|
|
giải đáp
|
giúp mình cái
|
|
|
|
Những nét chính về sự nghiệp văn học của Hồ Chí Minh :
1. Quan điểm sáng tác
- Hồ Chí Minh xem văn nghệ là hoạt động tinh thần phong phú và phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng. Nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận văn hóa- tư tưởng.
- Hồ Chí Minh chú trọng tính chân thật và tính dân tộc của văn học. Người căn dặn nhà văn phải “ miêu tả cho hay, cho chân thật và cho hùng hồn” hiện thực đời sống, và phải “ giữ tình cảm chân thật” ; “ nên chú ý phát huy cốt cách dân tộc” và phải có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
- Tuy nhiên, người nghệ sĩ phải có sự sáng tạo. Người nhắc nhở “ chớ có gò bó họ vào khuôn, làm mất vẻ sáng tạo” …
- Hồ Chí Minh bao giờ cũng xuất phát từ mục đích, đối tượng tiếp nhận để quyết định nội dung và hình thức của tác phẩm. Người luôn tự đặt câu hỏi : “ Viết cho ai ?” , “ Viết để làm gì ?” , sau đó mới quyết định “ Viết cái gì ?” và “ Viết như thế nào ?”. Do vậy, tính hiện thực và khả năng thích ứng văn chương của Người với cuộc sống rất là sao.
- Sự nghiệp văn học của Nguyễn ái Quốc- Hồ Chí Minh có tầm vóc lớn lao, phong phú, đa dạng về thể loại và đặc sắc về phong cách sáng tạo. Người đã sáng tác được nhiều tác phẩm văn chương có giá trị. Trong đó có những áng văn chính luận gìau sức sống thực tế, sắc sảo về chình kiến và ý tưởng những truyện ngắn độc đáo và hiện đại, hàng trăm bài thơ giàu tình người, tình đời, chứa chan thi vị được viết ra bằng những tài năng và tâm huyết. Do điều kiện hoạt động cách mạng nhiều năm ở nước ngoài nên các tác phẩm của Người được viết bằng tiếng Pháp, tiếng Hán, tiếng Việt…
2 . Di sản văn học a) Văn chính luận
- Những tác phẩm văn chính luận của Hồ Chí Minh được viết ra chủ yếu với mục đích đấu tranh chính trị nhằm tiến công trược diệt kẻ thù hoặc thể hiện những nhiệm vụ cách mạng qua những chặng đường lịch sử.
- Từ những năm 20 của thể kỉ, các bài văn chính luận với bút danh Nguyễn Ái Quốc đăng trên các tờ báo: Người cùng khổ , Nhân đạo, Đời sống thợ thuyền đã tác động và ảnh hưởng lớn đến công chung Pháp và nhân dân nhiều nước thuộc địa. Nổi bật là Bản án chế độ thực dân Pháp, áng văn chính lụân sắc sảo nói lên một cách thống thiết nỗi đau khổ của người dân bản xứ và tố cáo trực diện chế độ thực dân Pháp, thức tỉnh, kêu gọi những người nô lệ đứng lên chống áp bức, bóc lột…
- Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện chính trị có giá trị lịch sử lớn lao, phản ánh khát vọng độc lập, tự do và cuộc đấu trang kiên cường, bền bỉ của nhân dân đã giành được thắng lợi, tuyên bố hùng hồn quyền độc lập của dân tộc Việt Nam trước nhân dân trong nước và thế giới. Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm chính luận có giá trị pháp lí, giá trị lịch sử, nhân bản và nghệ thuật cao.
- Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946), Không có gì quí hơn độc lập tự do (1966) là những áng văn chính luận hào hùng, tha thiết làm rung động hàng triệu trái tim yêu nước. Những tác phẩm ấy nói lên những vấn đề thời sự cấp bách của dân tộc, thể hiện sâu sắc tiếng gọi của non sông đất nước trong những giờ phút thử thách đặc biệt. Trong những năm tháng cuối đời, Người viết bản Di chúc thiêng liêng mà chan chứa tình cảm. Bản di chúc là lời căn dặn thiết tha, chân tình với đồng bào, đồng chí, vừa mang tính chiến lược trong hướng phát triển, vừa thấm đượm tình yêu thương con người.
