết về HIV/AIDS, giáo viên kết hợp dẫn dắt vấn đề để học sinh tìm hiểu bài. 1.4.2. Cách tác giả điểm lại tình hình (Nghệ thuật lập luận) Giáo viên định hướng bằng hệ thống câu hỏi và dẫn dắt học sinh tìm hiểu các vấn đề sau: + Là một văn bản nghị luận xã hội, phần nghị luận, Cô-phi An-nan đã nêu những vấn đề gì về việc phòng chống HIV/AIDS? + Các vấn đề đó được tác giả trình bày như thế nào? + Qua việc tìm hiểu cách điểm lại tình hình HIV/AIDS của tác giả ở bản thông điệp, các em học được điều gì về cách trình bày những hiện tượng đời sống trong một văn bản nghị luận? Đồng thời, qua văn bản, các em học được điều gì về cách lập luận trong văn nghị luận? - Từ hệ thống câu hỏi và bài tập thảo luận nhóm có tính chất tích hợp rèn luyện kĩ năng Làm văn nghị luận, GV định hướng để học sinh nắm được những vấn đề: + Văn bản nhật dụng kiểu bài nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống, lập luận theo kết cấu 3 phần: Nêu vấn đề - Giaỉ quyết vấn đề - Kết thúc vấn đề bàn bạc về: thực trạng, nguyên nhân, hậu quả và giải pháp cho việc của việc phòng chống HIV/AIDS bằng các đoạn văn nghị luận tương ứng với từng luận điểm. + Nhắc lại “Tuyên bố về Cam kết phòng chống HIV/AIDS” của các quốc gia nhằm nhắc nhở trách nhiệm của mọi người. + Nêu thực trạng các mặt đã làm được trong việc phòng chống HIV/AIDS ở các khu vực khác nhau trên thế giới, các quốc gia, các tổ chức cộng đồng nhằm động viên, khích lệ, cổ vũ tiếp tục phòng chống HIV/AIDS. · Ngân sách phòng chống HIV tăng đáng kể. · Qũy toàn cầu về phòng chống AIDS được thành lập. · Các nước đã xây dựng chiến lược quốc gia phòng chống HIV/AIDS... + Trình bày hậu quả và thực trạng tình hình HIV/AIDS bằng cách nêu số liệu cụ thể, chọn lọc để khẳng định đại dịch đang lan nhanh với cách nói gây ấn tượng: · “Trong năm qua, mỗi phút đồng hồ của một ngày trôi đi, có khoảng 10 người bị nhiễm HIV”. · “ HIV/AIDS đang lây lan với tốc độ báo động ở phụ nữ”... · Khẳng định: . Chúng ta sẽ không đạt được bất cứ mục tiêu nào vào năm 2005→ dự báo tình hình. . “phải đưa vấn đề AIDS lên vị trí hàng đầu trong chương trình nghị sự về chính trị và hành động thực tế của mình”. + Giaỉ pháp: · Nỗ lực nhiều hơn để thực hiện cam kết. · Công khai lên tiếng về AIDS. · Không kì thị phân biệt đối xử với người nhiễm bệnh. · Tha thiết kêu gọi mọi người chung tay chống HIV/AIDS. → “ Lẽ ra...” lối diễn đạt mở, cách lập luận ngắn gọn, bảo đảm yêu cầu toàn diện và bao quát, cách tổng kết tình hình có trọng tâm và điểm nhấn, nghệ thuật lập luận chặt chẽ, có sức thuyết phục với: - Suy nghĩ sâu sắc và cảm xúc chân thành. - Câu văn ngắn gọn, cảm xúc dồn nén, chất chứa thông tin. - Dẫn chứng thuyết phục, sát thực... àTầm nhìn rộng xứng với cương vị một Tổng thư kí Liên hợp quốc; II.3. Tích hợp rèn luyện kĩ năng làm bài viết số 2 nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống: “Đại dịch cúm AH1N1 và suy nghĩ của em”. Trong quá trình giảng dạy “Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS”, giáo viên cần liên hệ với hiện tượng đời sống đang diễn ra “nóng bỏng” hiện nay: Cúm AH1N1. Có thể liên hệ từ cách viết bài nghị luận xã hội về cúm AH1N1 với các vấn đề: * Yêu cầu về kĩ năng: Biết cách làm bài nghị luận xã hội, có bố cục 3 phần, kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi chính tả, dùng từ và ngữ pháp. * Yêu cầu về kiến thức: HS có thể có những suy nghĩ khác nhau nhưng cần làm rõ các vấn đề: 1. Thực trạng về đại dịch. 2. Nguyên nhân dẫn đến đại dịch. 3. Hậu quả và tình trạng xã hội trong dịch bệnh. 4. Giải pháp cho việc phòng chống đại dịch. 5. Trách nhiệm của HS và cộng đồng trong việc phòng chống dịch bệnh. - HS cần thể hiện rõ những hiểu biết của mình về vấn đề, thể hiện trách nhiệm của bản thân đối với mình, với cộng đồng trong việc tuyên truyền và tác động đến mọi người trong việc phòng chống cúm A H1N1. - Bài làm thể hiện rõ phương pháp làm bài nghị luận xã hội, biết phân tích, đánh giá vấn đề từ quan điểm cá nhân và trách nhiệm với cộng đồng. * Thông qua bài viết số 2, giáo viên có thể đánh giá trình độ học sinh về phương pháp làm bài nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống, kĩ năng vận dụng kiến thức đã học vào thực hành viết văn bản nhật dụng… II.4. Bài tập dự án nhỏ: Bài Luyện tập sách giáo khoa, trang 83 Viết một bản báo cáo về tình hình phòng chống HIV/AIDS ở địa phương. Học sinh có thể làm việc theo nhóm, thời gian một tuần, chuẩn bị tư liệu bằng cách đến các đơn vị có chức năng ở địa phương tìm hiểu thông tin, ghi chép lại, sau khi thu thập thông tin, học sinh viết văn bản. Sản phẩm của học sinh có thể là bài viết, là sản phẩm đa phương tiện để trình bày ở tiết học sau hoặc trong ngày thế giới phòng chống AIDS: 1.12. Bài tập dự án nhỏ cho phép học sinh đóng vai những nhà điều tra xã hội học, làm dự án. * Thông qua bài tập, học sinh bước đầu làm quen với cách học theo dự án, một trong những hình thức góp phần đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường phổ thông hiện nay. II.5. Tích hợp vận dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy. - Giáo viên chuẩn bị tư liệu hoặc cho học sinh thi đua giữa các tổ, nhóm học tập tìm hiểu tư liệu: hình ảnh, Video Clip...về HIV/AIDS. - Trong giờ học, việc giáo viên cho học sinh xem các tư liệu này (khi nhóm có sản phẩm đa phương tiện tốt trình bày) nhằm hỗ trợ việc khắc sâu kiến thức cho học sinh trong học tập. * Thông qua tư liệu mà học sinh chuẩn bị, giáo viên có thể đánh giá việc chuẩn bị bài và ý thức học tập của học sinh. Đồng thời, giaó viên soạn giáo án điện tử để giảng dạy và sử