|
|
|
|
giải đáp
|
Soạn bài: "Tựa Tríc diễm thi tập"
|
|
|
|
Nói đến Hoàng Đức Lương là phải nói đến bộ sách Trích diễm thi tập. Đây
là bộ sách được ông biên soạn xong vào năm Hồng Đức thứ 28 (1497). Bộ
sách khép lại cả một thời kỳ dài sưu tập thơ văn Lý - Trần từ Phan Phu
Tiên với Việt âm thi tập đến Dương Đức Nhan với Tinh tuyển chư gia luật
thi. Ý nghĩa của Trích diễm thi tập xưa nay từng được đánh giá rất cao, ở
chỗ sau chính sách hủy diệt văn hóa tàn khốc của nhà Minh hồi đầu thế
kỷ XV, thì đến thập niên cuối thế kỷ, Hoàng Đức Lương đã có công tìm
kiếm, lưu chép cho hậu thế đến 15 cuốn (trên thực tế chỉ còn 6 cuốn) về
thi ca các triều đại trước Lê sơ. Sau này nhiều nhà sưu tầm, nghiên cứu
khác từ cổ đến cận, hiện và đương đại cũng đã phải dựa vào đó rất nhiều
để tiếp tục bồi đắp vốn văn chương cổ. Do đó, ngoài ý nghĩa văn học sử,
Trích diễm thi tập còn có ý nghĩa to lớn đối với văn hóa, văn hiến nước
nhà.
Quan trọng nữa là bài Tựa viết ở đầu sách. Giới nghiên cứu và bạn
đọc về sau đều hết sức tán thưởng lời Tựa Trích diễm thi tập. Ở thế kỷ
XVIII, Lê Quý Đôn đã trích dẫn một đoạn dài trong Lệ ngôn của Toàn Việt
thi lục. Đến thế kỷ XX, bài Tựa cũng được dịch và giới thiệu nhiều lần.
Lý do nào đã khiến lời Tựa của Hoàng Đức Lương được chú ý như vậy?
Trước hết, tác giả nêu bật được một quan niệm về thơ bằng cách dùng
hình ảnh so sánh thú vị: “Đối với thơ ca, người xưa thường ví với nem
chả, hoặc ví với gấm vóc. Nem chả là vị rất ngon ở đời, gấm vóc là mầu
rất đẹp ở đời. Phàm người có miệng, có mắt, ai cũng quý trọng, mà không
vứt bỏ khinh thường. Có điều là: sắc đẹp của thơ lại ở ngoài mọi sắc
đẹp, mắt thường không thấy được; cũng vậy, vị ngon của thơ lại ở ngoài
mọi vị ngon, miệng thường không nếm thấy. Chỉ có thi nhân mới có thể
thấy được sắc đẹp đó, nếm được vị ngon đó”(1). Như thế Hoàng Đức Lương
cho rằng thơ là phải đẹp, mà phải “ở ngoài mọi sắc đẹp”, nghĩa là cái
đẹp thông thường theo quan niệm của người đời là không thể so được. Lão
Tử thường nói: “Thiên hạ tri mĩ vi mĩ tư ố hĩ” (Cái gì thiên hạ biết là
đẹp, tức là đã không còn đẹp nữa rồi). Vậy, vẻ đẹp của thơ phải là vẻ
đẹp mang tính vĩnh cửu, nó không bị biến chất, không bị mọi thứ tư duy
thông thường xâm thực. Thơ không theo quy luật chung của cái đẹp thông
thường. Thơ đã thế, người làm ra thơ cũng là loại người đặc biệt khác
thường mới có thể “thấy” và “nếm” được thơ. Ở đây, theo quan niệm của
Hoàng Đức Lương thì thi nhân vừa là người sáng tác, vừa là người thưởng
thức, phê bình. Quan niệm như thế nên khi làm sách Hoàng Đức Lương chỉ
Trích diễm, tức là chỉ chọn lựa cái hay, cái đẹp. Xem qua có vẻ như tác
giả đã “tuyệt đối hóa” vai trò của thơ và của thi nhân, nhưng ngẫm kỹ
thì dường như ông đã có lý. Thơ đối với cổ nhân đúng là một địa hạt đặc
biệt, sau này Ngô Thì Sĩ cũng cho rằng kẻ phàm không vào thơ được(2).
Hơn nữa, quan niệm của Hoàng Đức Lương còn tiến một bước xa trên con
đường nhận thức thơ. Khi viết Tựa cho Việt âm thi tập vào năm 1433, Phan
Phu Tiên cho rằng: “Trong lòng có chí hướng gì ắt thể hiện ra lời nói,
cho nên thơ là để nói lên cái chí của mình. Lời xướng họa giữa vua tôi
đời Đường - Ngu và câu ca dao dân gian thời Liệt quốc, mặc dù trong đó
dấu vết thời thịnh trị và loạn lạc không giống nhau, nhưng cảm xúc phát
ra từ trong lòng thì chỉ là một”(3). Thì đó vẫn chỉ là một cách diễn đạt
khác của quan niệm “thi dĩ ngôn chí” (thơ là để nói chí). Quan niệm đó
đúng và sau Phan Phu Tiên, thơ vẫn là như vậy.
Nhưng rõ ràng, cạnh việc nói chí thì thơ bao giờ cũng là địa hạt của
xúc cảm thẩm mĩ, của cái đẹp. Có thể Hoàng Đức Lương còn đi xa hơn cả
quan niệm của chúng ta hiện nay khi ông cho rằng cái đẹp của thơ còn “ở
ngoài mọi sắc đẹp” như đã nói trên.
Tiếp theo, bài Tựa còn đưa ra quan niệm về sự tiếp nhận, lưu truyền
văn học, về thi học và phần nào là vấn đề tự do văn học. Sự tiếp nhận
văn học, nói như ngôn từ hiện nay, thì ở người xưa là việc thẩm bình,
cái mà tác giả đã gọi là nếm và thấy. Tức là yêu cầu người tiếp nhận
phải có cả năng khiếu và năng lực, cũng có ý chỉ người tiếp nhận phải ở
một trình độ cao, phải có một tầm đón nhận tương xứng. Biết sáng tác thơ
và hiểu thơ là khó, nhưng tác giả vẫn muốn công việc sưu tập của mình
“cốt được truyền bá rộng” di sản thơ Lý - Trần. Hẳn là có khao khát muốn
bồi bổ, nâng cao năng lực tư duy, năng lực thẩm mĩ cho các thế hệ người
đọc bằng thơ. Khái niệm thi học mà Hoàng Đức Lương dùng có ý chỉ cách
học, phép làm thơ, nhưng cũng có thể hiểu là việc nghiên cứu tìm hiểu
thi ca (Đức Lương thi học duy thị Đường chi bách gia - Thi học của Đức
Lương tôi, duy chỉ dựa vào các thi gia đời Đường). Lê Quý Đôn rất tinh
tường khi nói về Hoàng Đức Lương là người cực thích thi học (“khốc hiếu
thi học”). Do đó, có thể thấy ngay từ thế kỷ XV, Hoàng Đức Lương đã nói
đến vấn đề thi học, một trong những vấn đề cốt tử của thi ca. Khái niệm
thi học bấy giờ nghĩa có thể chưa rộng như ngày nay, nhưng quả là cái
gốc rễ thì đã thấy rõ. Bài Tựa cũng nêu ra một thực tế: “Qua sách vở
thời Lý - Trần truyền lại đến ngày nay, chỉ thấy sách nhà chùa là nhiều.
Thật ra, đâu có phải vì các nhà Nho học không giỏi bằng các nhà Phật
học. Mà chính là trong nhà chùa không có sự cấm đoán in sách, cho nên
mới có bản khắc truyền về sau. Còn thơ ca của các nhà Nho nếu như chưa
được nhà vua cho phép, thì không được in ra để lưu hành” (4). Đó là sự
chặt chẽ và lề luật quá nghiêm khắc đương thời. Toàn bộ thơ văn phải qua
tay kiểm duyệt của một ông vua. Mặc dù nhà vua có cả một đội ngũ để
giúp việc, nhưng việc “dắt bò qua cổ chai” đó đã khiến thơ văn mất hẳn
sinh sắc. Người sáng tác lúc nào cũng nơm nớp húy phạm, nơm nớp câu
chuyện “văn tự ngục”. Thể chế đã luôn câu thúc và kiềm chế sự hồn nhiên
và hồn toàn của văn thơ, khiến văn thơ buộc phải có hình hài và đặc tính
khu biệt. Nghĩa là phải tìm ra rất nhiều hình thức thể hiện khác nhau
để che đậy, giấu đi điều muốn nói.
Sau cùng bài Tựa của Hoàng Đức Lương cũng đề cập đến thực trạng của
tư liệu thơ văn ngay ở thời của ông (thế kỷ XV). Tác giả đã nêu ra bốn
lý do khiến văn thơ mất mát: người sành thơ không nhiều là một, cái sự
quá nghiêm khắc kia là hai; và hai lí do quan trọng nữa là: Không có
người làm công việc sưu tập và nếu có cũng không làm đến nơi đến chốn.
Ông cũng đề cập đến sự tàn phá của thời gian và “binh hỏa”, nhưng lỗi
chủ yếu vẫn là con người; và ông cũng thể hiện tâm sự của mình: “Mỗi khi
nhặt nhạnh ở giấy tàn, vách nát được một vài câu, thường cầm sách than
thở, có ý đổ lỗi cho tiền nhân thời bấy giờ. Than ôi! Một nước văn hiến,
trải mấy nghìn năm xây dựng, lẽ nào không có quyển sách nào để làm
chứng tích, mà phải tìm đọc xa xôi qua thơ Đường, như thế chẳng đáng đau
xót lắm sao”(5).
Tóm lại qua lời Tựa và qua Trích diễm thi tập có thể khẳng định
Hoàng Đức Lương có tư cách một nhà sưu tập, phê bình văn học. Những ý
kiến mà tác giả đề xuất còn có tác dụng gợi mở về lý luận thơ ca. Trong
khi lý luận, phê bình văn học của ta ở vào thế kỷ XV còn khá nghèo nàn,
thì đó là những đóng góp rất đáng quý. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Soạn bài: "Tam đại con gà"
|
|
|
|
I. Kiến thức cơ bản 1. Về khái niệm truyện cười
a) Truyện cười là những truyện dân gian ngắn, có kết cấu chặt chẽ, kết
thúc bất ngờ, kể về những sự việc, hành vi trái tự nhiên của con người,
có tác dụng gây cười, nhằm mục đích giải trí và phê phán xã hội.
b) Truyện cười thường khai thác những mâu thuẫn trái tự nhiên những hành
động kệch cỡm, rởm đời hay dốt nát trong cuộc sống. Truyện thường ngắn
nhưng chặt chẽ, ít các chi tiết rườm rà, mâu thuẫn phát triển nhanh và
kết thúc bất ngờ. Truyện cười mang ý nghĩa giải trí và giáo dục. Ngoài
tiếng cười, nó tập trung phê phán những thói hư tật xấu trong nội bộ
nhân dân, vì thế mới có ý kiến cho rằng, truyện cười không chỉ là sản
phẩm của óc khôi hài mà còn là một thứ vũ khí đấu tranh đắc dụng của
nhân dân ta.
c) Truyện cười có hai loại: Truyện khôi hài và truyện trào phúng. Truyện
khôi hài chủ yếu nhằm mục đích giải trí (tuy nhiên vẫn bao hàm giá trị
giáo dục). Truyện trào phúng được sáng tác với mục đích phê phán. Đối
tượng phê phán phần lớn là các nhân vật thuộc tầng lớp trên trong xã
hội nông thôn Việt Nam xưa (như: bọn quan lại bất tài, tham nhũng…).
Cũng có khá nhiều truyện cười phê phán thói hư tật xấu trong nội bộ nhân
dân.
2. Về hai văn bản Tam đại con gà và Nhưng nó phải bằng hai mày.
Hai truyện cười này đều thuộc loại truyện trào phúng. Đối tượng của sự
phê phán là thầy đồ dốt nói chữ và bọn quan lại tham nhũng ở địa phương.
Truyện Tam đại con gà hướng sự châm biếm, đả kích vào những kẻ
"xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ". Cái xấu, cái dốt càng che đậy càng
dễ lộ ra, kệch cỡm và đáng cười hơn rất nhiều lần.
Truyện Nhưng nó phải bằng hai mày lại giống như một màn kịch
ngắn. Khai thác triệt để sự kết hợp giữa lời nói với cử chỉ và với lối
chơi chữ độc đáo, truyện đã vạch trần hành động tham nhũng trắng trợn
của thầy lí. Đồng thời, truyện cũng nói lên tình cảnh vừa bi hài, vừa
đáng thương, đáng giận của những người lao động. II. Rèn kĩ năng
1. Trong truyện Tam đại con gà, "ông thầy" liên tiếp bị đưa vào hai tình huống:
- Thầy đồ đi dạy học trò nhưng "thấy mặt chữ nhiều nét rắc rối, không
biết chữ gì, học trò lại hơi gấp, thầy cuống, nói liều...".
- Khi bị người nhà phát hiện dạy sai, thầy ra sức bao biện để chối tội và giấu dốt.
Trong lần thứ nhất, để "giải quyết tình huống", "ông thầy" đã nhắm mắt
chọn cách nói liều. Hài ước hơn khi ngay sau đó, "ông thầy" còn viện đến
thổ công để "chứng giám" một cách hú họa cho sự dốt nát của mình.
Trong tình huống thứ hai, "ông thầy" đã giải quyết để bào chữa cho mình bằng một cái "lí sự cùn".
Qua chỉ hai tình huống, cái bản chất "dốt" của thầy đồ đã được bộc lộ rõ
ra. Cái mâu thuẫn trái tự nhiên ở nhân vật này là dốt >< khoe
giỏi. Thầy đồ đi dạy học mà dốt đến mức cái chữ tối thiểu trong sách
cũng không biết, không đọc được. Dốt như vậy mà thầy đồ vẫn ham khoe
giỏi (sau khi khấn thổ công, "thầy lấy làm đắc chí lắm, hôm sau bệ vệ
ngồi trên giường, bảo trẻ đọc cho to"). Sự hài ước của câu chuyện lên
đến đỉnh điểm khi thầy đồ, dù đã biết mình dạy dốt vẫn cứ nhất quyết bao
biện cho mình bằng một cái "lí sự cùn" hoàn toàn không thể tin tưởng
được. Tất cả những hành động cố gắng "lấp liếm" cái dốt này, quả thực
chỉ làm cho thầy đồ càng thảm hại hơn thôi.