b) Truyện và kí
- Khoảng từ năm 1922 đến 1925, Nguyễn Ái Quốc đã viết một số truyện ngắn và kí bằng tiếng Pháp rất đặc sắc sắng tạo và hiện đại. Tiêu biểu là các truyện ngắn: Pari (1922), Lời than vãn của bà Trưng Trắc (1922), Con người biết mùi hun khói (1922), Vi hành (1923), Những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu (1925), Con rùa (1925) Truyện ngắn của Hồ Chí Minh cô đọng, cốt truyện sáng tạo, kết cấu độc đáo. Mối truyện đều có tư tưởng riêng hấp dẫn, sáng tỏ ý tưởng thâm thuý, kín đáo, chất trí tuệ toả sáng trong hình tượng và phong cách.
c) Thơ ca Thơ ca là lĩnh vực nổi bật nhất trong giai đoạn sáng tác văn chương của Hồ Chí Minh. Với trên dưới 250 bài thơ có giá trị được tuyển chọn và in trong các tập Nhật ký trong tù (133 bài), Thơ Hồ Chí Minh (86 bài), Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh (36 bài). Hồ Chí Minh đã có những đóng góp quan trọng trong nền thơ hiện đại.
- Nhật kí trong tù là tập thơ tiêu biểu nhất trong di sản thơ ca của Hồ Chí Minh. Tập thơ Nhật kí trong tù trước hết là cuốn nhật kí bằng thơ phản ánh tâm hồn và nhân cách cao đẹp của người chiến sĩ cách mạng trong hoàn cảnh nặng nề và khắc nghiệt nhất. Tập thơ chan chứa tình cảm nhân đạo, luôn hướng về những người lao động. Nhiều bài thơ biéu hiện lòng yêu nước thiết tha của người chiến sĩ cộng sản, chứa đựng nhữung bài học về nhân sinh, đạo lí, thể hiện ý chí, nghi lực vượt khó khăn gian khổ để vươn tới tự do. Đồng thời, Nhật lí trong tù là một tác phẩm giàu giá trị nghệ thuật, Nhiều tứ thơ được thể hiện rất sáng tạo, nhiều hình ảnh gợi cảm, thể thơ tứ tuyệt của nhiều bài thơ được sử dụng thành thực… Tạo nên vẻ đẹp hàm xũc, ling hoạt, tài hoa, vừa cổ điển vừa hiện đại trong tập thơ.
- Ngoài ra, Hồ Chi Minh còn viết nhiều bài thơ trữ tình độc đáo, và nhữung bài thơ mộc mạc, giản di đẻ tuyen truyền đường lối cách mạng (Pác Bó hùng vĩ, Tức cảnh Pác Bó…) Đặc biệt, trong thời kì chống thực dân Pháp, Người đã bộc lộ những lo láng về vận mệnh non sông và tình cảm tha thiết gắn bó với cảnh sắc thiên nhiên đất nước (Cảnh khuya, Đi thuyền trên sông Đáy, Cảnh rừng Việt Bắc…) Người ca ngợi sức mạnh của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến và niềm vui thắng lợi (Rằm tháng Giêng, Tin thắng trận…).
- Những tác phẩm của Hồ Chí Minh có phong cách đa dạng và thống nhất, kết hợp sâu sắc mà nhuần nhị mối quan hệ giữa chính trị và văn chương, giữa tư tưởng và nghệ thụât, giữa truyền thống và hịên đại. Dù sáng tác bằng thể loại nào thì tác phẩm của Người đều có phong cách riêng, độc đáo, hấp dận, có giá trị bền vững.
+Trong Truyện và kí, ngòi bút Hồ Chí Minh rất chủ động và sáng tạo, khi tì lối kể chân thực tạo không khí gần gũi, có khi là giọng điệu châm biếm sắc sảom thâm thuý, tinh tế. Chất trí tuệ và tính hịên đại là những nét đặc sắc trong truyện ngắn của Nguyễn ái Quốc.
+ Văn chính luận của Hồ Chi Minh bộc lộ tư duy sắc sảo, giàu trí thức văn hoá, gắn lí luận với thực tiễn, giàu tính luận chiến, vận dụng có hiệu quả nhiều phương thức biếu hiện.