dụng tư liệu như một bộ đồ dùng dạy học để minh họa và lưu ý tính hợp lí của phần tư liệu được vận dụng, tránh tình trạng lạm dụng công nghệ thông tin, biến giờ học thành giờ trình chiếu tư liệu. C. KẾT LUẬN Qua thực tế giảng dạy, chúng tôi nhận thấy tính chất hợp lí và hiệu quả của việc tích hợp giảng dạy Làm văn trong một tiết Đọc hiểu. Hướng tích hợp phân môn, liên môn để học sinh có thể vận dụng kiến thức được học vào thực hành, liên hệ với thực tiễn đời sống là phù hợp với mục đích học tập trong xã hội hiện đại “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình” (UNESCO) mà tất cả giáo viên đều hướng tới trong quá trình giảng dạy. Sau khi vận dụng quan điểm tích hợp để giảng dạy văn bản nhật dụng “Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS”, chúng tôi nhận thấy: Nguyên tắc tích hợp trong giảng dạy Ngữ văn: - Chỉ tích hợp những nội dung thật sự liên quan, không gượng ép, không tích hợp tràn lan bảo đảm giờ dạy tự nhiên, hợp lí, không khiên cưỡng nhằm đạt hiệu quả cao trong giảng dạy. - Không làm tăng nội dung học tập dẫn đến quá tải. - Các vấn đề chọn để tích hợp phải được nghiên cứu kĩ, chọn lọc cẩn thận, có đầu tư về cách thức dẫn dắt, liên hệ, đảm bảo cho HS vừa nắm vững nội dung bài vừa tăng thêm kiến thức được tích hợp. - Tích hợp nhằm hỗ trợ các kiến thức liên môn để hỗ trợ việc rèn luyện kĩ năng cho HS. - Đảm bảo tính hấp dẫn của các hoạt động học tập và quan trọng nhất là đảm bảo đặc trưng của môn học. Việc tích hợp trong giảng dạy Đọc hiểu nói riêng và Ngữ văn nói chung đòi hỏi sự đầu tư của chính những giáo viên đứng lớp thể hiện cách nhìn chung về chương trình để chọn vấn đề tích hợp hợp lí và có thể có hiệu quả. Không có PPDH nào là tối ưu, không phải cứ tích hợp vào giảng dạy đã là đổi mới PPDH, thành công trong giờ dạy là nghệ thuật sư phạm của GV, vận dụng quan điểm tích hợp trong giảng dạy chỉ là một trong những hướng đi trong xu thế đổi mới hiện nay mà giáo viên nên vận dụng, điều này không hoàn toàn bắt buộc song chính nó sẽ làm mỗi giờ lên lớp của chúng ta phong phú hơn bởi chúng ta đang làm mới chính mình. Đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn là một quá trình đòi hỏi người thầy phải có nhận thức đúng: đổi mới từ từ, từng bước, không nóng vội mà thay đổi hoàn toàn, đổi mới trong việc kết hợp cả truyền thống và hiện đại. Mỗi bài, mỗi giờ lên lớp đổi mới một phần, mỗi chương đổi mới một bài nhằm bảo đảm 3 tiêu chí của một giờ học: dân chủ, tự do & hoạt động. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Soạn bài: "Thông điệp nhân Ngày Thế giới phòng chống AIDS, 1 - 12 - 2003"
|
|
|
|
Dàn ý tham khảo:I. Tìm hiểu chung. 1. Tiểu dẫn .- Cô-phi Anna: Sinh ngày 8/4/1938 tại Ga-na (một nước Cộng hoà châu Phi). +Qúa trình hoạt động: - Năm 1962: Bắt đầu làm việc ở tổ chức Liên hợp quốc -Năm 1966: Phó tổng thư kí Liên hợp quốc phụ trách gìn giữ hoà bình. -Từ 1/1/1997: Tổng thư kí Liên hợp quốc. Ông đảm nhiệm chức vụ này hai nhiệm kì liền cho tới tháng 1/2007 (10 năm). 2. Văn bản : a. Hoàn cảnh và mục đích sáng tác :- Cô-Phi Anna viết văn bản này gửi nhân dân toàn thế giới nhân ngày thế giới phòng chống HIV/AIDS 1/12/2003. -Mục đích: kêu gọi cá nhân và mọi người chung tay góp sức ngăn chặn hiểm hoạ, nhận thấy sự nguy hiểm của đại dịch này. b. Thể loại :- Văn bản nhật dụng. -Thông điệp: Là những lời thông cáo mang ý nghĩa quan trọng đối với nhiều người, nhiều quốc gia, dân tộc. c. Bố cục :Bài văn chia làm ba đoạn. d. Chủ đề :-Thông điệp nêu rõ hiểm hoạ của toàn nhân loại ® kêu gọi các quốc gia và mọi ngưòi coi đó là nhiệm vụ của chính mình, không nên im lặng, kì thị, phân biệt đối với những ngưòi bị HIV/AIDS. II. Đọc hiểu văn bản. 1. Đọc. 2. Tìm hiểu văn bản :a. Đặc điểm tình hình của văn kiện . -Căn cứ vào tình hình thực tế: +1/4 số thanh niên bị nhiễm HIV ở các nước. +1/4 số trẻ sơ sịnh bị nhiễm. Cứ một phút một ngày trôi qua lại có 10 nguời bị nhiễm. +Khi thông điệp này viết ra (2003) thì sự cố gắng của mọi người, mọi quốc gia chưa đủ. Vì thế thông điệp dự đoán "chúng ta không thể đạt đuợc mục tiêu nào vào 2005". b. Nhiệm vụ của mỗi quốc gia :-Không vì mục tiêu trong sự cạnh tranh mà quên đi thảm hoạ cướp đi cái đáng quý nhất là sinh mệnh và tuổi thọ của con nguời. - Có những câu văn gọn mà độc đáo: "Trong thế giới đó, im lặng đồng nghĩa với chết ". Có những câu tạo ra hình ảnh gợi cảm: "Hãy cùng với chúng tôi giật đổ các thành luỹ của sự im lặng, kì thị và phân biệt đối xử đang vây quanh bệnh dịch này". Lại có những câu văn tạo được độc đáo và giàu hình ảnh: "Hãy đừng để một ai có ảo tưởng rằng chúng ta có thể bảo vệ được chính mình bằng cách dựng lên các bức rào giữa chúng ta và họ. Trong thế giới AIDS khốc liệt này không có khái niệm giữa chúng ta và họ". c. Ý nghĩa của bản thông điệp :-Là tiếng nói kịp thời trước một nguy cơ đang đe doạ cuộc sống của loài người, thể hiện thái độ sống tích cực, một tinh thần trách nhiệm cao tình yêu thương nhân loại sâu sắc. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Nêu cảm nhận của mình về bài nghị luận của Phạm Văn Đồng “ Nguyễn Đình chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc”
|
|
|
|