2. Qua hình ảnh thầy đồ trong truyện Tam đại con gà, truyện phê
phán một tật xấu trong nội bộ nhân dân, phê phán những người dốt mà
không chịu học hỏi, dốt mà cứ cố tình che đậy sự dốt nát của mình. Tuy
nhiên cái cười trong truyện ngắn này chủ yếu vẫn mang tính chất giải trí
- cười sự ngây ngô và liều lĩnh của thầy đồ, chứ chưa tới mức cười nhằm
đả kích và triệt tiêu đối tượng.
3. Về truyện Nhưng nó phải bằng hai mày
a) Mối quan hệ giữa Cải và thầy lí trước khi xử kiện là mối quan hệ đã
được xếp đặt rồi (Cải đã lót tiền trước cho thầy lí năm đồng). Cải cứ
nghĩ là quan sẽ cho mình được kiện nên rất ung dung. Tuy nhiên không ngờ
khi xử kiện, Cải lại bị thầy lí tuyên bố đánh mười roi. Cải từ thế chủ
động chuyển hoàn toàn sang bị động và không thể nói tiếp được lời nào.
b) Sự độc đáo của câu chuyện chính là sự kết hợp giữa hai thứ "ngôn
ngữ". Ngôn ngữ bằng lời nói là ngôn ngữ công khai, nói cho tất cả những
người có mặt ở đó nghe. Nhưng thứ "ngôn ngữ" bằng động tác thì chỉ có
thầy lí và Cải mới hiểu được. Nếu Cải xòe ra năm ngón tay và "ngầm" ra
hiệu với thầy lí đó là "lẽ phải" thì thày lí đã đáp lời nhanh chóng bằng
việc xòe năm ngón tay trái úp lên năm ngón tay mặt, ý nói "lẽ phải" kia
đã được nhân đôi. Sự thú vị được người đọc nhận ra khi tìm thấy sợi dây
liên hệ thông suốt giữa: lẽ phải - những ngón tay và những đồng tiền.
Ý nghĩa tố cáo của truyện chính là ở chỗ: lẽ phải đối với người xử kiện
được tính bằng tiền. Đồng tiền đo lẽ phải, tiền nhiều lẽ phải nhiều,
tiền ít lẽ phải ít.
4. Lời nói của thầy lí ở cuối truyện Nhưng nó phải bằng hai mày
là một sự vận dụng độc đáo và sáng tạo nghệ thuật chơi ngữ gây cười.
"Phải" là một từ chỉ tính chất, đem ghép nó với một từ chỉ số lượng
(phải bằng hai) tưởng như vô lí. Thế nhưng khi ta liên tưởng đến năm
đồng và mười đồng tiền đút lót của Ngô và Cải, ta lại thấy nó hoàn toàn
hợp lí. Lời phán quyết của thầy lí "vô lí" trong xử kiện nhưng lại có lí
trong mối quan hệ (tiền bạc) với các nhân vật. Chính việc "đánh lộn
sòng" này đã tạo ra tiếng cười hài ước và sự thích thú trong quá trình
"giải mã" tác phẩm của mỗi chúng ta.
5. Ở truyện Nhưng nó phải bằng hai mày, nhân vật bị thất bại
trong vụ kiện là nhân vật Cải. Cải bị bất ngờ nên không kịp trở tay vì
thế mà bị rơi vào tình trạng thảm hại (vừa mất tiền lại vừa bị đánh).
Thế nhưng câu chuyện chính là lời phê phán cả hai nhân vật. Sự tham lam
của bọn quan lại sẽ càng ngày càng tráo trở hơn nếu còn có những người
như Ngô và Cải. Hành vi tiêu cực của chính họ là nguyên nhân làm cho họ
trở nên thảm hại. Trong sự việc này, họ là những kẻ đáng thương nhưng
cũng là những người đáng giận.
6. Có thể thấy rõ đặc trưng thể loại của truyện cười qua việc phân tích
lời nói và hành động của nhân vật trong hai truyện Tam đại con gà và
Nhưng nó phải bằng hai mày.
a) Đối với truyện Tam đại con gà
Câu chuyện có nhiều hành động và lời nói của thầy đồ có tác dụng gây cười:
- Các hành động của "Ông thầy":
+ Bảo học trò đọc khe khẽ (vì chưa biết mình dạy đúng hay sai nên phải "thận trọng" để giấu dốt).
+ Xin đài âm dương 3 lần (hành động ngược đời - đúng ra phải hỏi lại
người có hiểu biết hơn mình để giảng giải cho học trò rõ). Hành động này
hàm ý "Ông thầy" coi cái chuyện dạy học hệ trọng này chẳng khác gì
chuyện đánh bạc cầu may.
+ Ngồi bệ vệ trên giường, bảo học trò đọc to (đắc chí với sự ngốc nghếch của mình mà không biết).
- Lời nói của thầy:
+ Dủ dỉ là con dù dì
+ Dạy cho cháu biết đến tận tam đại con gà
+ Dủ dỉ là chị con công, con công là ông con gà.
Tất cả các lời nói này đều cho thấy sự ngốc nghếch và phi lí trong những
'bài học" và lời nói của "Ông thầy". Xét về mức độ, ta thấy hành động
và lời nói của nhân vật được nhà văn sắp xếp theo trật tự tăng tiến. Mức
độ phi lí và sự nực cười của lời nói và hành động ngày càng được đẩy
lên cao.
b) Đối với truyện Nhưng nó phải bằng hai mày
- Hành động của nhân vật Cải và Ngô: hai người đều tìm cách đưa đút lót trước cho thày lí mà không rõ hành động của người kia.
- Thày lí thì tham lam nên nhận tiền của cả hai người. Khi xử kiện lại lấy bàn tay để ra hiệu.
- Lời nói hài ước của các nhân vật: “ Xin xét lại, lẽ phải về con
mà!”(Cải nói). “Tao biết mày phải…nhưng nó lại phải…bằng hai mày!” (lời
đáp của thầy lí)
c) Từ hai truyện trên, có thể khái quát mấy đặc trưng chung của thể loại truyện cười:
- Khai thác những sự việc, hành vi, thói xấu của một bộ phận đối tượng trong dân gian.
- Chứa đựng những mâu thuẫn trái quy luật tự nhiên và tiềm ẩn những yếu tố gây cười.
- Dung lượng ngắn, kết cấu lôgíc chặt chẽ và kết thúc bằng những sự việc hoặc liên tưởng bất ngờ. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Soạn bài: "Tấm Cám"
|
|
|
|
I. Kiến thức cơ bản
1. Truyện cổ tích là những tác phẩm tự sự dân gian mà cốt
truyện và hình tượng được hư cấu có chủ định, kể về số phận những con
người bình thường trong xã hội có giai cấp, thể hiện tinh thần nhân đạo
và lạc quan của nhân dân lao động.
Truyện cổ tích được chia thành ba loại: cổ tích về loài vật, cổ tích sinh hoạt và cổ tích thần kì. Truyện cổ tích thần kì phong phú nhất và chiếm số lượng nhiều nhất.
2. Đặc trưng của truyện cổ tích thần kì
- Sự tham gia của yếu tố thần kì là khá phổ biến (tiên, bụt, sự biến hoá thần kì, những vật có phép màu…).
- Kết cấu tương đối thống nhất: Dạng kết cấu phổ biến là nhân vật chính
trải qua những phiêu lưu, hoạn nạn, thử thách, cuối cùng đạt được ý
nguyện của mình.
- Nhân vật chính phần lớn là những con người bình thường.
- Mâu thuẫn, xung đột gia đình và xã hội được thể hiện dưới dạng khái
quát: đấu tranh giữa cái tốt và cái xấu, giữa cái thiện và cái ác.
3. Tấm Cám là truyện cổ tích tiêu biểu cho loại cổ tích thần kì.
Câu chuyện là cuộc đấu tranh vô cùng quyết liệt giữa cái thiện và cái
ác. Mẹ con Cám tàn nhẫn và độc ác đã chiếm đoạt tất cả những gì thuộc về
Tấm và hơn nữa còn muốn tiêu diệt Tấm đến cùng. Thế nhưng bằng sức
sống, sức trỗi dậy mãnh liệt, bằng ước mơ và niềm lạc quan của người lao
động, Tấm đã đứng lên chiến đấu quyết liệt với cái ác và giành chiến
thắng.
II. Rèn kĩ năng
1. Tóm tắt cốt truyện
Tấm và Cám là hai chị em cùng cha khác mẹ. Cha mẹ mất sớm, Tấm ở với dì
ghẻ là mẹ của Cám. Dì ghẻ là người cay nghiệt, bắt Tấm phải làm lụng rất
vất vả. Trái lại, Cám được nuông chiều. Một lần, khi đi bắt tôm tép
ngoài đồng, để được thưởng chiếc yếm đỏ, Cám đã lừa Tấm, trút hết tép
vào giỏ của mình. Tấm khóc, Bụt hiện lên bảo Tấm mang con bống còn sót
lại trong giỏ về nuôi ở giếng. Mẹ con Cám biết chuyện, lừa Tấm đi chăn
trâu đồng xa, bắt bống giết thịt. Mất bống, Tấm ngồi khóc thì Bụt lại
hiện ra và bảo Tấm hãy nhặt lấy xương bống bỏ vào bốn lọ chôn ở bốn chân
giường. ít lâu sau, nhà vua mở hội. Dì ghẻ lấy gạo trộn lẫn với thóc,
bắt Tấm ở nhà nhặt rồi cùng Cám đi trảy hội. Tấm ngồi khóc một mình, Bụt
lại hiện ra và sai đàn chim sẻ xuống nhặt giúp, lại bảo Tấm đào các lọ
chôn ở chân giường lên để có đủ mọi thứ để đi trảy hội. Trên đường trảy
hội, khi phóng ngựa qua chỗ lội Tấm đánh rơi một chiếc giày mà không kịp
nhặt. Nhà vua đi qua nhặt được chiếc giày xinh xắn liền ra hạ lệnh để
tất cả đàn bà con gái đi xem hội ướm thử, ai đi vừa thì sẽ lấy làm vợ.
Tất cả không ai ngoài Tấm đi vừa chiếc giày. Tấm được rước vào cung làm
vợ vua.
Ngày giỗ cha, Tấm về nhà, mẹ con Cám ghen ghét bày mưu để Tấm trèo cau
rồi chặt gốc, giết chết Tấm. Cám vào cung thay Tấm. Tấm chết hoá thành
chim vàng anh quấn quýt bên vua, Cám bắt chim làm thịt vứt lông chim ra
vườn. Lông chim hoá ra hai cây xoan đào, vua thấy đẹp bèn sai mắc võng
nằm chơi hóng mát hằng ngày, Cám sai chặt hai cây xoan đào làm khung
cửi. Cám ngồi dệt, từ khung cửi phát ra tiếng oán trách. Cám đem đốt
khung cửi, vứt tro ra xa hoàng cung. Từ đống tro mọc lên cây thị, đến
mùa thị chỉ ra một quả và được bà lão hàng nước đem về. Hàng ngày, khi
bà lão đi vắng, Tấm từ trong quả thị chui ra giúp bà mọi việc trong nhà
xong lại chui trở vào. Bà lão rình biết được bèn ôm choàng lấy Tấm, nhận
làm con. Một hôm vua đi chơi qua, ghé vào quán nước của bà lão, nhận ra
Tấm và đón nàng về cung. Thấy Tấm ngày càng xinh đẹp, Cám hỏi, Tấm lừa
Cám tự đào hố rồi sai đổ nước sôi. Cám chết, Tấm đem xác làm mắm và gửi
về cho dì ghẻ. Mụ dì ghẻ ăn đến khi mắm gần hết thì thấy đầu lâu con
gái, mụ lăn đùng ra chết.
2. Diễn biến của truyện có thể chia thành hai giai đoạn
- Từ đoạn truyện về chiếc yếm đỏ đến đoạn truyện Tấm đi xem hội phản ánh
mâu thuẫn xoay quanh những quyền lợi về vật chất và tinh thần trong
cuộc sống hàng ngày.
- Đoạn còn lại liên quan đến cái chết của Tấm và sự hóa thân trở đi trở
lại của cô, xuất hiện những mâu thuẫn về địa vị và quyền lợi đẳng cấp
(mâu thuẫn xã hội) nên tính quyết liệt của mâu thuẫn hiện rõ hơn.
Diễn biến của cốt truyện cho ta hình dung về xu hướng phát triển của hai tuyến nhân vật:
- Tuyến mẹ con Cám: càng ngày càng tỏ ra độc ác hơn, tàn nhẫn hơn.
- Tuyến nhân vật Tấm, từ những hành động và phản ứng yếu ớt, cô đã trở
nên quyết liệt và chủ động hơn để đòi lại hạnh phúc đích thực của mình.
3. Tấm sau khi chết đã hóa thân trở đi trở lại thành: chim vàng
anh - hai cây xoan đào - khung cửi - quả thị, nghĩa là đều hóa thành
vật. Sự hóa thân thần kì này phản ánh một quan niệm của dân gian xưa:
quan niệm đồng nhất giữa người và vật. Cả bốn hình thức biến hóa này đều
cho thấy vẻ đẹp về phẩm chất của nhân vật vẫn không thay đổi: bình dị
và sáng trong. Bốn lần biến hóa còn cho thấy sự biến chuyển trong ý thức
đấu tranh của nhân vật.
Ví dụ: Khi là chim vàng anh, nhìn thấy Cám đang giặt áo, chim nói: "Phơi
áo chồng tao, phơi lao phơi sào, chớ phơi bờ rào, rách áo chồng tao".
Nhưng khi chiếc khung cửi lên lời, nó quyết liệt hơn:
Cót ca, cót két
Lấy tranh chồng chị
Chị khoét mắt ra
Có thể nói ý nghĩa chung nhất của quá trình biến hóa ấy là thể hiện sức
sống mãnh liệt của Tấm. Sức sống ấy không thể bị tiêu diệt bởi bất cứ
một thế lực nào. Và nó chính là nguyên nhân quan trọng nhất tạo nên
chiến thắng cuối cùng của nhân vật.