+ Thơ ca Hồ Chí Minh cũng có phong cách đa dạng: Nhiều bài cổ thi hàm xúc, uyên thâm, đạt chuẩn mực cao về nghệ thuật, những bài thơ hiện đại được Người vận dụng nhiều thể loại phục vụ có hiệu quả cho nhiệm vụ cách mạng.
|
|
|
|
giải đáp
|
Nhà thơ Thanh Thảo: Làm thơ phải cực kỳ đơn giản
|
|
|
|
Thơ hiện đại hình như vẫn chưa muốn ló mặt ra thành một chân dung định hình mà chỉ thách đố người làm thơ tìm ra tiếng nói thật của nó. Những năm qua, có một Thanh Thảo bình lặng không cho ra một tập thơ nào nhưng vẫn còn khả năng vận hành mình mới trở lại từ sự trung thực với chính mình. "Thực ra nhà thơ cách tân không phải lúc nào cũng chăm chăm làm cho mình quái lạ đi. Làm thơ phải cực kỳ đơn giản, làm mà như không ấy..", nhà thơ trò chuyện. + Khi "cúi nhìn thật chậm" vào bản thân mình, anh nhìn thấy gì từ gương mặt thơ Thanh Thảo ngày hôm qua? - Tôi có một cái may là không phải phân thân, không phải làm thơ tuyên ngôn. Thành ra những bài thơ cũ vẫn đọc được. Như là bài Thử nói về hạnh phúc hay bài Một người lính nói về thế hệ mình. Lớp trẻ có một kênh đồng cảm thì có thể hiểu. Bởi vì bài thứ nhất tôi viết về số phận con người trong chiến tranh, bài thứ hai viết về sự tự ý thức của một thế hệ trẻ. Trong hoàn cảnh chiến tranh, bản thân ý thức đã phải chịu một sự va đập lớn, phải chống chọi, phải vật lộn, nói chung có thể phải chấp nhận bị "đánh đập" để tự khẳng định. Bây giờ dễ hơn, lớp trẻ khi đã tự ý thức được thì có thể viết bằng tâm huyết của mình. Đã có một Thanh Thảo khác trong Khúc chậm 2000, Ngẫu cảm, Đường sẽ dài hơn. Ở đó, anh tự "khoanh vùng mình" và gần như hoà tan vào cuộc sống xung quanh. Anh cũng đã biết điều mình muốn khám phá đến cùng: Bây giờ tôi biết những thế giới khác cũng thế thôi như con chim tập yêu chiếc lồng của mình nhưng không cần tập hót. Chấp nhận, nhưng không thoả hiệp: "Suốt đời anh một ngọn lửa/anh cố giữ dù ở dạng tro than". Và một Thanh Thảo luôn cầu toàn:"Tôi hối hả quét dọn con người mình/kịp xe rác/quét tất/sạch bong/lúc ấy/chữ hiện dần như sao mọc". + Có cảm giác anh bắt kịp một chân sang thơ hiện đại, điều rất khó đối với một thế hệ thơ thời chiến? - Có thời điểm tôi quay lại thơ Nga với những nhà thơ mình rất thích như Blốc, Exênhin, Pasternak, có khi mình lang thang ở chân trời hiện đại rồi lại trở về với những gì êm đềm. Thực ra nhà thơ cách tân không phải lúc nào cũng chăm chăm làm cho mình quái lạ đi. Làm thơ phải cực kỳ đơn giản, làm mà như không ấy. Có lúc phức tạp, nhưng không nên phức tạp mọi lúc. Vì thơ là những trạng thái khác nhau. Thơ của anh phải là người đang sống trong hiện tại, không có ranh giới cách tân hay cổ điển. Cách tân vô giới hạn không đem lại thành công. Đã có những người mở đường, hy sinh, nhưng văn học vốn tàn nhẫn chỉ tính những gì còn lại. + Nhiều người cho rằng thơ VN những năm gần đây như bị "bại liệt". Anh nghĩ sao? - Nói thơ bị bại liệt, giả dối là bởi chính do người làm thơ không thành thật, thứ hai do tài kém, thứ ba do sợ hãi. Nếu gạt bỏ được ba cái đó thì thơ vẫn là thơ thôi, nhưng đúng là thơ VN còn thiếu nội lực. Trong nội lực thơ có cả bản năng thơ, trí tuệ thơ, nhận thức thơ. Bản năng gốc