Bài tham khảo:Nguyễn Đình chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc là bài viết của Phạm Văn Đồng đăng trên Tạp chí Văn học số 7 – 1963 nhân kỷ niệm 75 năm ngày mất của Nguyễn Đình Chiểu (3 – 7 – 1988). Bằng sự từng trải cách mạng, sự gắn bó sâu sắc với đất nước, với nhân dân và cách nghĩ sâu rộng của một nhà văn nghệ lớn, tác giả đã nhìn nhận cuộc đời và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu trong mối liên hệ khăng khít với hoàn cảnh của Tổ quốc lúc bấy giờ và với thời đại hiện nay; từ đó phát hiện ra những điều mới mẻ về nhà thơ yêu nước lớn ở miền Nam, giúp ta càng thêm yêu quý con người và tác phẩm của ông. Bài viết ra đời cách đây hơn 40 năm nhưng vẫn còn nguyên giá trị cả về mặt khoa học và mặt tư tưởng. Văn bản gồm ba phần, ứng với ba luận điểm lớn: -Phần 1: Từ đầu đến “khôn lường thực hư”, nói về con người và quan niệm văn chương của nguyễn Đình Chiều. -Phần 2: Từ “Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu” đến “hai vai nặng nề” nói về thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu. -Phần 3: Phần còn lại, nói về Truyện thơ Lục Vân Tiên. Nhìn chung, cách sắp xếp các luận điểm như vậy là phù hợp với logic nội dung bài viết. Lưu ý ở đây, tác giả nói về thơ văn yêu nước của nguyễn Đình Chiểu trước, sau đó mới nói đến truyện Nôm Lục Vân Tiên. Phải chăng tác giả muốn người đọc chú ý hơn đến thơ văn yêu nuwocs của Đồ Chiểu? Tác giả cho rằng văn thơ của Nguyễn Đình chiểu cũng giống như “những vì sao có ánh sáng khác thường”, “con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy”. Đó là một khái niệm có ý nghĩa phương pháp luận trong cách nhhinf về nhà thơ yêu nước này. Đây chính là vẻ đẹp mộc mạc, giản dị, dân dã của nhà thơ nguyễn Đình Chiểu, vẻ đẹp của loại văn chương hướng về đại chúng, gắn bó máu thịt với nhân dân, phục vụ cuộc sống của người dân, mang tính nhân dân sâu sắc. Văn chương Đồ Chiểu không trau chuốt, óng mượt mà chân chất, phác thực, có chỗ tưởng như thô kệch, nhưng lại chứa đựng trong đó những tư tưởng, tình cảm nồng hậu, cao quý đối với nhân dân. “Nó không phải là vẻ đẹp của những cây lúa xanh uốn mình trong gió nhẹ. Nó đẹp vẻ đẹp của đống thóc mẩy vàng”. (Nguyễn Đình Chú). Vẻ đẹp khác thường này đáng quý lắm, và càng đáng quý hơn khi ta biết nhà thơ đã sáng tác trong hoàn cảnh mù lòa, cuộc sống gặp nhiều khó khăn và bất hạnh. Vì vậy vẻ đẹp của văn chương “thô mà tinh” ấy khiến “con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn mới thấy”. Lâu nay, chúng ta đã quen nhìn loại văn chương trau chuốt, gọt giũa, lời lẽ hoa mĩ với hình tượng hùng vĩ, tráng lệ, phi thường…nên thật khó cảm nhận được tính ý sâu sắc xa, thấy hết vẻ đẹp đích thực của văn thơ Đồ Chiểu. Vì vậy, “phải chăm chú nhìn thì mới thấy”, tức phải dày công, kiên trì nghiên cứu, phải chăm chú nhìn bằng cái nhìn khoa học đúng đắn mới khám phá được vẻ đẹp thơ văn Nguyễn Đình Chiểu. -Ý nghĩa phương pháp trong việc nghiên cứu, đánh giá thơ văn Nguyễn Đình Chiểu: Điều chỉnh cách nhìn để có một định hướng đúng đắn trong việc nghiên cứu, tiếp cận một nhà thơ như Nguyễn Đình Chiểu. Một cuộc sống đẹp, đầy nghị lực, dù gặp nhiều khó khăn và bất hạnh nhưng vẫn đứng thẳng, ngẩng cao đầu mà sống, không phải vì mình mà vì dân vì nước, theo lý tưởng “Kiến nghĩa vất vi vô dõng dã!”, tỏ thái độ bất khuất, bất hợp tác quyết liệt trước sự mua chuộc của thực dân Pháp. Cùng với cuộc sống đẹp đó là một quan niệm sáng tác đúng đắn và tiến bộ: “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm – Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà!” Đó là thơ văn chiến đấu, đánh thẳng vào giặc ngoại xâm và tôi tớ của chúng. Đối với Nguyễn Đình Chiểu, cầm bút, viết văn là một thiên chức. Và ông đã làm đúng thiên chức đó. -Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu phục vụ đắc lực cuộc chiến đấu chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta, làm sống lại trong tâm trí cảu chúng ta phong trào kháng Pháp oanh liệt và bền bỉ của nhân dân Nam Bộ từ 1860 về sau, suốt hai mươi năm trời, với những bài văn tế mà tiêu biểu là Văn tế nghĩa sỹ Cần Giuộc, những bài điếu, tác phẩm Ngư Tiều y thuật vấn đáp…Đó là những tác phẩm sôi sục lòng căm thù và dạt dào lòng yêu nước với những hình tượng cao đẹp của người nông dân – nghĩa sỹ đánh giặc, những lãnh tụ của nghĩa quân, những tấm gương bất khuất trước kẻ thù… Nói đến truyện thơ Lục Vân Tiên – Phạm Văn Đồng xem như là một bài ca hào hùng mà tha thiết về lý tưởng đạo đức của tác giả - cũng là lý tưởng đạo đức của nhân dân, ca ngợi những con người trọng nghĩa, khinh tài, trước sau một lòng, mặc dầu khổ cực, gian nguy, quyết phấn đấu vì nghĩa lớn như Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, Tiểu Đồng, Vương Tử Trực, Hớn Minh…Bằng cách nhìn mới mẻ và đứng đắn, tác giả đã có sự nhìn nhận và đánh giá lại “giá trị văn nghệ của bản trường ca thật là hấp dẫn từ đầu đến cuối” này. Đây là một sự “điều chỉnh” cần thiết để khôi phục lại giá trị nghệ thuật vốn có của tác phẩm. -Cho đến nay, vẫn còn nhiều người chưa hiểu hết giá trị của văn chương Nguyễn Đình Chiểu, trong đó có không ít người, còn nhìn nhận phiến diện về thơ văn ông, thậm chí còn “chê” văn thơ ông là thô ráp, nôm na… Hãy sáng tỏ hơn nữa trong thời đại ngày nay để khôi phục lại giá trị đích thực của nhà thơ yêu nước lớn miền Nam từng có ảnh hưởng to lớn và sâu rộng trong nhân dân ta, không chỉ thời bấy giờ mà ngay cả trong cuộc sống hiện nay. Bài văn nghị luận không chỉ xác đáng, chặt chẽ mà còn xúc động, thiết tha với nhiều hình ảnh, ngôn từ đặc sắc, khiến người đọc còn nhớ mãi. ( “Giúp em tự học Ngữ văn lớp 12” – Nguyễn Xuân Lạc chủ biên)
|
|
|
|
giải đáp
|
Soạn bài: "Nguyễn Đình Chiểu , ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc"
|
|
|
|