4. Bản chất của mâu thuẫn và xung đột trong truyện Tấm Cám.
Mâu thuẫn và xung đột trong truyện cổ tích này trước hết là mâu thuẫn và
xung đột trong gia đình phụ quyền thời cổ đại (mâu thuẫn dì ghẻ mâu
thuẫn con chồng). Nguyên nhân bắt nguồn từ việc kế thừa tài sản và hưởng
những quyền lợi vật chất của các thành viên (con cái) trong gia đình.
Truyện cũng thấp thoáng xuất hiện những mâu thuẫn xã hội (về quyền lợi
và địa vị) nhưng không phải là chủ đạo. ý nghĩa chung nhất của tác phẩm
toát lên từ mâu thuẫn giữa cái thiện và cái ác. Đó là cuộc đấu tranh
giữa người lương thiện và những kẻ bất lương.
5. Hành động Tấm giội nước sôi giết Cám, lấy xác làm mắm, gửi cho
dì ghẻ ăn gây nhiều tranh cãi và không ít người phản đối cho rằng hành
động ấy làm mất đi vẻ đẹp vẹn toàn của nhân vật Tấm. Thực ra phải hiểu
rằng: trong truyền thống cảm nhận của dân gian, người ta không quan tâm
đến tính chất dã man của sự việc. Theo quan niệm "ác giả ác báo" người
ta chỉ chú ý đến việc cái ác bị trừng phạt như thế nào và với mức độ ra
sao. Với tác giả dân gian, kết cục của mẹ con Cám như vậy là thích đáng,
là phù hợp với những gì mà mẹ con mụ đã gây ra.
6. Những đặc trưng của thể loại truyện cổ tích thần kì được biểu hiện trong Tấm Cám:
- Cốt truyện có sự tham gia của nhiều yếu tố thần kì: nhân vật Bụt, xương cá bống và những lần biến hóa của nhân dân chính.
- Về kết cấu, truyện có dạng: nhân vật chính phải trải qua nhiều hoạn
nạn cuối cùng mới được hưởng hạnh phúc. Đây là một trong những kiểu kết
cấu khá phổ biến của loại truyện cổ tích thần kì.
- Truyện phản ánh những xung đột trong xã hội thời kì đã có sự phân chia giai cấp.
- Kết thúc truyện có hậu mang tính nhân đạo và lạc quan.
|
|
|
|
giải đáp
|
Soạn bài: " Ra - ma buộc tội"
|
|
|
|
I. Kiến thức cơ bản
1. Tóm tắt
Câu chuyện diễn ra ở vương quốc Kô-sa-la. Vua Đa-xa-ra-tha có bốn người
con trai do ba bà vợ sinh ra. Ra-ma là con cả, hơn hẳn các em về tài
đức. Vua cha có ý định nhường ngôi cho chàng nhưng vì lời hứa với bà vợ
thứ Ka-kê-i xinh đẹp nên đã đày Ra-ma vào rừng và trao ngôi lại cho
Bha-ra-ta, con của Ka-kê-i. Ra-ma cùng vợ là Xi-ta và em trai Lắc-ma-na
vào rừng sống ẩn dật. Quỷ vương Ra-va-na lập mưu cướp Xi-ta đem về làm
vợ. Mặc quỷ vương dụ dỗ và ép buộc, Xi-ta vẫn kịch liệt chống cự. Được
tướng khỉ Ha-nu-man giúp đỡ, Ra-ma đã cứu được Xi-ta. Nhưng sau đó,
Ra-ma nghi ngờ tiết hạnh của Xi-ta và không muốn nhận lại nàng làm vợ.
Để chứng tỏ lòng chung thuỷ của mình, Xi-ta đã nhảy vào lửa. Thần lửa
biết Xi-ta trong sạch nên đã cứu nàng. Ra-ma và Xi-ta trở về kinh đô.
2. Đoạn trích là thử thách cuối cùng của Ra-ma và Xi-ta trên con đường
tìm về với hạnh phúc và danh vọng. Bằng lối kể chuyện giàu kịch tính và
nghệ thuật khắc họa tính cách rất điển hình, tác giả đã cho chúng ta
thấy được quan niệm của người ấn Độ cổ đại về người anh hùng, về đường
quân vương mẫu mực và về người phụ nữ lí tưởng trong xã hội. II. Rèn kĩ năng
1. Có thể nói, màn gặp gỡ giữa Ra-ma và Xi-ta trong một không gian công
cộng, giữa đông đủ mọi người, đã chi phối rất nhiều đến tâm trạng cũng
như ngôn ngữ đối thoại của Ra-ma và Xi-ta.
Với Ra-ma, lúc này chàng không chỉ đứng trên tư cách một người chồng mà
còn trên tư cách một người anh hùng, một đường quân vương. Với tư cách
ấy, chàng ở trong một hoàn cảnh vô cùng khó xử: vừa yêu thương xót xa
cho vợ nhưng vẫn phải giữ bổn phận gương mẫu của một đức vua anh hùng:
"Thấy người đẹp khuôn mặt bông sen với những cuộn tóc lượn sóng đứng
trước mặt mình, lòng Ra-ma đau như dao cắt. Nhưng vì sợ tai tiếng, chàng
bèn nói với nàng, trước mặt những người khác...".
Nàng Xi-ta cũng vậy. Trong màn gặp gỡ này, nàng đã vô cùng đau khổ khi
bị kết tội oan. Là một người vợ, hơn nữa còn là một hoàng hậu, nàng
không thể để danh dự của mình bị bôi nhọ một cách xấu xa. Nhưng việc ấy
đâu có dễ. Lúc đầu nàng ra sức van nài trong khuôn khổ quan hệ tình
nghĩa vợ chồng (lời thoại xưng hô chàng - thiết) nhưng rồi nàng chuyển
sang quan hệ xã hội: "Hỡi đức vua!... Người...". Sự thay đổi cách xưng
hô ấy cũng cho thấy tình thế khó xử của Gia-na-ki "trước mặt đông đủ mọi
người".
2. Theo lời tuyên bố của Ra-ma thì chàng giao tranh với quỷ Ra-va-na,
tiêu diệt hắn để giải cứu Xi-ta vì danh dự người anh hùng bị xúc phạm
khi Ra-va-na dám cướp vợ của chàng. Chàng ruồng bỏ Xi-ta vì danh dự
không cho phép người anh hùng chấp nhận một người vợ đã chung chạ với kẻ
khác ("Người đã sinh trưởng... một vật để yêu đương). Tuy nhiên cũng
không phủ nhận được rằng trong thái độ ruồng bỏ Xi-ta của Ra-ma có "sự
ghen tuông của người chồng".
Như vậy, nhìn ở khía cạnh nào, chúng ta cũng thấy Ra-ma hành động bằng
lí trí bởi chàng phải là khuôn mẫu đạo đức cho dân chúng noi theo; chàng
phải hy sinh những tình cảm cá nhân vì những đòi hỏi của cộng đồng.
Để nhấn mạnh bổn phận và danh dự, chúng ta thấy Ra-ma nhấn đi nhấn lại
nhiều lần những từ ngữ liên quan đến tài năng và danh dự (nhân phẩm,
tiếng tăm, uy tín, gia đình cao quý, dòng họ lừng lẫy, trả thù sự lăng
nhục,...) của một đức vua cao quý, anh hùng.
Khi Xi-ta bước lên giàn lửa, Ra-ma cũng căng thẳng vô cùng. Có thể nói
đó cũng là một thử thách dữ dội đối với Ra-ma bởi chàng không thể nghĩ
rằng hành động của Xi-ta lại quyết liệt như vậy. ở vào một tình thế
"tiến thoái lưỡng nan" vì thế mà: "Vào lúc đó, chẳng ai trong đám bạn
hữu dám nói gì với Ra-ma, hoặc nhìn vào chàng; lúc đó nom chàng khủng
khiếp như thần chết.
3. Khi bị đẩy vào bước đường cùng, Xi-ta mặc dù vô cùng đau đớn nhưng
nàng vẫn bình tĩnh đưa ra những lời thanh minh thấu tình, đạt lí.
Trước hết, Xi-ta khẳng định tư cách và đức hạnh của nàng không thể so
sánh với hạng phụ nữ thấp kém tầm thường được. Nàng là con của thần Đất
Mẹ và chỉ với việc nàng có thể từ bỏ cung điện nguy nga để theo chồng
vào rừng mà chia sẻ bao gian nan thử thách cũng đủ để chứng minh cho
phẩm hạnh của nàng rồi.
Lí do thứ hai còn thuyết phục hơn nữa. Nàng bị bắt cóc và việc quỷ vương
Ra-va-na động đến người nàng khi nàng đang bị ngất đi là những điều nằm
ngoài lí trí của nàng. Khi nàng tỉnh lại, nàng đã nhất quyết cự tuyệt
tất cả những hành động của quỷ vương. Lí do mà Xi-ta đưa ra quả thật là
vô cùng sắc sảo, đặc biệt khi những sự việc ấy lại được chứng kiến bởi
Ha-nu-man.
Không thuyết phục được chồng, cuối cùng, Xi-ta đã chọn một hành động
quyết liệt hơn: bước lên giàn lửa. Hành động và lời cầu khấn của Xi-ta
hướng tới đáng A-nhi cho thấy để chứng minh cho đức hạnh và phẩm tiết
thủy chung, Xi-ta sẵn sàng bước qua cả mạng sống của chính mình.
4. Có thể nói cảnh Xi-ta nạp mình cho lửa là một cảnh đầy kịch tính, vừa
hào hùng và vừa rất bi thương. Chính vì vậy nó khiến cho quan quân và
dân chúng của cả hai bên cũng như anh em bạn hữu vô cùng xúc động ("Ai
nấy, già cũng như trẻ đau lòng đứt ruột... Các phụ nữ bật ra tiếng kêu
khóc thảm thương. Cả loài Rak-sa-xa lẫn loài Va-na-ra cũng kêu khóc vang
trời trước cảnh tượng đó"). Cảnh Xi-ta bước lên giàn lửa đúng là biểu
tượng tập trung nhất cho hình mẫu người phụ nữ lí tưởng của ấn Độ thời
cổ đại. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Soạn bài: "Soạn bài Uy - lit - xơ"
|
|
|
|
I. Kiến thức cơ bản
1. Tóm tắt đoạn tríchSau khi hạ được thành Tơ-roa, Uy-lít-xơ “hồi quân” trở về quê hương. Chàng phải lênh đênh góc biển chân trời mười năm đằng đẵng mà vẫn chưa về tới quê nhà. Chàng bị nữ thần Ca-líp-xô, vì yêu chàng nên cầm giữ. Cảm thương số phận Uy-lít-xơ, thần Dớt sai Héc-mét đến lệnh cho Ca-líp-xô phải để chàng đi. Bị bão đánh chìm bè, chàng dạt vào xứ Phê-a-ki, được công chúa Nô-xi-ca yêu và nhà vua tiếp đãi tử tế. Theo ý nhà vua, Uy-lít-xơ kể lại những chuyện li kì, mạo hiểm trên bước đường gian truân phiêu bạt của mình cùng đồng đội : chuyện thoát khỏi xứ sở những tên khổng lồ một mắt, chuyện thoát khỏi tiếng hát đầy quyến rũ của các nàng tiên cá Xi-ren nguy hiểm,… Cảm phục, nhà vua cho thuyền đưa chàng về quê hương I-tác. Về đến nhà, chàng giả dạng người hành khất nên Pê-nê-lốp, vợ chàng, không nhận ra. Để trả lời sự thúc ép của bọn cầu hôn, Pê-nê-lốp thách ai giương được chiếc cung của Uy-lít-xơ và bắn một phát xuyên qua mười hai chiếc vòng rìu thì sẽ lấy người đó. Tất cả bọn cầu hôn đều thất bại, Uy-lít-xơ xin được bắn và chàng đã thắng. Nhân cơ hội đó, cha con chàng trừng trị bọn cầu hôn cùng những gia nhân phản bội. 2. Đoạn trích là cảnh gặp gỡ của hai vợ chồng sau hai mươi năm xa cách nhưng nó diễn ra không bình thường mà trở thành một cảnh nhận mặt. Trong cảnh ấy các nhân vật đã thử thách lẫn nhau để tìm về hạnh phúc. Câu chuyện là bài ca về vẻ đẹp trí tuệ và khát vọng hạnh phúc của người Hi Lạp. Nó nhắc nhở ta tình cảm gia đình bao giờ cũng rất cao quý, thiêng liêng. II. Rèn kĩ năng1. Cảnh này có thể chia thành hai phần: Phần một từ đầu đến “…người kém gan dạ” và phần hai là đoạn còn lại. - Đoạn 1 (từ đầu đến … xác chết của bọn cầu hôn và người giết chúng.), ơ-ri-clê và Pê-nê-lốp : ơ-ri-clê báo tin và thuyết phục Pê-nê-lốp. - Đoạn 2 (từ Nói xong, nàng bước xuống lầu cho đến …con cũng không phải là người kém gan dạ), Tê-lê-mác, Uy-lít-xơ và Pê-nê-lốp : Thái độ của Tê-lê-mác đối với việc mẹ không chịu thừa nhận cha. - Đoạn 3 (phần còn lại), Pê-nê-lốp và Uy-lít-xơ : Pê-nê-lốp thử thách Uy-lít-xơ, vợ chồng đoàn tụ. 2. Đối thoại của các nhân vật trong các đoạn ấy thể hiện những sắc thái tình cảm riêng: đối thoại của nhũ mẫu Ơ-ri-clê cho thấy niềm vui sướng của người đầy tớ trung thành gắn bó với gia đình, đối thoại của Pê-nê-lốp với nhũ mẫu cho thấy sự thanh thản, với con trai lại cho thấy sự phân vân v.v… 3. Pê-nê-lốp "lòng vẫn rất đỗi phân vân" vì nếu những vị hành khất là chồng nàng thực thì tại sao trong lần gặp trước lại không nói ra. Hơn nữa, nếu Pê-nê-lốp vội vã mà nhận lầm thì danh dự của nàng sẽ bị tổn thương rất lớn (điều tối kỵ của người Hi Lạp). 