của thơ chính là sức mạnh nhà thơ có mà không nhận biết được. Một phần do tiên thiên (trời cho), một phần rất lớn là do tích lũy năng lượng từ văn hoá, đời sống, sách vở. Đúng ra thì thơ xưa người ta tự đặt ra nhiều barie hơn, vì người ta nghĩ thơ phải là cái khuôn chảy ra theo hệ thống như hệ thống thuỷ lợi bêtông hoá bây giờ. Còn thơ hiện đại thì người ta để chảy tràn ra. Nhưng không phải vì thế mà thơ chảy trong "đường ống bêtông" thì không phải là thơ. Nó vẫn là thơ đấy chứ, nhiều khi còn chảy xiết hơn, mãnh liệt hơn là thơ ngoài đường ống. Nhưng dù vật lộn đến đâu thì thơ ra phải tự nhiên. Thơ xuất kỳ bất ý. Cái ý có nằm ở đâu thì cũng trong sâu thẳm tâm hồn, tiềm thức của người làm thơ, còn khi thơ đã gọi ra rồi thì bất ý. + Vậy theo anh, nhà thơ thời nay đang vấp phải rào chắn nào? - Thơ VN hiện đại chưa hiện đại lắm, chưa sướng lắm. Có cảm giác bản thân từng nhà thơ VN vẫn bị níu kéo bởi nghệ thuật truyền thống, những rào chắn cũ. Để vượt qua không thể ngày một ngày hai; hoặc phải dung hòa nó, hoặc tìm ra một con đường để có thể đối lập hoàn toàn. Nhưng đạt đến bao nhiêu tùy vào từng nhà thơ. Vì vấn đề là anh tìm tòi trên xác chữ nhưng nội lực, bản năng thơ của anh như thế nào, tâm hồn thơ của anh tới đâu - đó mới là sự đo lường cuối cùng của bài thơ. Có cảm giác nhiều nhà thơ bây giờ trong khi làm thơ vẫn nghĩ mình là thế này thế nọ, thì chỉ làm hỏng thơ. Mà thực ra khi làm thơ chỉ còn sướng với thơ thôi chứ không còn nhớ bất cứ cái gì khác. + Anh nhìn thấy gì ở tương lai thơ? - Nước mình nhiều người làm thơ thế chẳng lẽ không có ai? Trong số đông làm thơ cũng sẽ có nhà thơ thực sự, cho dù là rất ít. Và hy vọng vào số rất ít nhà thơ đó có thể mang lại gì cho nền thơ VN hiện đại. Thơ khó trên toàn thế giới chứ không phải chỉ khó ở VN. Hiện tượng như nhà thơ Mỹ Allen Ginsberg cũng rất hiếm. Dù sao các nhà thơ lớn ngay trong những bài thơ nhỏ cũng đã tạo ra được dáng dấp của một bài thơ lớn. Và tính cách của họ quá mạnh. Thơ phải là số phận của chính anh, nhà thơ mà không có số phận riêng của mình trong thơ thì sẽ lu mờ. + Người ta nói, văn chương còn có thể mang ra bình luận, giao lưu quốc tế; còn thơ thì hầu như đành bó tay vì bản chất của thơ là sự tinh xảo của ngôn từ và hồn vía ở câu chữ mà người dịch không tải nổi? - Theo tôi, chuyện giao lưu thơ quốc tế vẫn có thể được. Thơ lục bát thì khó dịch, nhưng thể thơ tự do thì dễ hơn. Thơ không thể ào ào như nhạc, nó kéo người nghe lại từ từ và dẫu có kén người đi chăng nữa thì còn một ít người đồng cảm đã là tốt rồi! Theo LĐ
|
|
|
|
giải đáp
|
Nhà thơ Thanh Thảo
|
|
|
|
Thanh Thảo, tên khai sinh là Hồ Thành Công, sinh năm 1946, quê ở huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Tốt nghiệp khoa ngữ văn, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Thanh Thảo vào công tác ở chiến trường miền Nam. Từ mấy thập niên trước, Thanh Thảo đã được công chúng chú ý qua những tập thơ và trường ca mang diện mạo độc đáo viết về chiến tranh và thời hậu chiến: Những người đi tới biển (1977), Dấu chân qua trảng cỏ (1978), Những ngọn sóng mặt trời (1981), Khối vuông ru-bích (1985), Từ một đến một trăm (1988)...