Bài tham khảo:Mục tiêu bài học:-Tiếp thu được cách nhìn nhận, đánh giá đúng đắn, sâu sắc mới mẻ của PVĐ về con người và thơ văn NĐC từ đó thấy rõ ràng trong bầu trời văn nghệ của dân tộc Việt Nam, NĐC là một vì sao “càng nhìn càng sáng”. - Thấy sức thuyết phục, lôi cuốn của bài văn: các lí lẽ xác đáng, lập luận chặt chẽ, ngôn từ trong sáng, giàu hình ảnh, giàu nhiệt huyết, kết hợp hài hòa giữa sự trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống với những vấn đề trọng đại đang đặt ra cho thời kì mình - Củng cố kĩ năng viết bài văn nghị luận - Hiểu và trân trọng cụ Nguyễn Đình Chiểu I.Tìm hiểu chung:
1.Tác giả- Phạm Văn Đồng( 1906-2000). - Quê: Đức Tân, Mộ Đức, Quảng Ngãi. - PVĐ là nhà cách mạng lớn của nước ta trong thế kỉ XX ,đặc biệt trong lĩnh vực chính trị,ngoại giao. Ông có nhiều cống hiến to lớn trong việc xây dựng và quản lí nhà nước Việt Nam , đồng thời cũng là nhà giáo dục tâm huyết , nhà lí luận văn hóa văn nghệ lớn - PVĐ để lại những tác phẩm lớn , quan trọng, nhiều định hướng, đường lối quan trọng về phát triển nền văn học nghệ thuật mới . - Tác phẩm tiêu biểu: + “ Tổ quốc ta, nhân dân ta và người nghệ sĩ”. Trong tác phẩm này có bài viết về: Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Chí Minh. + Các bài: Hiểu biết, khám phá và sáng tạo để phục vụ tổ quốc và chủ nghĩa xã hội(1968), Tiếng Việt một công cụ cực kì lợi hại trong công cuộc cách mạng tưtưởng, văn hóa( 1979)… 2.Văn bản
a. Hoàn cảnh và mục đích sáng tác
- Bài viết đăng trên tạp chí văn học số 7-1963, nhân kỉ niệm ngày mất của Nguyễn Đình Chiểu – nhà thơ mù yêu nước sâu sắc , người đã dựng nên bức tượng đài bi tráng về người nghĩa dân vùng lên đánh Pháp cứu nước trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc .( 3/7/1888). - Tác phẩm được đánh giá là : áng văn tiêu biểu trong văn xuôi nghị luận nửa cuối thế kỉ XX ở nước ta , được chọn in trong tuyển tập Tiểu luận –Phê bình “ Văn học Việt Nam sau cách mạng tháng tám” ( NXB văn học , hà Nội 1993 ) - Năm 1963, tình hình chiến tranh ở miền Nam có nhiều biến động lớn : Mỹ leo thang khủng bố phong trào cách mạng , Phong trào Đồng Khởi Bến Tre ( nơi Nguyễn Đình Chiểu trút hơi thở cuối cùng ) diễn ra sôi trào , ác liệt : Quê ta sông dậy tiếng chèo ghe , Ghe đưa trăm xác đi đòi mạng , Rầm rập ngày đêm lên Bến Tre . Người chết đi cùng người sống đây Tử sinh một dạ trả thù này , Võ trang mấy trận vang Bình Đại , Cờ phất bừng tươi đất Mỏ Cày . ( Lá thư Bến Tre – Tố Hữu )
- Trong giới nghiên cứu , một số người còn đánh giá thấp giá trị văn chương Nguyễn Đình Chiểu hoặc hiểu chưa đúng vai trò của văn chương Nguyễn Đình Chiểu với lịch sử văn học nước nhà . Nhiều nhà nghiên cứu quan niệm văn chương cần phải gọt giũa , trau truốt , hoa mĩ . Trong khi tiêu chí ấy lại không thể áp dụng vào trường hợp Nguyễn Đình Chiểu vì ông là nhà thơ mù , điều kiện chỉnh sửa gọt giũa ngôn từ rất hạn chế . - Tác phẩm nhằm mục đích : tưởng nhớ Nguyễn Đình Chiểu , định hướng điều chỉnh cách nhìn nhận về giá trị , vị trí thơ văn Nguyễn Đình Chiểu . khơi dậy tinh thần yêu nước , đấu tranh chống Mĩ cứu nước . b. Luận đề tác phẩm- Nguyễn Đình Chiểu là ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc c.Bố cục: 3 phần Phần mở bài: từ đầu đến “một trăm năm”. => Nêu vấn đề:Cách nhìn mới mẻ , khoa học về Nguyễn Đình Chiểu . Phần thân bài: tiếp đến “ còn vì văn hay của “ Lục Vân Tiên” =>trình bày những quan điểm mới mẻ về văn thơ Nguyễn Đình Chiểu : - Luận điểm 1: Con người và quan niệm văn chương của Nguyễn Đình Chiểu . - Luận điểm 2: Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu. - Luận điểm 3: Truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu. Phần kết bài: phần còn lại. => Nêu cách đánh giá đúng đắn con người và sự nghiệp thơ văn của NĐC.Qua đó thể hiện tình cảm đối với NĐC * Nhận xét về kết cấu : - Thông thường , trong bài văn nghị luận về một tác giả văn học nào đó , người ta thường phân tích các tác phẩm chính của tác giả , sau mới đánh giá về con người , vai trò của nhà văn . Nhưng ở bài viết này , tác giả Phạm Văn Đồng làm ngược lại , trình bày con người –quan điểm sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu trước , sau đó mới trình bày về các tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Đình Chiểu . - Bài viết cũng không trình bày các luận điểm theo trật tự thời gian ( tác phẩm sáng tác trước thì trình bày trước ) . Ở đây , tác phẩm Lục Vân Tiên được sáng tác trước thì lại được PV Đ đưa vào cuối bài viết . => Với trật tự này , Phạm Văn Đồng muốn nhấn mạnh Nguyến Đình Chiểu là con người đặc biệt , để hiểu thơ văn ông trước hết phải hiểu con người ông , văn thơ ông gắn liền với thực tế , vận mệnh dân tộc . II. Đọc-Hiểu văn bản1.Phần mở đầu (Nêu vấn đề) : Cách nhìn khoa học mới mẻ về N Đ C - Cách đặt vấn đề trực tiếp : Khẳng định N Đ C là ngôi sao , một nhà thơ lớn , cần được sáng tỏ hơn nữa ; - Dùng hình ảnh ẩn dụ so sánh : + N Đ C như “ Ngôi sao” – tinh tú , kết tinh tinh hoa vẻ đẹp của trời đất , vũ trụ . + ”Ngôi sao N Đ C có ánh sáng khác thường” => ánh sáng đẹp nhưng chưa quen nhìn nên khó phát hiện ra . + “ Cần phải chăm chú nhìn mới thấy” => cách nói ẩn dụ , nghĩa là cần phải nghiên cứu kĩ lưỡng , nghiêm túc mới khám phá được vẻ đẹp văn thơ Nguyễn Đình Chiểu . - Nêu phản đề , lí do chưa đánh giá đúng giá trị văn thơ N Đ C : + Một là “ chỉ biết Nguyễn Đình Chiểu là tác giả của Lục Vân Tiên và hiểu Lục Vân Tiên khá thiên lệch về nội dung và văn …” . + Hai là “ còn rất ít biết thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu”. * Nhận xét đoạn mở đầu : - Đoạn văn ngắn gọn , nêu vấn đề một cách dễ hiểu , hấp dẫn , thuyết phục , mang tính gợi mở , khái quát được những nội dung sẽ diễn giải ở phần sau ( đánh giá Lục Vân Tiên , đánh giá thơ văn yêu nước Nguyễn Đình Chiểu) . - Đoạn văn đã nêu được Nội dung vấn đề : Nguyễn Đình Chiểu là một nhân cách trong sáng, một nhà thơ yêu nước, tác gia văn học cần được nghiên cứu tìm hiểu và đề cao hơn nữa. - Cách nhìn nhận về Nguyễn Đình Chiểu đúng đắn , sâu sắc , khoa học ,mới mẻ . - Cách nhìn này vừa bộc lộ niềm ngưỡng mộ tài năng , tâm huyết của danh nhân Nguyễn Đình Chiểu , vừa mang tính định hướng cho việc nghiên cứu tiếp cận thơ văn Nguyễn Đình Chiểu . 