4. Pê-nê-lốp có nhiều phẩm chất cao đẹp, đặc biệt là trí tuệ sắc sảo, sự bình tĩnh tự tin và luôn thận trọng trong mọi tình huống. Khi nàng nhấn mạnh "cha và mẹ... không ai biết hết" chính là lúc nàng cố ý tạo ra một hoàn cảnh thử thách đối với Uy-lít-xơ. Nó là gợi ý về dấu hiệu nhận ra nhau của vợ chồng nàng. Câu nói ấy vừa thể hiện sự thận trọng, vừa thể hiện sự thông minh sắc sảo của Pê-nê-lốp. Thực ra Pê-nê-lốp không phải là người "bao giờ lòng dạ cũng rắn hơn cả đá", có "một trái tim sắt đá hơn ai hết". Hai mươi năm phải làm chủ gia đình, lại phải đối diện với bao thử thách, nàng đã phải tạo cho mình cái vỏ bọc cứng rắn. Có như vậy nàng mới chờ được đến ngày người chồng trở về để được ùa vào lòng chàng mà bật lên bao nhiêu cảm xúc dồn nén mấy chục năm. 5. Pê-nê-lốp phải dùng đến cách thử bí mật của chiếc giường trong màn nhận mặt nàng vì bí mật ấy giúp giải tỏa được nhiều mối nghi ngờ. Trước hết, để Pê-nê-lốp biết đó không phải là Uy-lít-xơ giả. Sau nữa, nó còn là minh chứng cho lòng chung thủy của nàng. Nếu chiếc giường đã bị chuyển đi hoặc đã không còn là bí mật của riêng hai vợ chồng nữa thì cũng có nghĩa là phẩm giá của Pê-nê-lốp cũng không còn nguyên vẹn. Phép thử ấy không những chỉ nói lên phẩm chất kiên trinh của Pê-nê-lốp mà còn khắc sâu sự bền vững của tình cảm gia đình, tình cảm vợ chồng cha con. Qua hành động của Pê-nê-lốp (một sự cẩn trọng gần như thái quá) chúng ta có thể thấy được tính chất phức tạp của thời đại - nơi mà những hiểm nguy luôn rình rập, đe dọa con người. 6. Về nhân vật Uy-lít-xơ Sau khi nghe Pê-nê-lốp nói với Tê-lê-mác, Uy-lít-xơ vẫn nhẫn nại mỉm cười nói với con trai : “Tê-lê-mác, con ! Đừng làm rầy mẹ, mẹ còn muốn thử thách cha ở tại nhà này. Thế nào rồi mẹ con cũng sẽ nhận ra, chắc chắn như vậy…” ; thì còn là nói với chính Pê-nê-lốp. Như vậy, khi nói những lời này, Uy-lít-xơ đã nhận ra ý định thử thách của Pê-nê-lốp và mặc dù chưa biết sự thử thách đó là gì nhưng chàng vẫn sẵn sàng chấp nhận. Có thể nói, Pê-nê-lốp và Uy-lít-xơ đã ngầm đối thoại với nhau. Cái “mỉm cười” của Uy-lít-xơ cho thấy chàng là người hết sức bản lĩnh, biết kìm chế tình cảm để có được sự sáng suốt, chín chắn. Đó là cái “mỉm cười” của người hiểu rõ khả năng của mình, tin vào mình, cũng là cái cười thấu hiểu và độ lượng đối với vợ và con trai mình. 7. Cách kể của Hô-me qua màn gặp mặt là một lối kể mang đậm phong cách kể chuyện của sử thi: chậm rãi, tỷ mỷ và trang trọng. Lối kể ấy làm các sự việc như được kéo dài ra, dền dứ và hồi hộp hơn. Sử thi thường được kể (diễn xướng) trong những khoảng thời gian dài. Vì thế phong cách kể ấy làm cho những đêm nghe kể sử thi hứng khởi và hấp dẫn hơn. Phẩm chất của các nhân vật thường được nhà văn miêu tả qua đối thoại - những đối thoại đầy trí tuệ, có chiều sâu và thường đa nghĩa. Bên cạnh đó biện pháp phân tích diễn biến nội tâm của nhân vật cũng tham gia tích cực vào việc xây dựng nên hình tượng các nhân vật trong đoạn trích này. Trong khổ cuối ("Dịu hiền... buông rời"), Hô-me đã sử dụng biện pháp so sánh mở rộng, kiểu câu tầng bậc và lối lặp đi lặp lại các định ngữ chỉ phẩm chất của nhân vật. Các biện pháp nghệ thuật ấy đã cho thấy vẻ đẹp, phẩm chất đặc biệt là niềm vui mừng khôn xiết của Pê-nê-lốp khi nhận ra người chồng yêu quý của mình. Để khắc hoạ nổi bật hình tượng nhân vật, Hô-me-rơ đã sử dụng một nghệ thuật miêu tả tâm lí đặc sắc. Trong đoạn trích, nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sử thi được thể hiện rất rõ trong đoạn từ “Nói xong, nàng bước xuống lầu” cho đến “dưới bộ quần áo rách mướp.”. Nếu như trong tiểu thuyết hiện đại, tâm lí nhân vật thường được diễn tả trực tiếp, với cái nhìn từ bên trong thì ở đây, bút pháp sử thi lại diễn tả tâm lí nhân vật thông qua hành động, cách ứng xử, thái độ từ những biểu hiện bên ngoài, với cái nhìn từ bên ngoài. Tâm trạng phân vân, đầy nghi hoặc của Pê-nê-lốp được diễn tả bằng những chi tiết như : - … nàng không biết nên đứng xa xa hỏi chuyện người chồng yêu quý của mình hay nên lại gần, ôm lấy đầu, cầm lấy tay người mà hôn ? - Khi vào đến nhà, bước qua ngưỡng cửa bằng đá, nàng đến ngồi trước mặt Uy-lít-xơ, dưới ánh lửa hồng, dựa vào bức tường đối diện… - …nàng vẫn ngồi lặng thinh trên ghế hồi lâu, lòng sửng sốt, khi thì đăm đăm âu yếm nhìn chồng, khi lại không nhận ra chồng dưới bộ quần áo rách mướp. 8. Có thể so sánh giữa cách miêu tả tâm lí nhân vật giữa sử thi Đam Săn của Việt Nam và sử thi cổ điển Ô-đi-xê của Hi Lạp qua hai đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây và đoạn trích Uy-lít-xơ trở về để thấy được sự giống nhau và khác nhau về bút pháp sử thi giữa hai tác phẩm, hai truyền thống văn học, qua đó nắm được những đặc điểm tiêu biểu của bút pháp sử thi : - Giống nhau : + Dùng cái bên ngoài hay trực tiếp diễn tả từ bên trong tâm lí nhân vật ? Ví dụ ? + Có sử dụng lối miêu tả cụ thể, tỉ mỉ, chi tiết không ? Những đặc điểm miêu tả được lí tưởng hoá như thế nào ? Ví dụ ? - Khác nhau : + Những chi tiết dùng để diễn tả tâm lí nhân vật trong trích đoạn sử thi Đam Săn có gì khác so với những chi tiết dùng để diễn tả tâm lí nhân vật trong trích đoạn sử thi Ô-đi-xê ? + Chất dân gian trong sử dụng hình ảnh, ngôn ngữ ở trích đoạn Đam Săn khác như thế nào cách sử dụng hình ảnh, ngôn ngữ trau chuốt, trang trọng, cao nhã trong trích đoạn Ô-đi-xê ? 9. Dựa theo đoạn trích, có thể tự biểu diễn cảnh Uy-lít-xơ trở về. Để tổ chức được một buổi biểu diễn, mỗi lớp cần chọn ra một số bạn có năng khiếu kịch, tổ chức phân vai, học lời thoại... Để tập luyện và biểu diễn được dễ dàng cần có sự cố vấn của thày cô, cũng cần rút bớt những phần rườm rà trong lời thoại có như vậy, mục đích của buổi biểu diễn mới thành công. 10. Thử nhập vai Uy-lít-xơ để kể lại câu chuyện. Chú ý khi nhập vai Uy-lít-xơ, phải thay đổi các từ ngữ xưng hô, thay một số lời thoại trực tiếp của Uy-lít-xơ thành lời kể gián tiếp của mình (trong vai nhân vật). Tham khảo bài viết dưới đây: Sau khi tiêu diệt hết bọn cầu hôn và cùng với con trai Tê-lê-mác yêu quý trừng phạt những lũ đầy tớ vong ân phản chủ, ta hồi hộp đợi mong thời khắc, Pê-nê-lốp nhận mình. Thế nhưng hôm ấy, sau khi đã ngồi đợi rất lâu, ta mới thấy nang yên lặng bước vào. Nàng ngồi đối diện vơi ta nhưng lặng thinh không nói. Có lúc ta thấy nàng đăm đăm âu yếm nhìn ta nhưng có lúc lại thấy nàng thờ ơ lạnh nhạt. Trong lúc đang băn khoăn quá đỗi thì Tê-lê-mác lên lời. Ta chờ đợi sự phản ứng của nàng sau những lời con trai trách mẹ nhưng nàng vẫn không vồ vập. Nàng khẳng định với con trai nếu ta đúng là chồng nàng thật thì hẳn sẽ có những dấu hiệu riêng để nhận ra nhau. Nghe nàng nói vậy ta đã hiểu nàng muốn nói điều gì. Ta bèn vừa an ủi vừa nhắc nhở con trai Tê- lê-mác hãy đề phòng sự trả thù của bọn cầu hôn, nhắc nhở mọi người mặc quần áo đẹp ca múa làm người ngoài lầm tưởng trong nhà đang làm lễ cưới, rồi ta cũng đi tắm rửa. Ta trở về chỗ cũ ngồi đối diện với Pê-nê-lốp trên chiếc ghế bành rồi nhắc nhũ mẫu ơ- ri-clê chuẩn bị kê riêng cho mình một chiếc giường để ngủ. Không ngờ ngay lúc ấy người cũng bạo dạn nói với u già: Già hãy khiêng chiếc giường chắc chắn ra khỏi gian phòng vách tường kiên cố do chính tay Uy-lít-xơ đã kê nó ngày xưa. Nghe Pê-nê-lốp nói vậy, ta bỗng giật nẩy mình bởi ta nghĩ rằng bí mật về chiếc giường xưa không còn nữa. Buột miệng ta đã nhắc lại tất cả bí mật về quá trình chế tác chiếc giường. Nhưng vừa mới nói dứt lời song bỗng dưng ta thấy Pê-nê-lốp chạy đến ôm chầm lấy cỏ ta và nói bao lời yêu thương nghẹn ngào trong nước mắt. Lúc ấy ta mới chợt hiểu ra sự thông minh và sắc sảo của vợ mình. Ta ôm chặt lấy nàng, người vợ xiết bao thân yêu, người bạn đời thuỷ chung sau bao nhiêu năm xa cách. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Soạn văn: "Chuyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy"
|
|
|
|
I. Tìm hiểu chung:
1. Đặc trưng cơ bản của truyền thuyết:
- Phản ánh lịch sử một cách độc đáo: được hư cấu, khúc xạ theo quan niệm, cảm xúc của nhân dân, có xen lẫn yếu tố thần kỳ.
- Để hiểu đúng truyền thuyết, cần đặt nó trong mối quan hệ với môi trường lịch sử, văn hóa mà nó sinh ra.
2. Xuất xứ tác phẩm:
- Đây là văn bản “Rùa vàng” được trích trong Lĩnh Nam chích quái.
- Trình bày sự tích thành Cổ Loa, sự tích An Dương Vương lập nước Âu Lạc, sự tích Mị Châu với ngọc trai – giếng nước.
- Giải thích nguyên nhân mất nước Âu Lạc.
II. Đọc hiểu:
1. An Dương Vương xây thành, chế nỏ và bảo vệ đất nước:
- Chế nỏ:
- Câu hỏi: nếu có giặc ngoài lấy gì mà chống?
=> ý thức trách nhiệm, tinh thần cảnh giác của An Dương Vương.
=> Tác giả dân gian muốn ca ngợi công lao dựng nước và giữ nước của An Dương Vương, lý tưởng hóa việc xây thành, chế tạo vũ khí.
2. Bi kịch mất nước và bi kịch tình yêu
a. Bi kịch mất nước:
Trách nhiệm của An Dương Vương
- Triệu Đà cầu hôn => hôn nhân nhằm mục đích xâm lược.
- Vua vô tình gả con gái là Mỵ Châu cho con trai Đà là Trọng Thủy => An Dương Vương không phân biệt được đâu là bạn, đâu là thù.
- An Dương Vương cho Trọng Thủy ở rể: vua mất cảnh giác trầm trọng, tạo điều kiện cho giặc tự do tiến sâu vào lãnh thổ
- Trọng Thủy mang nỏ thần về, Triệu Đà cất binh sang xâm lược, An Dương Vương vẫn thản nhiên đánh cờ => An Dương Vương không lo phòng bị nghiêm túc, quá ỷ lại vào vũ khí.
=> An Dương Vương chủ quan, quá lơ là cảnh giác. Ông là người đầu tiên phải gánh trách nhiệm về việc mất nước.
Trách nhiệm của Mỵ Châu:
- Lén cho Trọng Thủy xem nỏ thần
=> tiết lộ bí mật quan trọng của quốc gia.
- Rắc lông ngỗng
=> dẫn đường cho giặc đuổi theo, dồn vua cha đến bước đường cùng.
=> Mỵ Châu là một kẻ ngây thơ nhẹ dạ, không biết suy nghĩ nặng nhẹ, đem tình vợ chồng đặt lên trên nghĩa vụ đối với đất nước.
Nhân vật Mỵ Châu
- Lấy Trọng Thủy: vâng theo lời cha.
- Cho Trọng Thủy xem nỏ thần: phục tùng chồng, yêu chồng mù quáng, cả tin nhẹ dạ.
- Rắc lông ngỗng: không chịu được nỗi đau ly biệt, muốn gặp lại chồng.
Mỵ Châu ngây thơ, hết lòng yêu thương Trọng Thủy bằng một tình cảm chân thành, mãnh liệt và thiếu lý trí, không biết tình cảm đó có thể xung đột, đe dọa lợi ích quốc gia và gây ra bi kịch cho bản thân mình
Nhân vật Trọng Thủy
- Lấy cắp lẫy nỏ
- Nếu chẳng may giặc giã…
- Dẫn quân đuổi theo
=> Trọng Thủy là một tên gián điệp đích thực và đắc lực của Triệu Đà. Từ đầu đến cuối, hắn lừa dối Mỵ Châu và gây ra cái chết của cha con An Dương Vương.
- Cái chết của Trọng Thủy:
+ Nguyên nhân: nảy sinh tình cảm vợ chồng, không giải quyết được mâu thuẫn trong con người mình
=> Trọng Thủy là nhân vật phức tạp, vừa là thủ phạm, vừa là nạn nhân của chiến tranh xâm lược
=> tố cáo chiến tranh.