Hiện ông là Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Quảng Ngãi, phó chủ tịch Hội đồng thơ Hội nhà văn Việt Nam. Thanh Thảo đã nhận giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1979, giải thưởng Ban Văn học Quốc phòng An nình, Hội Nhà văn Việt Nam năm 1995, giải thưởng Nhà nước (đợt 1) về văn học nghệ thuật năm 2001.
Những năm gần đây, Thanh Thảo vẫn tiếp tục làm thơ đồng thời viết báo, tiểu luận phê bình và nhiều thể loại khác, nhưng đóng góp quan trọng và đặc sắc nhất của ông vẫn là thơ ca.
Thơ Thanh Thảo là tiếng nói của người tri thức nhiều suy tư, trăn trở về các vấn đề xã hội và thời đại.
|
|
|
|
giải đáp
|
Nhà văn Kim Lân
|
|
|
|
Ông quê ở làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn (nay là làng Phù Lưu, phường Đông Ngàn, thị xã Từ Sơn), tỉnh Bắc Ninh, 2008 thuộc vùng Hà Nội. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông chỉ được học hết bậc tiểu học rồi phải đi làm. Kim Lân bắt đầu viết truyện ngắn từ năm 1941. Tác phẩm của ông được đăng trên các báo Tiểu thuyết thứ bảy và Trung Bắc chủ nhật. Một số truyện (Vợ nhặt, Đứa con người vợ lẽ, Đứa con người cô đầu, Cô Vịa,...) mang tính chất tự truyện nhưng đã thể hiện được không khí tiêu điều, ảm đạm của nông thôn Việt Nam và cuộc sống lam lũ, vất vả của người nông dân thời kỳ đó.
Ông được dư luận chú ý nhiều hơn khi đi vào những đề tài độc đáo như tái hiện sinh hoạt văn hóa phong phú ở thôn quê (đánh vật, chọi gà, thả chim...). Các truyện: Đôi chim thành, Con mã mái, Chó săn... kể lại một cách sinh động những thú chơi kể trên, qua đó biểu hiện một phần vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám - những người sống cực nhọc, khổ nghèo nhưng vẫn yêu đời, trong sáng, tài hoa.
Sau Cách Mạng tháng Tám, Kim Lân tiếp tục làm báo, viết văn. Ông vẫn chuyên về truyện ngắn và vẫn viết về làng quê Việt Nam - mảng hiện thực mà từ lâu ông đã hiểu biết sâu sắc. Những tác phẩm chính: Nên vợ nên chồng (tập truyện ngắn, 1955), Con chó xấu xí (tập truyện ngắn, 1962).
Sinh thời ông sống tại Hà Nội. Nǎm 2001, Kim Lân được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Ông từ trần năm 2007 tại Bệnh viện Hữu Nghị Hà Nội, sau một thời gian dài chống chọi với căn bệnh hen suyễn, hưởng thọ 87 tuổi. Sự nghiệp văn học
Trong cả hai giai đoạn sáng tác, tuy viết không nhiều nhưng giai đoạn nào Kim Lân cũng có những tác phẩm hay. Là một cây bút truyện ngắn vững vàng, ông đã viết về cuộc sống và con người ở nông thôn bằng tình cảm, tâm hồn của một người vốn là con đẻ của đồng ruộng.
Truyện ngắn Vợ nhặt và Làng của Kim Lân đã được đưa vào trong sách giáo khoa ở Việt Nam. Năm 2005, truyện Vợ nhặt được đưa vào đề thi môn văn kỳ thi của Đại học Kinh tế Huế và Nguyễn Thị Thu Trang đã đạt điểm 10, gây xôn xao dư luận một thời. Truyện Làng được viết về nông thôn Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp và một gia đình người tản cư thời đó.