2. Cách triển khai vấn đề :a. Luận điểm 1: Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ yêu nước . - Luận cứ 1 quê hương, thời cuộc và mất mát riêng và tư tưởng . + Nhà nho sống trong cảnh nước nhà lâm nguy , khắp nơi nhân dân đấu tranh đánh giặc cứu nước + Nhà thơ mù + Dùng văn thơ ghi lại tâm huyết với dân tộc , ghi lại thời kì lịch sử khổ nhục –vĩ đại , làm vũ khí chiến đấu. => Vẻ đẹp tấm gương trong sáng : tinh thần yêu nước căm thù giặc , nghị lực vượt khó để vươn lên phi thường . - Luận cứ 2 : quan điểm thơ văn . + Nhà văn trước hết phải có nhân cách : Cảnh riêng và cảnh đất nước càng đen tối thì khí tiết càng phải cao cả , rạng rỡ : Sự đời thà khuất đôi tròng thịt – Lòng đạo xin tròn một tấm gương” và “ Kiễn nghĩa bất vi vô dõng dã” ( Thấy việc nghĩa mà không làm thì không phải là kẻ anh hùng ) => Nguyễn Đình Chiểu coi trọng nhân cách và trách nhiệm của nhà văn với thời cuộc . + Trong thơ văn phải ngụ khen chê rõ ràng : Học theo ngòi bút chí công – Trong thơ cho ngụ tấm lòng Xuân Thu” + Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu là thơ văn chiến đấu, đánh thẳng vào giặc ngoại xâm và tôi tớ của chúng : Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm – Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” và “ Thấy nay cũng nhóm văn chương – Voc dê da cọp khôn lường thực hư !” => Quan điểm rất tích cực , tiến bộ ,sâu sắc , gắn nhà văn và văn chương với hiện thực cuộc sống , với vận mệnh dân tộc , coi trọng chức năng giáo huấn , phê phán , cảnh tỉnh của văn chương . b.Luận điểm 2 : Nội dung thơ văn yêu nước Nguyễn Đình Chiểu . - Luận cứ 1 : Phạm Văn Đồng khẳng định thơ văn Nguyễn Đình Chiểu tái dựng sống động không khí kháng Pháp oanh liệt , bền bỉ của nhân dân Nam Bộ : + Quân triều đình đánh Pháp thua , đầu hàng, cắt đất cho giặc . + Các tầng lớp nhân dân ( nông dân , sĩ phu) vùng dậy đánh giặc . + Sự lan rộng của cuộc chiến tranh nhân dân . - Luận cứ 2: Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu ca ngợi những người anh hùng cứu nước ; khóc than tiếc thương những liệt sĩ tận trung, trọn nghĩa với dân với nước : Trương Định , Thủ khoa Huân , Nguyễn Trung Trực , ... - Luận cứ 3 : Đánh giá tác phẩm “ Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” + “ Khúc ca của những người anh hùng thất thế nhưng vẫn hiên ngang” . “Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc” . “Muôn kiếp nguyện được trả thù kia” + Liên tưởng , so sánh với áng văn chính luận bất hủ : Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi . - Luận cứ 4 : “Xúc cảnh” : đoá hoa, hòn ngọc, … => Nhận xét : - Cách đánh giá thơ văn yêu nước Nguyễn Đình Chiểu sâu sắc, khoa học , chặt chẽ và toàn diện . - Dẫn chứng tiêu biểu , xúc động , giọng văn khi hào hùng sôi sục , khi nghẹn ngào thương cảm . - Phạm Văn Đồng qua đó : Bộc lộ thái độ ngợi ca ngòi bút của Nguyễn Đình Chiểu và tâm huyết với truyền thống yêu nước , bất khuất cảu nhân dân ta c. Luận điểm 3 : Đánh giá tác phẩm lớn nhất của Nguyễn Đình Chiểu : Lục Vân Tiên . - Luận cứ 1 : giá trị nội dung của tác phẩm Lục Vân Tiên : + ca ngợi chính nghĩa , những đạo đức đáng quí ở đời , ca ngợi những con người trung nghĩa . + hình tượng nhân vật không khô cứng theo khuôn mẫu của văn học Nho gia mà gần gũi , giản dị , sống động. - Luận cứ 2 : giá trị nghệ thuật. +Lối văn nôm na giản dị , là văn nói , văn kể . + Nhiều người thuộc , nhớ, truyền miệng nhau tác phẩm , nhân dân miền Nam say sưa tác phẩm . => Nhận xét : - Phạm Văn Đồng đã chỉ rõ rằng : Người ta say sưa nghe Lục Vân Tiên không chỉ về nội dung mà vì văn hay của Lục Vân Tiên , hay chính ở sự giản dị , mộc mạc , chân chất , dễ hiểu , dễ thuộc , gần gũi với lời ăn tiếng nói của nhân dân.. Đây là nhận định có cơ sở khoa học xác đáng . - Đó cũng chính là định hướng phê bình văn học: Khi đánh giá giá trị một tác giả , tác phẩm văn chương , không nên chỉ căn cứ vào tính hoa mĩ trau truốt của ngôn từ mà còn phải căn cứ vào ảnh hưởng của nội dung tác phẩm đến tâm thức người đọc , sức sống của tác phẩm trong người đọc . 3. Kết thúc vấn đề :- Khẳng định lại vị trí , vai trò của Nguyễn Đình Chiểu trong lịch sử văn học : + Một chí sĩ yêu nước , một nhà thơ lớn của nước ta . + Thơ văn ông nêu cao sứ mạng của văn học , người nghệ sĩ –chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng . - Bộc lộ lòng tưởng nhớ , tự hào về Nguyễn Đình Chiểu . III.Tổng kết- Bài văn là một tiểu luận văn chương đặc sắc , có sức lôi cuốn mạnh mẽ do cách nghị luận xác đáng , chặt chẽ , xúc động thiết tha , nhiều hình ảnh ngôn từ đặc sắc , đặt sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu trong mối liên hệ với cuộc kháng chiến chống Mĩ. - Đây là bài viết có nội dung mới mẻ, sâu sắc , xúc động , ngợi ca Nguyễn Đình Chiểu –người trọn đời dùng ngòi bút làm vũ khí chiến đấu cho dân , cho nước , một ngôi sao sáng trong nền văn nghệ dân tộc Việt Nam - Tác phẩm còn bộc lộ thái độ trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống và mối liên quan sâu sắc giữa truyền thống với những vấn đề trọng đại của dân tộc . Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Nêu quan điểm của em về thơ văn Nguyễn Đình Chiểu.