=> bi kịch của kẻ bị kẹt ở giữa tham vọng và tình yêu.
3. Thái độ của tác giả dân gian:
* Đối với An Dương Vương:
- An Dương Vương chém đầu Mỵ Châu
=> người lãnh tụ phải vì cộng đồng mà thẳng tay trừng trị kẻ có tội dù đó là con ruột của mình cái chung phải đặt lên trên cái riêng.
- An Dương Vương cầm theo sừng tê bảy tấc theo Rùa vàng xuống biển
=> trong lòng nhân dân, người anh hùng dựng nước là bất tử.
* Đối với Mỵ Châu:
- Rùa vàng nói: “Giặc ở sau lưng nhà vua đó!”
=> đại diện cho trí tuệ và sự phán quyết mạnh mẽ của cha ông, nghiêm khắc phê phán kẻ có tội.
- Máu thành ngọc trai, xác thành ngọc thạch
=> nhân dân bao dung, an ủi cho tấm lòng trong trắng ngây thơ của Mỵ Châu (bị lừa dối, vô tình phạm tội).
=> cái chung bao giờ cũng phải được đặt ở trên cái riêng, đôi khi phải hi sinh tình riêng cho cái chung.
* Đối với Trọng Thủy:
- Cái chết của Trọng Thủy: hắn là giặc ngoại xâm, là kẻ phụ tình => phải bị đền tội.
- Chi tiết ngọc trai giếng nước:
+ Hóa giải oan tình của Mỵ Châu.
+ Nhân dân ta cũng tha thứ cho Trọng Thủy. Hắn cũng bị vua cha lợi dụng.
=> vẻ đẹp hòan mỹ, thể hiện sự bao dung, nhân hậu của nhân dân ta.
III. Tổng kết:
Nội dung: bài học lịch sử:
- Cảnh giác với kẻ thù.
- Xử lý đúng mối quan hệ giữa chung và riêng, nhà và nước, cá nhân và cộng đồng.
Nghệ thuật:
- Kết cấu chặt chẽ.
- Xây dựng nhân vật vừa phản ánh được mâu thuẫn cá nhân, vừa phản ánh mâu thuẫn giữa dân tộc với kẻ thù xâm lược.
- Xây dựng tình tiết nghệ thuật đẹp, cô đọng, hàm súc.
|
|
|
|
giải đáp
|
Soạn bài: "Chiến thắng Mtao - Mxay"
|
|
|
|
Chiến thắng Mtao Mxây ( Trích Đam San- sử thi Tây Nguyên )
Nếu người Thái ở tây bắc tự hào về truyện thơ “Tiễn dặn người yêu” của họ bao nhiêu thì đồng bào Ê đê Tây Nguyên cũng tự hào về sử thi Đam San bấy nhiêu. Người Thái cho rằng mỗi lần hát tiễn dặn lên gà ấp phải bỏ ổ, cô gái quên hái rau, anh đi cày quên cày. Người Ê Đê cho rằng người ta thích nghe truyện Đam San, nghe mài không thôi, nghe kể liền ba bốn lần cũng không biết chán. Để thấy được điều đó chúng ta cùng tìm hiểu sử thi Đam San với đoạn trích “Chiến thắng Mtao Mxây”. I. GIỚI THIỆU CHUNG 1. Khái niệm:Sử thi là những tác phẩm tự sự dân gian có qui mô lớn, sử dụng ngôn ngữ có vần, nhịp, xây dựng những hình tượng nghệ thuật hoành tráng, hào hùng để kể về một hoặc nhiều biến cố lớn lao diễn ra trong đời sống cộng đồng của cư dân thời cổ đại. Sử thi cổ đại là sản phẩm tinh thần - lễ nghi, nghệ thuật của xã hội thị tộc-bộ lạc, một thể loại một đi không trở lại, phản ánh những kì tích của cộng đồng trong công cuộc xây dựng sự phát triển, chinh phục tự nhiên và chiến đấu chiến thắng mọi kẻ thù của bộ tộc. * Những bộ sử thi của Việt Nam và thế giớiViệt Nam:"Đẻ đất đẻ nước" của người Mường, bằng thơ. Bản sưu tầm ở Hoà Bình dài 3887 câu thơ; bản sưu tầm ở Thanh Hóa dài 8503 câu (?) - "Bài ca Đan Sẵn" của người Ê đê. - "Xinh Nhã" của nhiều bộ tộc ở Tây Nguyên, chủ yếu của người Ê đê. - “Y Ban” của nhiều bộ tộc ở Tây Nguyên. - "Đăm Di" của người Ê đê và Giarai. - "Xinh Chơ Niếp" của người Ê đê. - v.v... Thế giới:- "Ramayana" của Ấn Độ gồm có 24.000 câu thơ đôi. - "Mahabharata" của Ấn Độ dài 110.000 câu thơ đôi. - "Ôđixê" của Hi Lạp dài 12.110 câu thơ, tác giả Hômerơ. - "Iliat" của Hi Lạp, dài 15.683 câu thơ, tác giả Hômerơ. - v.v... Những ý kiến về sử thi- ."Thời đại thịnh vượng nhất của giai đoạn cao trong thời đại dã man được diễn tả trong những bài thơ của Hômerơ, nhất là tập Iliat. ... Bản anh hùng ca của Hômerơ và toàn bộ thần thoại - đó là những di sản chủ yếu mà người Hi Lạp đã đem được từ thời đại dã man sang thời đại văn minh...” (Ăng ghen) - "Chỉ thông qua sức mạnh phi thường của cộng đồng, người ta mới có thể giải thích được vẻ đẹp tuyệt vời và sâu sắc của thần thoạivà anh hùng ca, một vẻ đẹp xây dựng trên sự hoà hợp triệt để giữa nội dung và hình thức..." (Gorki) - "Sử thi anh hùng bao hàm một bức tranh hoàn chỉnh của cuộc sống nhân dân dưới hình thức kể truyện anh hùng về quá khứ. Thế giới sử thi lý tưởng và nhân vật dũng sĩ trong sự thống nhất hài hoà của chúng - đó là những nhân tố chủ yếu của một nội dung sử thi anh hùng". (Mêlêtinxki) 2. Phân loại
Sử thi thần thoại. Sử thi anh hùng. 3. sử thi Đam san Đam San thuộc loại sử thi anh hùng . Tác phẩm tuy kể về cuộc sống của cá nhân tù trưởng Đam San nhưng qua đó người nghe nhận ra hình ảnh của cả cộng đồng Ê Đê trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động ở sư thi anh hùng, số phận của các nhân anh hùng thống nhất cao độ đối với số phận của cả thị tộc. Chiến tranh là đề tài nổi bật nhất của sử thi anh hùng. Văn bản tác phẩm nếu được sưu tầm đầy đủ nhất sẽ có 6 cuộc chiến tranh do tù trưởng Đam San lãnh đạo. Tóm tắt tác phẩmTheo tục "nối dây", Đam Săn phải lấy hai chị em Hơ Nhí và Hơ Bhí làm vợ. Anh đã chống lại, nhưng bị trời lấy ống điếu gõ vào đầu 7 lần "Đam Săn chết lịm, rồi Trời cho sống lại". Cuối cùng Đam Săn phải làm theo lời Trời. Đam Săn trở thành tù trưởng giàu mạnh, danh tiếng vang lừng rừng núi, "đầu đội khăn kép, vai mang túi da". Đam Săn đã cùng bộ tộc đánh thắng hai tù trưởng hùng mạnh khác là Mơtao Grứ và Mơtao Mơxây, bắt được nhiều nô lệ, thu được nhiều tài sản quý báu. Ngang tàn coi thường thần linh, Đam Săn chặt cây thần. Chặt mãi cây mới đổ. Cây đổ quật chết cả hai nàng Hơ Nhí và Hơ Bhí. Anh vác rìu đi lên trời, cầu xin Trời cứu sống vợ anh. Đang sống trong yên vui giàu có, Đam Săn lại lên đường đi bắt Nữ thần Mặt Trời để có "hai vợ lẽ... vợ thật đẹp”. Cuộc cầu hôn thất bại, anh trở lại quê nhà, bị chết lún giữa rừng của bà Sun Y Rít. Đam Săn chết, cháu Đam Săn ra đời, lại theo tục "nối dây" đi tiếp hành trình của cậu chàng, dấn thân vào cuộc chiến đấu mới. 4. Đoạn trích- Vị trí đoạn trích : Đoạn trích thuộc phần giữa của tác phẩm. - Tóm tắt đoạn trích Đam San đột nhập vào nhà và gọi Mtao Mxây xuống đánh. Mtao Mxây múa kiếm trước nhưng vụng về đâm không trúng Đam San. Ông trời bày cho Đam San dùng chày giã gạo đâm vào vành tai của Mtao mxây. Đam San làm theo Mtao Mxây ngã. Đam san cắt đầu Mtao Mxây cắm trên cọc. Dân làng tôi tớ đi theo Đam San mang theo của cải voi ngựa của Mtao Mxây. Lễ cúng thần linh ăn mừng chiến thắng. - Đại ý : Miêu tả cuộc đọ sức giữa Đam San và mtao Mxây đê giành lại vợ , thể hiện niềm tự hào vè người anh hùng của dân làng. II. PHÂN TÍCH1.Cuộc đọ sức và giành chiến thắng của Đam sanĐam San thách thức, đến tận nhà của Mtao Mxây: “Ơ diêng!, Ơ diêng! Xuống đây ta thách nhà ngươi đọ sức với ta đấy”. Mtao Mxây ngạo nghễ: “Ta không xuống đâu, diêng ơi! Tay ta còn bận ôm vợ hai của chúng ta ở trên này cơ mà”. a, Diễn biến cuộc chiến* Hiệp một: Mtao Mxây múa khiên trước. Đam san vẫn giữ thái độ bình tĩnh thản nhiên => bản lĩnh một tù trưởng. Mtao Mxây tỏ ra kém cỏi “khiên hắn kêu lạch cạch như quả mướp khô” Đam San múa “một lần xốc tới, chàng vượt một đồi tranh …. Một lần xốc tới nữa chàng vượt một đồi lồ ô. Chàng chạy vun vút qua phái đông qua phía tây”. Trong khi đó Mtao Mxây “ bước thấp bước cao chạt hết bãi tây sáng bãi đông. Hắn vung đao chém phập một cái nhưng chỉ trúng vào một cái chão cột trâu”. Mặc dù đã lộ rõ sự kém cỏi nhưng Mtao Mxây vẫn có những thái độ huyênh hoang. * Hiệp hai: Đam San múa khiên trước, Mtao Mxây hoảng hốt chạy bước thấp bước cao =>vội cầu cứu Hơ Nhị quăng cho miếng trầu. Đam San giành được miếng trầu => sức khoẻ tăng lên => đuổi theo và đâm trúng kẻ thù nhưng cả hai lần đều không thủng =>cầu cứu thần linh. Nhờ có ông trời giúp sức => Đam San chộp ngay một cái chầy mòn ném cúng vào vành tai kẻ thù=>kẻ thù ngã lăn ra đất cầu xin “Ơ diêng! Ơ diêng! Ta làm lễ cầu phúc cho diêng một trâu, một voi”. Đam San cắt đầu Mtao Mxây bêu ngoài đường” => cuộc đọ sức kết thúc. Ông trời là nhân vật phù trợ cũng như ông tiên, Bụt… đó chỉ là phù trợ còn quyết định chiến thắng phải là Đam San. b, Nghệ thuật miêu tả- Cách miêu tả của người Tây nguyên về nhân vật Đam San trong cuộc chiến giành lại vợ : Miêu tả hành động của Đam San bằng cách so sánh và phóng đại Múa trên cao như gió bão Múa dưới thấp như lốc. - Mtao Mxây : khiên hắn tròn như đầu cú, gươm hắn óng ánh như cái cầu vồng. - Dân làng: Đoàn người đông như bầy cà tong, đặc như bầy thiên thần, ùn ùn như kiến như mối, tôi tớ mang của cải về nhiiều như ong di chuyển nước, vò vẽ di chuyển hoa. =>Nghệ thuật phóng đại, so sánh cũng là nghệ thuật tiêu biểu của sử thi. 2. Lễ ăn mừng chiến thắng a, Quang cảnhNhà Đam San đông ngịt khách. Tôi tớ chật ních cả nhà. Đam San : Rất đẹp, oai phong, dũng mãnh mang khí phách của một tù trưởng hùng mạch. Mở tiệc ăn uống linh đình. Lễ ăn mừng sau chiến thắng của Đam San được miêu tả thông qua các chi tiết sau: Chàng nằm trên võng, tóc thả trên sàn , hứng tóc chàng là một cái nong hoa. Chàng uống không biết say, ăn không biết no, chuyện trò không biết chán… Cả miền Ê đê – Ê ga ca ngợi Đam San là một dũng tướng chắc chết mười mươi cũng không lùi bước, ngực quấn chéo một mềm chiến,… 3. Ý nghĩa của cuộc chiến thắngCuộc chiến đấu của Đam San với mục đích giành lại gia đình, nhưng lại có ý nghĩa cộng đồng .Đòi lại vợ chỉ là cái cớ là nảy sinh mâu thuẫn giữa các bộ tộc dẫn đến chiến tranh mở rộng bờ cõi làm nổi uy dnah của cộng đồng. Vì vậy thắng hay bại của người tù trưởng có ý nghĩa rất quan trọng hơn cả. Cho nên lời của dân làng bên phía Mtao Mxây đều tình nguyện đi theo Đam San => trong sử thi không nói nhiều đến cái chết mà lựa chọn nhiều chi tiết ăn mừng. 4. Ý nghĩa đoạn tríchLàm sống lại quá khứ hào hùng của người Ê đê Tây nguyên thời cổ đại. Người Tây nguyên tự hào về tổ tiên mình có Đam San, Xinh Nhã,… cũng như người Việt có Phù Đổng Thiên Vương, An Dương Vương,… Đoạn trích thể hiện vai trò quan trọng của người anh hùng với cộng đồng. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Phân tích ý nghĩa kết thúc truyện Chiếc thuyền ngoài xa
|
|
|
|
Nhìn thấy hai cảnh: - Cảnh 1: Cảnh sương hồng buổi sáng mai - Cảnh 2: Cảnh người đàn bà vùng biển bước ra từ bức tranh Ý nghĩa: - Cảnh 1: Vẻ đẹp thơ mộng của nghệ thuật - Cảnh 2: Hiện thực đời sống, lam lũ, khó nhọc => thông điệp: Hãy làm cho nghệ thuật và đời sống trở nên gần gũi.