Về tác phẩm Vợ nhặt, Kim Lân viết:
"Khi viết về nạn đói người ta thường viết về sự khốn cùng và bi thảm. Khi viết về con người năm đói người ta hay nghĩ đến những con người chỉ nghĩ đến cái chết. Tôi muốn viết một truyện ngắn với ý khác. Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin tưởng ở tương lai. Họ vẫn muốn sống, sống cho ra con người."
Ông là cha của họa sĩ Thành Chương, nữ họa sĩ Nguyễn Thị Hiền. Sự nghiệp diễn xuất
Ngoài sáng tác văn học, Kim Lân còn tham gia đóng phim và kịch.
Lão Hạc trong phim Làng Vũ Đại ngày ấy Lý Cựu trong phim Chị Dậu Lão Pẩu trong phim Con Vá Cả Khiết trong vở Cái tủ chè của Vũ Trọng Can Cụ lang Tâm trong phim Hà Nội 12 ngày đêm
Một số tác phẩm tiêu biểu
Truyện ngắn
Đứa con người vợ lẽ Nên vợ nên chồng (trong tập truyện ngắn 1955) Làng (1948) Vợ nhặt (in trong tập truyện ngắn Con chó xấu xí năm 1962)
|
|
|
|
giải đáp
|
Rừng xà nu
|
|
|
|
Ơ nhân vật Tnu nhà văn còn gửi gắm bao ý tưởng sâu xa ở hình tượng đôi bàn tay. Đây là một chi tiết nghệ thuật đắt giá được tác giả chú ý tô đạm. Không phải ngẫu nhiên mà nhà văn lại khắc họa cuộc đời, tính cách số phận Tnu thông qua hình tượng đôi bàn tay.
- Bởi đôi bàn tay có một ý nghĩa quan trọn đối với con người. Dân gian đã từng khẳng định: “Giàu hai con mắt, khó hai bàn tay”. Còn nhà thơ Hoàng Trung Thông thì nói: “bàn tay ta làm nên tất cả”.
- Nhìn vào bàn tay của một con người ta đoán được số mệnh của người đấy. Tính cách, lai lịch, miền quê của con người. Có bàn tay chai sần, gân guốc của người cầm cuố, cầm cày lam lúc quanh năm.. Có bàn tay thon thả dáng người - bàn tay cả người nghệ sĩ gẫy đàn nặn tượng; có bàn tay bụ bẫm, năm ngón tay xòe nhưng nắm cánh hoa, đó là bàn tay của trẻ thê...Nói đến đôi bàn tay gợi cho ta nhớ đến đôi bàn tay người đàn ba thời chiến quốc dã man. Thái tử Yên Đan đã chặt đứt đôi bàn tay của người tài nữ gãy đàn để dâng lên Kinh Kha. Đáp lại cái ân tình giúp mình tranh bá đế vương. Yên Đan đã cho đi cái không thể cho được. Nguyễn trung Thành đã xây dựng đôi bàn tay của Tnu với ý nghĩa sâu xa.
* Ý nghĩa đôi bàn tay Tnu
- Khi lành lặn:
+ Bàn tay của con người cá tính, trung thành với cách mạng
+ bàn tay yêu thương
- Khi thương tích:
+ Tố cáo tội ác
+ Chứng tích tội ác: quả báo - chiến thắng
Khắc họa hình tượng nhân vật Tnu, nhầ văn đặc biệt chú ý đến hình tượng dôi bàn tay khi còn lành lặn. Đó là đôi bàn tay cảu con người có tính ngoan cường, trung thực. Ấy là lí do Tnu cầm đá đạp vào đầu để học chữ Bác Hồ. Đó là bàn tay của người tuyệt đối trung thành với cách mạng, ấy là lúc Tnu ấp tay vào bụng trả lời lũ giặc “ở đây này”. Bàn tay cả tnu là bàn tay của con người giàu lòng yêu thương, đó là Tnu dắt Mai lên lẫy trồng kìa, là lúc vượt ngục KonTum trở về nắm lấy tay Mai đầy yêu thương, hi vọng, là khi xô ngã tên giặc để che chở cho mẹ con Mai.