|
|
|
|
Dán ý tham khảo:+ Phân tích đề: - Nội dung: các ý chính của bài văn nghị luận: Chứng minh một nhận định về thơ văn Nguyễn Đình Chiểu. - Hình thức: nêu và làm rõ. + Hướng dẫn: Cần nêu và làm rõ 2 ý chính - Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu là một ngôi sao “có ánh sáng khác thường”, phải chăm chú nhìn mới thấy” • Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu có đôi chỗ thô mộc, “sơ sót về văn chương”. • Về nội dung tư tưởng cũng như về hình thức nghệ thuật còn nhiều điểm xa lạ, khó hiểu với bạn đọc ngày nay “Tất nhiên những giá trị luân lí mà Nguyễn Đình Chiểu ca ngợi, ở thời đại chúng ta, theo quan điểm của chúng ta thì có phần đã lỗi thời”. Những lí do khiến “ngôi sao” thơ văn Nguyễn Đình Chiểu trên bầu trời văn nghệ dân tộc không phải ai cũng thấy, cũng cảm được “ánh sáng” của nó. Tuy nhiên thơ văn Nguyễn Đình Chiểu không hoàn toàn xa lạ với giới trẻ. - Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu là vì sao “càng nhìn càng thấy sáng” • Tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu đã phản ánh chân xác diện mạo cuộc sống và con người trong một giai đoạn lịch sử đau thương của dân tộc: “ Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu làm sống lại trong tâm trí của chúng ta phong trào kháng Pháp oanh liệt và bền bỉ của nhân dân Nam Bộ từ 1860 về sau, suốt haui mươi năm trời.”, “những tác phẩm đó ( …) quí giá ở chỗ nó(…) ghi lại lịch sử của một thời khổ nhục nhưng vĩ đại!” • Giúp bạn đọc nhận ra những chân lí của đời sống, yêu mến lễ phải và đấu tranh vì một lí tưởng cao quí cho con người và cho đất nước: “Không phải ngẫu nhiên mà thơ văn yêu nước của Nguyễn Dình Chiểu, một phần lớn là các bài văn tế, ca ngợi những người anh hùng suốt đời tận trung với nước, và than khóc những người nghĩa sĩ đã trọn nghĩa với dân”; “Nguyễn Đinh Chiểu cũng như nhiều bậc hiền triết ngày xưa ở Phương Đông hoặc phương Tây, vẫn để lại cho đời sau những điều giáo huấn đáng trọng”; “các nhân vật của Lục Vân Tiên(…) là những người đáng kính, đáng yêu, trọng nghĩa, khinh tài, trước sau một lòng mặc dầu khổ cac, gian nguy, quyết phấn đấu vì nghĩa lớn. • Giá trị nghệ thuật cao. Lưu ý: Ở mỗi một luận cứ, hs lấy dẫn chứng khái quát và phân tích một dẫn chứng cụ thể để làm sáng tỏ. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Đề phân tích bài "Nguyễn Đình Chiểu - ngôi sao sáng của nền văn nghệ dân tộc"
|
|
|
|
Bài tham khảo:Đề: Phân tích cách tổ chức luận điểm của văn bản “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong bầu trời văn nghệ của dân tộc”.+ Phân tích đề: - Nội dung: Cách tổ chức luận điểm của văn bản. - Hình thức: Phân tích cụ thể. + Hướng dẫn: - Vai trò của cách tổ chức luận điểm trong một bài nghị luận văn học. • Luận điểm là gì? Các ý lớn trong một văn bản. • Hệ thống luận điểm: Tập hợp các ý lớn trong bài văn, được triển khai theo một trình tự logic, có mối quan hệ gắn bó qua lại chặt chẽ. • Cách tổ chức hệ thống luận điểm là một trong những yếu tố đặc biệt quan trọng quyết định sự thành bại của văn bản nghị luận. - Giới thiệu tác phẩm > khẳng định: đây là một văn bản nghị luận văn học thành công. Yếu tố đầu tiên tạo nên thành công âý là cách tổ chức hệ thống luận điểm chặt chẽ. - Phân tích: Phân tích theo 3 ý trong phần kiến thức cơ bản: + Hệ thống luận điểm + Sự thống nhất giữa các luận điểm. + Kết cấu độc đáo. Nhận xét: - Cách tổ chức luận điểm linh loạt mà chặt chẽ, tùy thuộc vào mục đích nghị luận. - Thành công trong việc tổ chức luận điểm tạo nên tính logic, mạch lạc và thành công cho văn bản “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong bầu trời văn nghệ của dân tộc”. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Đọc - hiểu "Nguyễn Đình Chiểu - ngôi sao sáng của nên văn nghệ dân tộc"
|
|
|
|
Bài tham khảo:1. Khái quát về tác giả và văn bản
a. Tác giả+ Phạm Văn Đồng không chuyên về lí luận phê bình mà suốt đời theo đuổi sự nghiệp cách mạng, lĩnh vực chính trị, ngoại giao. + Tuy nhiên, vẫn có những tác phẩm đáng chú ý về văn học và nghệ thuật bởi: - Quan niệm viết cũng là một cách phục vụ cách mạng. - Quan tâm, am hiểu và yêu thích văn học nghệ thuật. - Vốn sống lịch lãm, tầm nhìn sâu sắc, nhân cách lớn > đủ để đưa ra những nhận đinh đúng đắn, mới mẻ, sắc sảo về những vấn đề văn nghệ. Điều kiện để có một bài văn nghị luận văn học tốt: có hiểu biết sâu rộng về văn học và các lĩnh vực khác; có quan niệm đúng đắn về thế giới cũng như đời sống con người. b. Văn bản Viết nhân kỉ niệm 75 năm ngày mất của Nguyễn Đình Chiểu (1953) 2. Phân tícha. Cách tổ chức luận điểm + Hệ thống luận điểm: 3 luận điểm tương ứng với 3 câu chủ đề.- Ý 1 (từ đầu – Vóc dê da cọp khôn lường thực hư): Con người và quan niệm văn chương của Nguyễn Đình Chiểu. “ Cuộc đời và thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu là của một chiến sĩ hi sinh phấn đấu vì một nghĩa lớn” - Ý 2 (tiếp – Núi sông còn gánh hai vai nặng nề): Thơ văn yêu nước Nguyễn Đình Chiểu. “ Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu làm sống lại trong tâm trí của chúng ta phong trào kháng Pháp oanh liệt và bền bỉ của nhân dân Nam Bộ từ 1860 về sau, suốt haui mươi năm trời.” - Ý 3 (còn lại): Truyện thơ Lục Vân Tiên. “ (…) Lục Vân Tiên, một tác phẩm lớn nhất của Nguyễn Đình Chiểu, rất phổ biến trong dân gian, nhất là ở miền Nam”. + Sự thống nhất giữa các luận điểm: 3 luận điểm quy tụ làm sáng tỏ một nhận định trung tâm: “ Trên trời có những vì sao có ánh sáng khác thường, nhưng con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy, và càng nhìn thì càng thấy sáng. Văn thơ Nguyễn Đình Chiểu cũng vậy”. + Kết cấu độc đáo: không theo trật tự thời gian sáng tác (Truyện Lục Vân Tiên được sáng tác trước nhưng được phân tích sau, phần viết về Truyện Lục Vân Tiên – “ tác phẩm lớn” lại viết không kĩ bằng phần viết về văn thơ yêu nước…) Mục đích nghị luận quyết định hệ thống luận điểm, cách sắp xếp và mức độ nặng nhẹ của từng luận điểm. b. Tìm