|
|
|
|
giải đáp
|
cho biết những số phận bất hạnh sau chiến tranh được thể hiện như thế nào trong tác phẩm :"số phận con người "
|
|
|
|
Thể hiện qua hai nhân vật: - Xô - cô - lốp: Tham gia quân đội, bị thương, bị đày đọa trong trại tập trung; vợ và hai con gái bị chết vì bom phát xít Đức, con trai đi lính và hi sinh đúng ngày chiến thắng; sau chiến tranh Xô - cô - lốp không biết đi đâu về đâu. - Bé Va - ni - a lang thang, rách rưới, hằng ngày nhặt nhạnh kiếm ăn nơi hàng quán, ban đêm bạ đâu ngủ đó; cha chết trận, mẹ chết bom, không biết quê hương, không người thân thích. => Cổ máy chiến tranh đã nghiền nát những tổ ấm, những hạnh phúc và cả những thân phận. Trong cuộc chiến chống phát xít của nhân dân Xô Viết vĩ đại không chỉ có vinh quang mà còn có nhiều đau thương, mất mát
|
|
|
|
giải đáp
|
Thiên nhiên trong tập: "Nhật kí trong tù"
|
|
|
|
Xưa nay, thiên nhiên là đề tài rộng lớn và nguồn cảm hứng sáng tạo vô tận trong thi ca, nghệ thuật, nhất là trong thơ ca phương Đông. Thiên nhiên có vai trò hết sức quan trọng đối với đời sống tinh thần của con người bởi nó là nơi gửi gắm, chia sẻ buồn vui, làm cho tâm hồn thêm thanh cao, trong sáng. Giống như các nhà thơ xưa, Hồ Chí Minh cũng dành cho thiên nhiên một tấm lòng ưu ái. Đúng như giáo sư Đặng Thai Mai đã nhận xét : “Trong “Nhật kí trong tù”, thiên nhiên chiếm một địa vị danh dự”. Những bài thơ tả cảnh thể hiện rất rõ cảm hứng dạt dào của Bác trước thiên nhiên. Có bài chỉ vài nét phác họa đơn sơ, song cũng có bài như một bức tranh sơn mài lộng lẫy. Nhưng bao trùm lên tất cả vẫn là vẻ đẹp phong phú, đa dạng của thiên nhiên. Mặc dù thân thể bị giam cầm trong ngục tối nhưng trái tim nhạy cảm của Bác vẫn dễ dàng rung động trước một ánh nắng mai rọi chiếu nơi cửa ngục âm u : Trong ngục giờ đây còn tối mịt, Ánh hồng trước mặt đã bừng soi. (“Buổi sớm”).
Hoặc giao cảm chan hòa với đêm trăng đẹp : Trong tù không rượu cũng không hoa, Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ. Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ, Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ. (“Ngắm trăng”).
Bác đã quên đi trong phút chốc cái hiện thực phũ phàng, nghiệt ngã chố lao tù để thảnh thơi mà “thưởng nguyệt” như cái thú thanh cao của thi sĩ muôn đời. Vẻ đẹp thiên nhiên ở đây giản dị mà độc đáo : ánh trăng soi qua khung cửa sổ nhà lao và trở thành tri âm, tri kỉ của người tù. Cách ngắm trăng độc đáo có một không hai ấy thể hiện tâm hồn nghệ sĩ đa cảm và tinh tế. Trăng làm đẹp người, người làm đẹp trăng. Cái nhìn thi vị hóa của Bác khiến trăng thêm đẹp và vẻ đẹp của trăng làm cho tâm hồn Bác rung động sâu xa như tâm hồn thi sĩ. Giữa trăng với người có mối giao hòa đặc biệt. Mặt trời, trăng sao, tiếng chim hót sớm mai, hương hoa hồng thoảng vào trong ngục…tượng trưng cho mơ ước, niềm vui, khát vọng tự do của người tù cộng sản Hồ Chí Minh. Đặc biệt là hình tượng mặt trời xuất hiện nhiều lần trong thơ Bác đã trở thành biểu tượng thiêng liêng của niềm tin vào tương lai tươi sáng của Cách mạng, của cuộc đời. Trên đường chuyển lao, đi trong đêm khuya giá lạnh nhưng Bác vẫn vượt lên gian khổ để thưởng thức vẻ đẹp thiên nhiên : Gà gáy một lần đêm chửa tan, Chòm sao đưa nguyệt vượt lên ngàn; Người đi cất bước trên đường thẳm, Rát mặt đêm thu, trận gió hàn. Phương Đông màu trắng chuyển sang hồng, Bóng tối đêm tàn, quét sạch không; Hơi ấm bao la trùm vũ trụ, Người đi, thi hứng bỗng thêm nồng. (“Giải đi sớm”)
Thiên nhiên trong “Nhật kí trong tù” đẹp đẽ và ấm áp tình người. Nó thực sự trở thành nguồn động viên, an ủi to lớn đối với người tù đặc biệt Hồ Chí Minh : Mặc dù bị trói chân tay, Chim ca rộn núi, hương bay ngát rừng. Vui say ai cấm ta đừng, Đường xa âu cũng bớt chừng quạnh hiu. (“Trên đường đi”).
Có lúc, thiên nhiên hiện lên như những thử thách nghiệt ngã tưởng chừng khó có thể vượt qua : “Đi đường mới biết gian lao. Núi cao rồi lại núi cao trập trùng” (“Đi đường”). Hoặc đêm thu giá lạnh, gió quất ràn rạt từng trận, từng trận vào mặt “Người đi cất bước trên đường thẳm” (“Chiều tối”). Chiều tàn, Bác vẫn phải dẫn bước trên con đường núi quanh co, hiu quạnh, giữa thiên nhiên dữ dội và khắc nghiệt : “Gió sắc tựa gươm mài đá núi. Rét như dùi nhọn chích cành cây” (“Hoàng hôn”). Vượt qua tất cả những gian nan thử thách ấy, Bác trở nên con người vĩ đại. Thiên nhiên muôn màu muôn vẻ luôn là người bạn song hành với Bác trong suốt cuộc đời. Bác đã dành cho thiên nhiên một vị trí xứng đáng trong tâm hồn và trong thơ mình. Đó cũng là biểu hiện của tình cảm phong phú cùng tấm lòng nhân ái mênh mông của người chiến sĩ – thi sĩ Hồ Chí Minh.
|
|
|
|
giải đáp
|
Tìm hiểu: "Nhật kí trong tù"
|
|
|
|
I. Hoàn cảnh sáng tác
8/1942 NAQ- HCM trở lại TQ tranh thủ sự ủng hộ của thế giới với cuộc chiến tranh chống xâm lược. Ngày 29/8/42 tại Túc Vinh Quảng Tây Người bị chính quyền TGT bắt giam. 13 tháng tù bị giải đi qua 30 nhà lao của 13 huyện thuộc QT, Người st 133 bài thơ bằng chữ Hán và lấy tiêu đề là Ngục trung nhật kí.
II. Giá trị của tác phẩm
1. Nội dung
a. Phản ánh chân thực bộ mặt đen tối của nhà tù & chính quyền phản động Tưởng Giới Thạch
- Bắt giam vô lí người vô tội: Cháu bé trong nhà lao TD; Gia quyến người bị bắt lính.
- Xã hội bất công vô nhân đạo đày ải người tù dã man: Cấm hút thuốc lá, Tiền vào nhà giam, Cờ bạc.
- Hình ảnh những người tù luôn đói cơm rách áo, tiều tuỵ khổ ải đến chết: Cơm tù, một người tù cờ bạc vừa chết, Bốn tháng rồi.
b. Bức chân dung tinh thần tự hoạ của HCM: Đại nhân, Đại trí , Đại dũng. (Viên Ưng)
- Tâm hồn lớn:
+ Lòng nhân đạo sâu sắc mang tinh thần của giai cấp vô sản ( thương yêu không phân biệt với người cùng khổ): -Dành tình yêu thương cho mọi kiếp người , c/đ đau khổ mà Bác gặp trong tù và trên đ/n TQ
- Thương nhớ đất nước và nd Việt Nam đang sống trong cảnh nô lệ: Om nặng , không ngủ được, Tức cảnh….
+ Tình yêu thiên nhiên nồng nàn, sâu sắc : TN trong thơ sinh động có hồn , gửi gắm tâm sự & thể hiện tâm hồn Bác.
+ Yêu tự do tha thiết đấu tranh suốt đời cho tự do của nd: Bị hạn chế.
-Trí tuệ lớn ; tầm tư tưởng lớn:
+ Nhận thức quy luật cuộc sống theo hướng biện chứng tích cực:
+ Tầm nhìn khái quát, tổng kết được những bài học quý trong cuộc sống và trong đấu tranh: Học đánh cờ, Nghe tiếng giã gạo, Đi đường.
- Dũng khí lớn:
+ Giữ vững tinh thần ý chí CM,kiên cường trong mọi hoàn cảnh gian khổ.
+ Tinh thần lạc quan vượt mọi kkhó khăn trước mắt: Ngắm trăng, Trên đường đi, Giải đi sớm.
=> HCM là một tâm hồn yêu nước, một tấm lòng nhân đạo lớn, một cốt cách nghệ sĩ lớn.
2. Nghệ thuật
Tập thơ thể hiện bút pháp nghệ thuật đặc sắc & phong cách độc đáo của HCM.
a. Thơ bác bình dị mà sâu sắc: Lính gác khiêng lợn đi cùng, Nghe tiếng giã gạo.
b. Cổ điển và hiện đại.
- Cổ điển.
+ Đề tài( lên núi , Đi đường..)
+ Miêu tả thiên nhiên = bút pháp chấm phá ghi lại linh hồn của tạo vật .
+ NV trữ tình ung dung tự tại, nhàn tản hoà hợp với tự nhiên, vũ trụ.
- Hiện đại:
+ HT thơ vận động hướng tới sự sống , ánh sáng & tương lai.
+ Con người trong quan hệ TN là c/sĩ.
c. Phong phú đặc sắc trong giọng điệu: Trữ tình , dí dỏm ,triết lí.
|
|
|
|
giải đáp
|
Một số bài thơ trong tập: "Nhật kí trong tù"
|
|
|
|
Ngâm thơ ta vốn không ham, Nhưng vì trong ngục biết làm chi đây; Ngày dài ngâm đợi cho khuây, Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do.
Túc Vinh mà để ta mang nhục, Cố ý dằng dai, chậm bước mình; Bịa chuyện tình nghi là gián điệp, Cho người vô cớ mất thanh danh.
Đi khắp đèo cao, khắp núi cao, Ngờ đâu đường phẳng lại lao đao! Núi cao gặp hổ mà vô sự, Đường phẳng gặp người bị tống lao?!
Ta là đại biểu dân Việt Nam, Tìm đến Trung Hoa để hội đàm; Ai ngỡ đất bằng gây sóng gió, Phải làm “khách quý” ở nhà giam!
Ta người ngay thẳng, lòng trong trắng, Lại bị tình nghi là Hán gian; Xử thế từ xưa không phải dễ, Mà nay, xử thế khó khăn hơn.
Đầu tường sớm sớm vầng dương mọc, Chiếu cửa nhà lao, cửa vẫn cài; Trong ngục giờ đây còn tối mịt, Ánh hồng trước mặt đã bừng soi.
Nghĩ việc trên đời kỳ lạ thật, Cùm chân sau trước cũng tranh nhau; Được cùm chân mới yên bề ngủ, Không được cùm chân biết ngủ đâu?
Nhàn rỗi đem cờ học đánh chơi, Thiên binh vạn mã đuổi nhau hoài; Tấn công, thoái thủ nên thần tốc, Chân lẹ, tài cao ắt thắng người.
Trong tù không rượu cũng không hoa, Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ; Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ, Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.
Trong lao tù cũ đón tù mới, Trên trời mây tạnh đuổi mây mưa; Tạnh, mưa, mây nổi bay đi hết, Còn lại trong tù khách tự do.
Sớm dậy, người người đua bắt rận, Tám giờ chuông điểm, bữa ban mai; Khuyên anh hãy gắn ăn no bụng, Bĩ cực rồi ra ắt thái lai.
Trong tù khoan khoái giấc ban trưa, Một giấc miên man suốt mấy giờ; Mơ thấy cưỡi rồng lên thượng giới, Tỉnh ra trong ngục vẫn nằm trơ.
Hai giờ ngục mở thông hơi, Tù nhân ngẩng mặt ngắm trời tự do; Tự do tiên khách trên trời, Biết chăng trong ngục có người khách tiên?
Dữ tợn hung thần miệng chực nhai, Đêm đêm há hốc nuốt chân người; Mọi người bị nuốt chân bên phải, Co duỗi còn chân bên trái thôi.
Phải nhìn cho rộng suy cho kỹ, Kiên quyết, không ngừng thế tấn công; Lạc nước, hai xe đành bỏ phí, Gặp thời, một tốt cũng thành công.
Vốn trước hai bên ngang thế lực, Mà sau thắng lợi một bên giành; Tấn công, phòng thủ không sơ hở, Đại tướng anh hùng mới xứng danh.