hiểu các luận điểm về con người và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu+ Con người và quan niệm thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu: - Con người: không viết lại tiểu sử mà nhấn mạnh vào đặc điểm nổi bật: “khí tiết của một người chí sĩ yêu nước”, trọn đời hi sinh phấn đấu vì nghĩa lớn. - Quan niệm văn chương: thống nhất với con người Nguyễn Đình Chiểu > văn thơ phải là vũ khí chiến đấu sắc bén. + Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu - Nêu bối cảnh lịch sử thời Nguyễn Đình Chiểu cầm bút: “ khổ nhục nhưng vĩ đại” > thơ văn Nguyễn Đình Chiểu “làm sống lại phong trào kháng Pháp bền bỉ và oanh liệt của nhân dân Nam Bộ từ 1860 trở về sau” > nhà văn lớn, tác phẩm lớn khi phản ánh trung thành những đặc điểm bản chất của một giai đoạn lịch sử trọng đại. - Nêu nội dung chính thơ văn Nguyễn Đình Chiểu: • Sáng tác là lời ngợi ca những nghĩa sĩ nông dân dũng cảm, đồng thời là lời than khóc cho những anh hùng thất thế bỏ mình vì dân vì nước. • Mang tính chiến đấu sâu sắc: xây dựng hình tượng “sinh động và não nùng” về những con người “ suốt đời tận trung với nước, trọn nghĩa với dân, giữ trọn khí phách hiên ngang cho dù chiến bại”. - Phân tích một tác phẩm tiêu biểu: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc > thấy tính chiến đấu và sự sáng tạo trong việc xây dựng hình tượng anh hùng hoàn toàn mới trong văn học: nghĩa sĩ nông dân. - Nhấn mạnh vào yếu tố chi phối toàn bộ thơ văn Nguyễn Đình Chiểu: tâm hồn lớn - “Ngòi bút, nghĩa là tâm hồn trung nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu” >Nhận xét: + Phạm Văn Đồng nhìn nhận Nguyễn Đình Chiểu không phải với con mắt hoài cổ, tiếc thương những giá trị cũ mà luôn nhìn từ trung tâm của cuộc sống hôm nay- cuộc chiến đấu hào hùng của dân tộc để thấu hiểu những giá trị của thơ văn ông. + Viết về Nguyễn Đình Chiểu với sự sắc sảo của hiểu biết, lí lẽ, dẫn chứng và cả tình cảm xúc động mạnh mẽ > giọng văn nghị luận không khô khan mà thấm được cảm xúc. Một trong những yếu tố làm nên thành công của văn bản nghị luận văn học: sự am hiểu và sự xúc động mãnh liệt chân thực về đối tượng. + Lục Vân Tiên: - Nêu nguyên nhân tác phẩm được xem là “tác phẩm lớn nhất” của Nguyễn Đình Chiểu và được phổ biến rộng rãi trong dân gian: “trường ca ca ngợi chính nghĩa, những đạo đức đáng quí trọng ở đời, ca ngợi những người trung nghĩa”. - Bàn luận về những điều mà nhiều người cho là hạn chế trong tác phẩm: • Thừa nhận sự thật: “Những giá trị luân lí mà Nguyễn Đình Chiểu ca ngợi, ở thời đại của chúng ta, theo quan điểm của chúng ta thì có phần đã lỗi thời”, “văn chương của Lục Vân Tiên” có những chỗ “lời văn không hay lắm” > trung thực, công tâm khi phân tích. • Khẳng đinh: đó là những hạn chế không thể tránh khỏi và không phải là chính yếu bằng các lí lẽ và dẫn chứng cụ thể, xác thực: hình tượng con người gần gũi với con người mọi thời, vấn đề xã hội phổ quát xưa nay > “gần gũi với chúng ta”, làm cho chúng ta “cảm xúc và thích thú”; lối kể chuyện “nôm na”, dễ nhớ, dễ truyền bá trong dân gian > người miền Nam “say sưa” nghe kể Truyện Lục Vân Tiên. > Thủ pháp đòn bẩy: nêu hạn chế khẳng đinh giá trị trường tồn của Truyện Lục Văn Tiên. Đánh giá Truyện Lục Vân Tiên trong mối quan hệ với nhân dân> cách tiếp cận tối ưu với tác phẩm này. Muốn viết một bài văn nghị luận văn học sắc sảo cần có cách tiếp cận đối tượng đúng đắn. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Phân tích giúp em ông Hai trong tác phẩm Làng?
|
|
|
|
Tham khảo: Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện ngắn về nông thôn và cuộc sống của
những người nông dân. truyện ngắn 'làng' được ông viết năm 1984- thời
kì đầu cho cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong truyện ngắn này, ông đã
xây dựng thành công nhân vật ông Hai- một con người giàu lòng yêu làng,
yêu nước tha thiết, chính vì vậy khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc ông
cảm thấy rất đau khổ, nhục nhã.
Ngôi làng đối với mỗi người nông dân rất quan trọng. Nó là ngôi nhà
chung cho cộng đồng, họ mạc. đời này qua đời khác, người nông dân gắn bó
với cái làng như máu thịt, ruột rà. Nó là nhà cửa, đất đai, là tổ tiên,
là hiện thân cho đất nước đối với họ. Vốn là một người có tình yêu
làng, yêu nước sâu sắc, ông Hai không muốn đi tản cư bởi ông nghĩ:' mình
sinh ra ở đây từ bé, giờ gặp lúc hữu sự mà bỏ đi thì còn ra gì nữa'
Nhưng khi nghe các chến sỹ cán bộ giảng giải, ông hiểu rằng ' đi kháng
chiến cũng là kháng chiến ' nên ông mới đồng ý.
Những ngày đầu ở nơi tản cư, do mới lên lạ đất , lạ người lại không có
việc gì để làm nên ông hớ làng da diết, cháy bỏng, ông nhớ những ngày
làm việc cùng với anh em, ông cảm thấy như mình được trẻ ra. Hơn thế
nữa, gia đình ông lại ở nhờ nhà của một mụ xấu tính nên ông phải sống
trong tâm trạng ngột ngat, khó chịu. Lúc này, niềm vui của ông chỉ là
hàng ngày đi nghe tin tức thời sự kháng chiến và khoe cái làng chợ Dầu
của ông đánh Tây. Hôm nay, ở phòng thông tin ông nghe được rất nhiều tin
chiến thắng từ trẻ con đến người phụ nữ ; điều này 'làm rột gan ông cứ
múa cả lên, vui quá'. Đang tràn ngập trong niềm vui và sự sung sướng,
ông Hai có cảm giác cảnh vật bên đường như đẹp hơn rất nhiều.
Cũng trên đoạn đường trở về, trong tâm trạng vui vẻ ấy , nhà văn Kim
Lân đã khéo léo đan cài vào đó 1 kịch tính thứ 2- một biến cố bất ngờ
xảy ra. Ông gặp những người đàn bà tản cư từ Gia Lâm lên, khi gặp họ,
ông tưởng mình sẽ nghe được nhiều tin vui hơn nữa nhưng thật bất ngờ,
ông Hai nhận được tin cả làng chợ Dầu làm việc gian theo Tây. Cái tin ấy
là một tin chết người, nó chẳng những làm mất hết niềm tin, sụp đổ niềm
tự hào về làng của ông mà còn khiến ông tủi khổ, nhục nhã vì đã khoe
bao điều hay về nó. Vừa nghe như vậy, ông Hai thấy cổ họng mình nghẹn
ắng lại, da mắt tê rần rật., ông lặng đi tưởng chừng như không thở được;
ông đang ở trong một trạng thái bất ngờ, đột ngột và vô vùng xấu hổ.
Ông vờ lảng sang chuyện khác để trốn những người đàn bà kia nhưng lời
nói của họ như những nhát dao chém vào người ông đau đớn. trên đg trở về
ông chỉ dám cúi gằm mặt xuống đát khhoong dám ngẩng mặt nhìn ai. Vừa về
đến nhà, ông nằm vật ra giường, nước mắt trào ra, ông tức giận chửi bon
Việt gian làng Dầu bán nước nhưng ông lại thấy những lời chửi của mình
thật vô lí. Ông kiểm đếm từng người trong óc nhưng không tìm được ai có
thể phản bội, họ toàn là những người coa tinh thần cả mà. Nhưng thằng
chánh Bêu thì đích thị là người làng ông rồi khiến ông có tâm trạng bối
rối, phân vân, nửa tin nửa ngờ. Chỉ bằng một đoạn văn ngắn, tác giả đã
cụ thể hoá sững sờ, ngạc nhiên cao độ đến bốc lửa, nghẹn ngào đau đớn,
tức giận khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc. Qua đây, một lần nữa, nhà
văn Kim Lân đã chứng tỏ bút lực dồi dào, khả năng phân tích sắc sảo, tái
hiện sinh động trạng thái tình cảm, hành động của ông hai trong biến cố
này.
Cả nhà ông Hai những ngày sau đó, sống trong bầu không khí ảm đảm,
nặng nề, đầy lo lắng. Họ nghĩ đến sự ghẻ lạnh, tẩy chay của mọi người và
đạc biệt lo lắng khi không biết sẽ phải làm thé nào. Ông Hai ăn ko
ngon, ngủ ko yên, lúc nào cũng mơm mớp, bất ổn trong nỗi tủi nhục ê chề.
Thậm chí ông không dám nhắc tới, phải gọi tên cái chuyện phải bội là '
chuyện ấy', Ông tuyệt giao với tất cả mọi người , trốn biệt ở nhà, ko
dám bước chân ra ngoài vì xấu hổ. Và cái chuyện vợ chồng ông lo nhất
cũng đã đến. Bà chủ nhà bóng gió đuổi gđ ông đi, chỉ vì họ là người làng
theo Tây.. Gia đình ông Hai ở vào tình thế căng thẳng, khó khăn nhất:'
thật là tuyệt đường sinh sống', đâu đâu có người chợ Dầu người ta cũng
đuổi như đuổi hủi. Trong tình cảnh ấy ông Hai đã nghĩ hay là quay về
làng nhưng rồi ông đã dứt khoát' về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ cụ
Hồ, chịu đầu hàng Tây là cam chịu kiếp sống nô lệ, cô độc' nên ông đã
quyết định' làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù'.. Đến
đây, tình yêu làng của ông Hai đã hoà quyện vào tình yêu nước. Tình cảm
cách mạng khi bị đặt vào tình huống thử thách gay cấn buộc phải lựa chon
giữa làng và nước, ông Hai đã chấp nhận hi sinh tình cảm làng vì có 1
tình cảm thiêng lêng, lớn hơn- đó là tình cảm dành cho kháng chiến, cho
cụ Hồ. Trong tâm trạng bế tắc và tuyệt vọng ông Hai chỉ còn biết chút
nỗi lòng của mình qua lời nói thủ thỉ, tâm sự với đứa con út của mình.
Thực chất, những lời tâm sự với con chính là lời dãi bày của ông .
Mặc dù đã vơi đi nỗi nặng nề trong lòng phần nào nhưng ông vẫn chưa
vơi đi phần nào lỗi tuyệt vọng, bế tắc trong lòng ông , vì thế nhất
quyết phải có một sự cởi nút ở mức độ cao hơn. Nhà văn Kim Lân đã cho xh
một nhân vật mới: ông chủ tịch xã đã lên tận khu tản cư cải chính lại
tin đồn đó, sự cải chính tin đồn đó thật quan trọng, đúng lúc, nó xoá đi
sự tuyệt vọng trong lòng người dân chợ Dầu. Nó đã đem lại niềm vui
sướng cho ông Hai vì vậy nhà mình bị Tây đốt sạch nhưng ông vẫn mang tin
này đi khoe khắp nơi với thái đọ sung sướng, hớn hở ko một chút nuối
tiếc. Ông cố gắng khoe để thật nhiều người biết như một bằng chứng khẳng
định làng chợ Dầu của ông trung thành với kháng chiến. Hành động của
ông Hai thật vô lí nhưng đặt trong mạch tâm lí, nó có giá trị đề cao
tinh thần hi sinh của ông vì cách mạng, vì kháng chiến Qua đó, ông tự
nhủ lòng mình yêu làng, yêu nước hơn và trung thành với cách mạng.
Xây dựng thành công diễn biến tâm trạng nhân vật ông Hai là thành cồn
lón nhất của truyện ngắn 'làng'. Điều đó đã thể hiện dk tài năng của nhà
văn Kim Lân trong việc khám phá chiều sâu tâm lí nhân vật. Và hơn hết,
điều đó đã xây dựng trong lòng độc giả một chân dung sống động, cảm động
của người nông đan Việt Nam chất phác, thật thà.
|
|
|
|
giải đáp
|
Ý nghĩa nhan đề : Tiểu đội xe không kính. Giúp tớ với nhé cả nhà.
|
|
|
|
Tham khảo em nhé
-
Nhan đề Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật là một nhan đề
khác lạ, hay nói cách khác là một nhan đề độc đáo. Khác vì nó không giống với
cách đặt nhan đề thông thường của các nhà thơ, lạ vì người ta hiếm gặp, độc đáo
vì nó mang chất riêng của Phạm Tiến Duật, không phỏng theo, bắt chước, không
giông bất kì ai.
+
Theo nhà thơ, tiểu đội xe rất có ý nghĩa trong lịch sử chiến tranh chống Mĩ. Bởi
vì từ năm 1965 đến 1968, đội hình xe phổ biến chỉ là tiểu đội, không thể biên
chế nhiều thêm do hệ thống đường xá, hệ thống bảo vệ… nên lấy “tiểu đội xe” tạo
được dấu ấn một thời của lịch sử dân tộc.
+
Theo truyền thống thơ ca Việt Nam, người ta thường tả cảnh, tả người, chưa thấy
ai tả ô tô nhưng Phạm Tiến Duật đã tả cái ô tô mà lại là ô tô không kính. Điều
đó không chỉ tạo nên sự độc đáo khác lạ mà còn ngầm nói lên một điều với người
đọc: nét đặc thù của tiểu đội xe, tính chất khốc liệt, dữ dội của những chiến
tranh phá hoại, tinh thần quả cảm, ý chí bất khuất cua người lính trên tuyến đường
Trường Sơn – huyền thoại.
+
Vì tả ô tô mà lại là ô tô không kính nên chẳng có gì nên thơ cả, vì thế nhà thơ
phải thêm vào phần đầu ba chữ: “Bài thơ về…”, để báo trước cho người đọc đây là
một bài thơ chứ không phải một khúc văn xuôi. Bên cạnh đó cũng có thể hiểu chữ
“Bài thơ…” ở đầu câu muốn ngầm nói rằng vấn đề mà nhà thơ muốn nhấn mạnh ở đây
là chất thơ toát lên từ hiện thực khốc liệt chứ không nhằm trọng tâm làm nổi bật
cái khốc liệt.
|
|