Mỗi người nửa chậu nước nhà pha, Rửa mặt pha trà tự ý ta; Ai muốn pha trà, đừng rửa mặt, Ai cần rửa mặt, chớ pha trà.
|
|
|
|
giải đáp
|
Tư liệu về Phan Đình Diệu
|
|
|
|
A.MỤC TIÊU CẦN ĐẠT Giúp HS: - Nắm được những đặc điểm chủ yếu của tư duy hệ thống – nhân tố cực kỳ cần thiết cho công cuộc đổi mới tư duy đang được đặt ra cấp bách hiện nay. - Hiểu được trình tự lập luận của một bài viết vừa mang cảm hứng khoa học vừa mang cảm hứng chính trị - xã hội rõ nét B. PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN - SGK, SGV, tài liệu tham khảo. - Bảng phụ - Thiết kế bài dạy. C. CÁCH THỨC TIẾN HÀNH GV tiến hành giờ dạy theo phương pháp: phát vấn, thuyết giảng, đàm thoại. D. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC 1. Ổn định lớp. 2. Kiểm tra bài cũ. 3. Bài mới : Vào bài : Thế kỷ XX đã qua, một thế kỷ mới đang đến – thế kỷ của khoa học và công nghệ. Thế kỷ ấy mang lại cho chúng ta nhiều vận hội mới, nhiều cơ hội lớn nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức và khó khăn. Trước bối cảnh thế giới đang có sự chuyển mình lớn lao như thế, đòi hỏi chúng ta phải có sự thích ứng bắt kịp với thời đại. Một trong những sự thích ứng đó chính là tư duy. Nhưng tư duy thế nào cho phù hợp – đó là vấn đề được Phan Đình Diệu bàn luận trong “Tư duy hệ thống – nguồn sức sống mới của đổi mới tư duy”. I. TÌM HIỂU CHUNG 1. Tác giả ( SGK) - Phan Đình Diệu sinh năm 1936 - Quê quán: Trung Lộc- Can Lộc - Hà Tĩnh - Ông là giáo sư, tiến sĩ khoa học ... - Bên cạnh việc nghiên cứu toán học, ông còn viết nhiều bài báo đáng chú ý bàn về vấn đề thuộc các lĩnh vực chính trị, xã hội, văn hoá ... 2. Tác Phẩm : - Tư duy hệ thống - nguồn sức sống mới của đổi mới tư duy thực chất là bản rút gọn của tiểu luận Tư duy hệ thống và đổi mới tư duy( do chính tác giả thực hiện ) - In trong cuốn : Một góc nhìn của trí thức . 3. Nhan đề : - Đổi mới tư duy thực chất là thay thế hệ trình ( hay là mẫu thức ) tư duy cũ bằng hệ hình tư duy mới ; mục đích của đổi mới tư duy là nhận thức đầy đủ hơn về các quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội trên cơ sở những khám phá mới của khoa học . - Tư duy hệ thống một mặt là con đẻ của khoa học hiện đại, mặt khác là chất men thúc đẩy khoa học ngày nay có những bước tiến vượt bậc trong việc nắm bắt cái bí ẩn, phong phú vô tận của thế giới. Do vậy, muốn đổi mới tư duy thì cần phải xây dựng tư duy hệ thống hay phải quán triệt quan điểm hệ thống khi suy nghĩ và hành động. II. ĐỌC - HIỂU 1. Chủ đề của đoạn trích : Khẳng định ưu thế của tư duy hệ thống trong việc tạo ra động lực mới cho công cuộc đổi mới tư duy hiện nay. * Bối cảnh thời đại của lời kêu gọi đổi mới tư duy và xây dựng tư duy hệ thống : - Lời kêu gọi đổi mới tư duy và xây dựng tư duy hệ thống được khởi lên từ bối cảnh một thời đại đạt được nhiều thành tựu to lớn làm đảo lộn không ít quan niệm hiểu biết của chúng ta về tồn tại. - Không chỉ thế, nó còn xuất phát từ một trình độ phát triển mới của khoa học, khiến chính khoa học có thể nhận ra những hạn chế của mình trong việc nắm bắt cái “ bề sâu, bề xa” cái phức tạp đa dạng và phong phú, bí ẩn vô tận của thiên nhiên, cuộc sống. 2. Tư duy cơ giới: a. Khái niệm: Là tư duy một chiều, hiểu bộ phận để hiểu toàn thể (đồng nhất tổng cộng bộ phận với toàn thể), tuyệt đối hóa quy luật nhân quả, tất định luận. b. Những nét tiêu biểu của tư duy cơ giới: - TDCG quan niệm tự nhiên như một bộ máy mà ta có thể nhận thức được bằng phương pháp khoa học, bằng phép suy luận diễn dịch. - TDCG xét đoán sự vật, đối tượng trong các quan hệ nhân quả tất định…. - TDCG thường qui các quan hệ trong thực tế về các dạng đơn giản, có thể biểu diễn được bằng các phương trình tuyến tính với một số ít đại lượng. - TDCG gắn liền với quan điểm phân tích, xem rằng để hiểu toàn thể thì phải hiểu chi tiết từng thành phần. ( người ta thường nói : tư duy máy móc, hiểu máy móc cũng là biểu hiện của TGCG) c. Vận mệnh lịch sử - Tư duy cơ giới bắt nguồn từ nền văn minh Hy lạp cổ đại và được phát triển mạnh mẽ từ thế kỷ XVII. - Tư duy cơ giới từng chiếm vị trí gần như tuyệt đối trong nhiều thế kỷ. - Các phương pháp mà TDCG sử dụng đã giúp khoa học và công nghệ đạt được nhiều thành tựu to lớn. - Sang thế kỷ XX, khoa học gắn liền với TDCG đã tỏ ra bất lực trong việc chiếm lĩnh , lý giải nhiều đối tượng phức tạp trong thực tế như: cấu trúc vật chất ở dưới mức nguyên tử, sự hình tận của thế giới. Do vậy, muốn đổi mới tư duy thì cần phải xây dựng tư duy hệ thống hay phải quán triệt quan điểm hệ thống khi suy nghĩ và hành động. II. ĐỌC - HIỂU 1. Chủ đề của đoạn trích : Khẳng định ưu thế của tư duy hệ thống trong việc tạo ra động lực mới cho công cuộc đổi mới tư duy hiện nay. * Bối cảnh thời đại của lời kêu gọi đổi mới tư duy và xây dựng tư duy hệ thống : - Lời kêu gọi đổi mới tư duy và xây dựng tư duy hệ thống được khởi lên từ bối cảnh một thời đại đạt được nhiều thành tựu to lớn làm đảo lộn không ít quan niệm hiểu biết của chúng ta về tồn tại. - Không chỉ thế, nó còn xuất phát từ một trình độ phát triển mới của khoa học, khiến chính khoa học có thể nhận ra những hạn chế của mình trong việc nắm bắt cái “ bề sâu, bề xa” cái phức tạp đa dạng và phong phú, bí ẩn vô tận của thiên nhiên, cuộc sống. 2. Tư duy cơ giới: a. Khái niệm: Là tư duy một chiều, hiểu bộ phận để hiểu toàn thể (đồng nhất tổng cộng bộ phận với toàn thể), tuyệt đối hóa quy luật nhân quả, tất định luận. b. Những nét tiêu biểu của tư duy cơ giới: - TDCG quan niệm tự nhiên như một bộ máy mà ta có thể nhận thức được bằng phương pháp khoa học, bằng phép suy luận diễn dịch. - TDCG xét đoán sự vật, đối tượng trong các quan hệ nhân quả tất định…. - TDCG thường qui các quan hệ trong thực tế về các dạng đơn giản, có thể biểu diễn được bằng các phương trình tuyến tính với một số ít đại lượng. - TDCG gắn liền với quan điểm phân tích, xem rằng để hiểu toàn thể thì phải hiểu chi tiết từng thành phần. ( người ta thường nói : tư duy máy móc, hiểu máy móc cũng là biểu hiện của TGCG) c. Vận mệnh lịch sử - Tư duy cơ giới bắt nguồn từ nền văn minh Hy lạp cổ đại và được phát triển mạnh mẽ từ thế kỷ XVII. - Tư duy cơ giới từng chiếm vị trí gần như tuyệt đối trong nhiều thế kỷ. - Các phương pháp mà TDCG sử dụng đã giúp khoa học và công nghệ đạt được nhiều thành tựu to lớn. - Sang thế kỷ XX, khoa học gắn liền với TDCG đã tỏ ra bất lực trong việc chiếm lĩnh , lý giải nhiều đối tượng phức tạp trong thực tế như: cấu trúc vật chất ở dưới mức nguyên tử, sự hình tận của thế giới. Do vậy, muốn đổi mới tư duy thì cần phải xây dựng tư duy hệ thống hay phải quán triệt quan điểm hệ thống khi suy nghĩ và hành động. 2. Tư duy hệ thống a. Khái niệm - Tư duy hệ thống là phương pháp tư duy hướng đến mở rộng tầm nhìn để hiểu mối liên hệ tồn tại giữa mọi sự vật, nhận thức được nguyên nhân sâu xa ẩn dưới bề nổi của những hiện tượng tưởng chừng như riêng rẽ. Tư duy hệ thống giúp ta thấy bức tranh chính xác hơn của hiện thực được nhìn từ nhiều góc độ, khuyến khích ta suy nghĩ sâu sắc hơn về vấn đề và đưa ra những giải pháp với tầm nhìn xa rộng và bền vững. Vì vậy, nó đặc biệt cần thiết cho những người làm lãnh đạo, nhất là khi phải đưa ra những quyết định, sách lược quan trọng. - Tư duy hệ thống là tư duy động - nhìn vấn đề dựa trên những kiểu mẫu hành xử (pattern of behaviour) theo thời gian, phi tuyến (tư duy vòng lặp), tập trung vào nguyên nhân, xem nguyên nhân như một quá trình chứ không chỉ là sự kiện chỉ xảy ra một lần, với kết quả phản hồi ảnh hưởng trở lại nguyên nhân và những nguyên nhân ảnh hưởng lẫn nhau. *Tóm lại, tư duy hệ thống là: tư duy toàn thể (holistic thinking), mở rộng sự thấu hiểu về các liên kết tồn tại giữa các hiện tượng, giữa sự vật với môi trường. Để hiểu một sự vật thấu đáo, ta không chỉ chú tâm vào chi tiết mà còn phải cân nhắc đến bối cảnh xung quanh nó ; chú trọng vào mối quan hệ giữa các sự vật hơn là từng vật thể riêng lẻ, khuyến khích tương tác linh động giữa các cấp bậc trong hệ thống ; hiểu rằng muốn thay đổi kết quả, trước hết phải thay đổi tiến trình dẫn đến kết quả, khuyến khích cách quản lý tập trung vào tiến trình hơn là thành quả (liên hệ đến giáo dục, cách đánh giá học sinh qua quá trình học hơn chỉ là điểm số của bài thi cuối cùng );Tư duy hồi quy (backward thinking), kiểm tra giả thuyết, đặt ra những câu hỏi hồi tiếp để đi đến tận cùng vấn đề, đây là công cụ bổ túc cho dự đoán (foresight). Đặt ra kế hoạch dựa trên tầm nhìn lý tưởng tốt nhất về tương lai (không giới hạn khả năng của mình). Từ đó, suy nghĩ ngược lại để xác định những phương thức có tiềm năng dẫn đến kết quả mong muốn đó. Chọn giải pháp thích hợp nhất và tối ưu hóa tất cả những bộ phận, mối quan hệ trong hệ thống theo đó. Chưa dừng lại ở đây, với những thay đổi mới, vòng lặp sẽ tiếp tục được lập lại để kiểm tra, điều chỉnh theo những phản hồi từ hệ thống. Là những hệ thống gồm nhiều bộ phận tương tác với nhau, quy định lẫn nhau tạo ra tính hợp trội, tính trật tự, tính tổ chức, cái toàn thể lớn hơn tổng của cái bộ phận và quy định tính chất của cái bộ phận. b. Đặc điểm nổi bật nhất của tư duy hệ thống: - Đặc điểm nổi bật nhất của tư duy hệ thống là “Nhìn nhận vũ trụ như một toàn thể thống nhất, không thể tách rời, trong đó tất cả các đơn vị cấu thành và các hiện tượng cơ bản sinh ra từ chúng, đều tác động qua lại với nhau, chúng không thể được hiểu như những đơn vị độc lập mà là những phần liên thuộc hữu cơ với nhau của cái toàn thể.” - Tác giả còn nêu rõ những phẩm chất hợp trội của hệ thống : “… chính cái toàn thể xác định tính chất và hoạt động của của những riêng lẻ. Toàn thể không phải là một tổng gộp của các thành phần riêng lẻ, rời rạc mà là một chỉnh thể thống nhất gồm các thành phần tương tác với nhau, chính qua sự tương tác hữu cơ đó, mà toàn thể có những thuộc tính hợp trội, đó là những thuộc tính của toàn thể mà từng thành phần không thể có” Cách lí giải vấn đề của tác giả cho phép ta hiểu thế nào về cái gọi là phẩm chất hợp trội của hệ thống : Là cái được tạo nên bởi sự tương tác giữa tất cả các thành phần tham gia vào hệ thống. Như vậy, thành phần nào cũng có đóng góp phần mình vào phẩm chất hợp trội của toàn thể thông qua sự tương tác với các thành phần khác, và ngược lại , phẩm chất hợp trội sẽ làm tăng giá trị, tăng phẩm chất của từng thành phần một . Phẩm chất hợp trội là thuộc tính của toàn thể, là một hiện tượng siêu tổng cộng chứ không phải là tổng số đơn giản của phẩm chất từng thành phần . - Tg đưa ra hai ví dụ làm rõ: + VD1 : “ Độc lập, thống nhất ….là những thuộc tính hợp trội của một đất nước trong tòan thể, chứ không thể là của một bộ phận nào trong đất nước đó”. + VD2 “ Dân chủ bình đẳng…..là thuộc tính của một xã hội chứ không phải là của từng người riêng lẻ trong xã hội đó. + Ví dụ khác: Muốn tìm hiểu giọng điệu của một bài thơ trữ tình ta không thể chỉ dựa riêng ở một yếu tố cấu thành nào đó mà phải thấy giọng điệu là cái toát ra từ toàn thể tác phẩm. Nghiên cứu cái nhìn nghệ thuật của một nhà văn, việc cần làm là phải chỉ ra được tính hệ thống của thao tác xử lý ngôn từ mà nhà văn đã sử dụng cùng những động cơ ngầm ẩn chi phối nó. Đó tư duy mới, đang thịnh hành hôm nay. *Lưu ý: Tổng gộp >< toàn thể ↓ ↓ Tồn tại : cụ thể Trừu tượng Chính vì toàn thể có hình thức tồn tại như thế nên muốn nắm bắt nó, ta phải sử dụng tư duy hệ thống . Ví dụ : - Tư duy hệ thống khuyến khích chúng ta thấy rừng chứ không chỉ từng cái cây, “see the forest for the trees”. Đứng trong rừng, ta chỉ thấy cây, muốn thấy cả khu rừng ta cần góc nhìn bao quát như từ trên cao xuống. Tương tự, những vấn đề rắc rối mà ta đang mắc kẹt nhiều khi không thể giải quyết bằng chính lối tư duy đã gây ra nó. Những lúc như vậy, ta cứ thư giãn, tĩnh lặng cho tiềm thức hành động, để tư duy của chúng ta được tự do sáng tạo, thoát khỏi lối mòn cũ. - Chúng ta thường dính mắc vào chi tiết, mà quên đi cái toàn thể. Như câu chuyện những thầy bói mù xem voi, người sờ tai voi thì bảo con voi giống như cái quạt, người sờ chân voi bảo nó giống như cột nhà… Nhưng hai nửa con voi không phải là một con voi, một hệ thống sống không chỉ gồm tổng thể các bộ phận của nó. Mỗi hệ thống là một toàn thể thống nhất. c. Tính ưu việt: - Nắm bắt đúng chân lý bởi cái nhìn đa diện, nhiều chiều, biện chứng: thế giới là những hệ thống gồm nhiều bộ phận tương tác với nhau, quy định nhau tạo ra tính hợp trội . - Tính trật tự, tính tổ chức. - Cái toàn thể lớn hơn tổng thể của các bộ phận và quy định tính chất của bộ phận . - Phát huy sự tưởng tượng và mơ mộng của con người. Giúp con người nắm bắt đúng chân lí tìm được con đường hoá giải mọi nguy cơ, thảm hoạ đối với con người . Ví dụ: + sự ra đời của định luật Acsimet, định luật van vật hấp dẫn… + cái hay, cái đẹp của các hiện tượng văn học( trào lưu, tác giả, tác phẩm..) Giải quyết được những vấn đề mà tư duy cơ giới không thể lý giải. . Ví dụ : Từ mấy thế kỷ nay, bằng con đường phân tích ta đã tìm hiểu được khá sâu về thuộc tính của các thành phần như của một hạt cơ bản, một nguyên tử, một phân tử, một tế bào, một nơ-ron,…; nhưng nay đã đến lúc ta không phải chỉ muốn hiểu một vật, một phân tử, một hạt cơ bản, một tế bào, một nơ-ron,…làm gì, mà là cần hiểu hàng nghìn hàng triệu vật như vậy cùng làm gì. 4. TDKH, TDHT với sự tưởng tượng mơ mộng: - TDKH, TDHT rất cần đến sự tưởng tượng mơ mộng. vì đối tượng chính của KHHT là các hệ thống phức tạp trong thiên nhiên và cuộc sống, mà muốn hiểu được điều đó, chỉ dựa vào khoa học không thì chưa đủ, rất cần phải huy động thêm những tri thức mà ta thu nhận được bằng trực cảm, kinh nghiệm .Có khi, bằng trực cảm, bằng mơ mộng và tưởng tượng , ta có thể thấu nhập được vào bản chất của sự vật, hiện tượng, trong khi sự phân tích lí trí phải tạm dừng bước ở cửa ngoài . - Giữa trí thức và tưởng tượng có mối quan hệ chặt chẽ. Chúng bổ sung cho nhau“ càng nhiều tri thức thì càng có thêm trí tưởng tượng và ngược lại càng giàu tưởng tượng mơ mộng thì sẽ nảy sinh nhiều ý tưởng bất ngờ cho sáng tạo khoa học”. - Tg đã đưa ra nhiều chứng minh từ hiện thực cuộc sống: Ác-si-met; L Niutơn; X Móc-Xơ… Đó là một quan điểm mới, chúng ta cần học tập thực hiện. III.Tổng kết - Tư duy hệ thống là nguồn sức sống mới của đổi mới tư duy : + Chúng ta đang bước vào công cuộc đổi mới tư duy nhằm đáp ứng những đòi hỏi của cuộc sống hiện đại, của thời đại, của sự phát triển đất nước . + Tư duy hệ thống với sự hình dung vũ trụ là một toàn thể thống nhất không thể tách rời, là hệ hình tư duy sẽ giúp chúng ta có được một thế nhìn, cách nhìn mới về thế giới và theo đó là phương cách hành động mới mà chúng ta đang cần phải có . đó là lí do chính để ta khẳng định tư duy hệ thống là chất men, là nguồn lực thúc đẩy công cuộc đổi mới tư duy đạt được kếtt quả mong muốn. - Lập luận của bài viết vừa mang cảm hứng khoa học vừa ang cảm hứng chính trị- xã hội rõ nét. CỦNG CỐ - Tư duy hệ thống là nguồn sức sống mới của đổi mới tư duy? Gợi ý: + Đáp ứng yêu cầu của cuộc sống hiện đại, của thời đại, của sự phát triển đất nước. + Giúp chúng ta có thế nhìn, cách nhìn mới về thế giới và qua đó mà hình thành phương cách hành động mới. - Lập bảng so sánh giữa tư duy cơ giới và tư duy hệ thống. DẶN DÒ - Làm bài tập nâng cao trong SGK. - Chuẩn bị bài mới “Luyện tập về phong cách ngôn ngữ khoa học”.
|
|
|
|
giải đáp
|
Phân tích bài: "Con đường trở thành kẻ sĩ hiện đại"
|
|
|
|
Trong thờTác phẩm của Nguyễn Khắc Việni đại ngày nay, việc tự mỗi người phải xây dựng được một nguyên tắc ứng xử thích hợp để tu dưỡng, hoàn thiện mình và để đóng góp nhiều cho đất nước, cho xã hội là một việc làm cần thiết. Là nhà văn hóa nổi tiếng, một người đã hoạt động hết mình trong việc làm cho thế giới hiểu đúng về đất nước và con người Việt Nam văn minh, dân chủ, tác giả Nguyễn Khắc Viện đã đưa ra chủ kiến rõ ràng, một cách lập luận khúc chiết, vừa có lí vừa có tình trong bài Con đường trở thành kẻ sĩ hiện đại trích từ "Noi theo đạo nhà" trong cuốnBàn về đạo Nho của ông. Bài văn đã đặt ra vấn đề về con đường tu dưỡng và những yếu tố cơ bản làm nên phẩm chất của một trí thức chân chính trong thời đại ngày nay. Hệ tư tưởng Nho giáo là một hệ tư tưởng phong phú, phức tạp, được tiếp cận từ nhiều góc nhìn khác nhau. Bài văn của tác giả Nguyễn Khắc Viện trình bày xoay quanh vấn đề đạo lí, việc tu dưỡng đạo đức cá nhân. Vì thế, góc nhìn Nho giáo của tác giả mang một ý nghĩa mới. Có thể coi bài văn "Con đường trở thành kẻ sĩ hiện đại" là một áng văn nghị luận sắc sảo, có kèm theo những mảnh hồi ức, nhưng không phải là hồi kí văn học, được viết ra với mục đích chính luận khá rõ ràng. Như vậy, dưới góc tiếp cận một áng văn nghị luận mang mục đích chính luận rõ ràng, chúng tôi định hướng tiếp cận bài văn theo các ý cơ bản sau: - Bố cục. - Cách thức lập luận. - Văn phong, ngôn ngữ diễn đạt. Về bố cục, mạch lạc: Bài văn có thể chia thành hai phần lớn: Phần 1: từ đầu đến "con người trưởng thành" Phần 2: phần còn lại. Phần 1 nói về những ưu điểm của Nho giáo, phần 2 chủ yếu đề cập đến sự tu dưỡng của bản thân cũng như các bài học cụ thể được rút ra. Từ đây, mỗi vấn đề được nêu ra trong từng phần tiếp tục được tác giả làm sáng tỏ. Về cách thức lập luận: Lập luận là việc tổ chức trình bày ý kiến, luận điểm sao cho sáng rõ, nổi bật và thuyết phục. Cách lập luận trong bài văn nghị luận thể hiện ở nhiều cấp độ. Lập luận chặt chẽ, sắc sảo, thuyết phục thường biểu hiện qua cách sắp xếp, phối hợp các luận cứ (các lí lẽ, dẫn chứng) nhằm thuyết minh cho luận điểm. Trong bài văn, tác giả đã thể hiện rõ sự linh hoạt, đa dạng trong cách lập luận. Tác giả thường kết hợp nhiều cách lập luận như so sánh, tăng cấp, đối thoại, đối lập, liên tưởng... để chỉ rõ những ưu thế nổi bật của Nho giáo về đạo lí và những chủ kiến của riêng tác giả về con đường của "kẻ sĩ hiện đại". - So sánh, đối lập: "Phân tích xã hội, để hiểu rõ lịch sử, xác định đường lối thì chủ nghĩa Mác hơn hẳn, nhưng Mác trong đạo lí không được nổi bật và cụ thể như trong Nho giáo". "Khi học về các nhà văn Pháp, như Raxin, Huygô chỉ chú ý đến tác phẩm và lời văn. Nhưng khi học về Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Ngô Thì Nhậm, Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu,... chủ yếu là nhớ đến những con người, những thân phận, những con người mà xã hội xưa gọi là nho sĩ". - Đối thoại, đối lập: "Nhân việc Viện Hàn lâm Pháp tặng giải thưởng năm 1992, có người chê trách tôi đã từng thay đổi ý kiến nhiều lần. Đúng, thời thế biến chuyển, tôi có thể thay đổi chính kiến, nhưng không thể thay đổi đạo lí. Đã gọi là đạo lí, không thể xa rời dù là chốc lát. Không vì giàu sang mà sa đọa, không vì nghèo khó mà xa rời, không khuất phục trước uy quyền, thời buổi nào cũng giữ được đường đi". "Nhờ tư liệu phong phú, phương pháp phân tích xác đáng, họ đi sâu vào nhiều điểm còn hơn Nho sĩ của ta. Nhưng đọc sách vở của họ, vẫn thấy thiếu một cái gì, họ vẫn đứng ngoài mà nhìn vào, hiểu được học thuyết triết lí mà không nắm, không thấm được đạo lí. Họ thiếu cả một chiều dày truyền thống. - Đối thoại, so sánh, tăng cấp: "Tôi thích câu chuyện của Hứa Do nghe phái viên của nhà vua lần thứ hai đến mời ra làm quan, liền bỏ đi rửa tai, bảo là rửa sạch những điều dơ bẩn. Nhưng thích hơn cả là chuyện một nhà nho được vua gọi lên, bảo: "Nhà vua nên đến thăm tôi hơn là tôi đến thăm nhà vua". Vua hỏi vì sao - "Vì nếu tôi đến thì tôi mang tiếng là nịnh vua, còn vua đến tôi thì vua được tiếng là tôn trọng người hiền, quí kẻ sĩ (tức trí thức)". Như vậy, hệ thống lập luận của tác giả rất chặt chẽ và giàu sức tác động thuyết phục, tập trung làm nổi bật chủ đề, thể hiện một tinh thần đối thoại bình đẳng, thẳng thắn. Tác giả đưa ra các chủ kiến riêng, độc lập trên cơ sở phân tích các lí lẽ, dẫn chứng một cách duy lí, khoa học. Qua đó, cốt cách của "kẻ sĩ hiện đại" Nguyễn Khắc Viện đã biểu lộ rõ: + Một con người thấm nhuần truyền thống đạo lí Nho gia, nên biết rút tỉa tinh hoa của nó kết hợp với tinh hoa của nhiều học thuyết khác để xác định tư thế, cách thức dấn thân, hành xử của mình. + Một con người thẳng thắn, tự tin bày tỏ chủ kiến một cách chặt chẽ, khoa học. + Một con người luôn đề cao bản lĩnh ứng xử khẳng khái, tự tin của các nhà Nho với vua chúa và với hoàn cảnh, thời thế. Về văn phong, ngôn ngữ: Trong bài văn, tác giả Nguyễn Khắc Viện đã thể hiện tài năng của một cây bút báo chí lão luyện với lối viết giản dị, trong sáng mà cứng cỏi, mạnh mẽ. Ngôn ngữ khúc chiết, hàm súc, giàu sức biểu cảm. Câu văn được sử dụng rất linh hoạt, có nhiều câu văn rút gọn chủ ngữ. Chẳng hạn: "Không nhìn lên trời, không nghĩ đến những gì xảy ra khi chết, không thấy cần thiết biết có thần linh hay không có, không tìm tuyệt đối, không mong trở về với Chúa, thoát khỏi vòng luân hồi, chỉ mong làm con người cho ra con người". "Phải thông qua phong cách và thân phận của một ông bố mới hiểu thấu sách của Khổng Mạnh". "Khi học về các nhà văn Pháp, như Raxin, Huygô chỉ chú ý đến tác phẩm và lời văn. Nhưng khi học về Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Ngô Thì Nhậm, Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu,... chủ yếu là nhớ đến những con người, những thân phận, những con người mà xã hội xưa gọi là nho sĩ". Cách diễn đạt này ít nhiều đã thể hiện tính khách quan trong lập luận, tránh việc phô diễn, tô vẽ cái "tôi" một cách thái quá. Kể chuyện riêng của mình, nêu chủ kiến của mình nhưng không có ý áp đặt mà muốn khẳng định sự cần thiết của việc nêu ví dụ về con đường phấn đấu. Khi tước bỏ đại từ "tôi" làm chủ ngữ chỉ chủ thể của câu nói, tác giả muốn hướng thẳng tới đối tượng, phá bỏ khoảng cách giữa người viết với người tiếp nhận. Bằng cách này, độc giả có thể thâm nhập ngay vào cốt lõi của vấn đề nghị luận. Cũng có khi tác giả sử dụng các câu hàm ý khẳng định, nhấn mạnh: "Có tự kiềm chế, khắc kỉ, khép mình vào lễ nghĩa mới nên người. Có mở rộng tầm nhìn, lấy văn mà tô đẹp mới thành người. Có gắn bó với người khác thì mới thật là người. Có thấu hiểu bản thân, tri thiên mệnh mới là con người trưởng thành". "Có thể liên minh chính trị với quỷ, chỉ kết bạn với người có "đạo", dù là "đạo" khác. Liên minh chỉ nhất thời, nghĩa bạn là lâu dài. Nhìn chung, tác giả đã có một cách nhìn duy lí, thấu suốt về vấn đề, có tinh thần tự chủ cao độ, hiểu và nêu rõ những việc mình cần làm và phải làm. Tác giả chọn cách viết thẳng thắn, không hề né tránh đối thoại với những chê trách mình, thậm chí trái ngược với những quan điểm của mình. Thậm chí, tác giả cũng thừa nhận chính mình cũng thay đổi chính kiến. Từ đó, chân dung của một kẻ sĩ thấm nhuần đạo lí Nho gia, tiếp thu tinh thần duy lí của phương Tây và dấu ấn một cái tôi rất cá tính của một "ông đồ Nghệ" thể hiện rất đậm nét. Nguyễn Khắc Viện là người có đầy đủ thẩm quyền để luận về con đường trở thành "kẻ sĩ hiện đại". Sưu tầm
|
|