* Bàn tay ấy khi rực cháy thành 10 ngon đuốc, lại là biểu tượng của tội ác quân thù và lòng căm thù tột độ. Ki mỗi ngón cụt một đốt thì nó trở thành chứng tích tội ác của quân thù. Nhưng bàn tay ấy không hề cam phận mà đã trở thành bàn tay quả báo khi siết chặt cổ tên giặc và cho nói cho nó biết một điều tất yếu: “ này Dục, tao có súng đây, tao có dao găm đây, nhưng tao không giết mày bằng súng, không đâm mày bằng dao. Tao giết mày bằng mười đầu ngón tay cụt này thôi”. Với Tnus, thằng giặc này cũng là thằng Dục. Thằng Dục kinh hoàng nhận lời phán xét, còn Tnu đã thực hiện được cái điều trở thành chân lí sâu xa. Kẻ gieo gió ắt gặp bão. Tội ác của kẻ thù gây ra cho con người lớn lao bao nhiêu thì hâu quả chung sphair gánh chịu nặng nề bấy nhiêu. Kẻ thù thiêu đốt đôi bàn tay của Tnu thì bây giờ kẻ thù lại biij giết bởi chính đôi bàn tay cụt đó. Điều đó cho ta thấy một chân lí một quy luật: Kẻ thù đánh ngã ta ở chỗ nào, ta đứng lên ở chỗ đó. Và bàn tay của Tnu đã trở thành bàn tay chiến thắng. Một lần nữa hình tượng đôi bàn tay đã trở thành quy luật. “Chúng nó cầm súng mình phải cầm giáo”> Khi chúng nó cầm súng và Tnu đã biết cầm vũ khí chiến đấ u thì ngay bàn tay cụt cũng phát huy sức mạnh diệt thù.
|
|
|
|
giải đáp
|
Từ ấy - tố Hữu
|
|
|
|
TỪ
ẤY
Mở bài: (Tham
khảo)
Tố Hữu được ví như “cánh chim
đầu đàn” của nền thơ ca cách mạng Việt Nam. Thơ ông có sức sống lâu
bền trong lòng bạn đọc nhờ chất men say của lí tưởng cộng sản, của
tình yêu thương chân thành đối với con người và niềm tin bất diệt vào
tương lai. Bài “Từ ấy” đã ghi lại những giây phút say mê cuả nhà thơ
khi bắt gặp ánh sáng của Đảng soi đường. Đó không chỉ là cảm xúc
vui sướng, phấn khởi và còn là những chuyển biến lớn trong tình
cảm, nhận thức, sự thay đổi lẽ sống của một tâm hồn trẻ tuổi đang
tìm hướng đi cho cuộc đời.
*Khổ 1: Niềm vui
sướng, niềm hạnh phúc tột đỉnh và niềm say mê của tác giả khi bắt
gặp lí tưởng cách mạng.
- Tác giả khẳng định lí tưởng
cộng sản như một nguồn sáng mới làm bừng tỉnh, bừng sáng tâm hồn
và trí tuệ nhà thơ (chú ý phân tích hình ảnh “bừng nắng hạ”: ánh sáng của ngày hè, rất nồng nàng,
rạng rỡ. Từ “bừng” chỉ ánh
sáng phát ra đột ngột).
- Hình ảnh “mặt trời chân lí chói qua tim” là một hình ảnh độc đáo,
bất ngờ, táo bạo, giàu ý nghĩa thẩm mĩ mà rất chính xác, gợi
cảm. Mặt trời là nguồn sáng rực rỡ, chói chang và duy nhất đưa lại
nguồn sống cho muôn loài. Hình ảnh “mặt
trời chân lí” đi liền với nhóm từ “chói qua tim” đã diễn tả được niềm vui rất đỗi thiêng
liêng, có cái gì đó gần như “choáng
váng” (Hoài Thanh) và có sức xuyên thấu kì diệu, mạnh mẽ của lý
tưởng cộng sản đối tình cảm, nhận thức của người chiến sĩ.
-
Hai câu sau: với bút pháp trữ tình, lãng mạn cùng với hình ảnh so
sánh có tính chất khẳng định (Tố Hữu dùng từ “là” chứ không dùng từ “như”,
tác giả đã bày tỏ được niềm hạnh phúc vô biên, sức sống kì diệu
cua tâm hồn mình trong buổi đầu đến với lí tưởng của Đảng. Người
đọc có thể hình dung ra tâm hồn nhà thơ trước khi bắt gặp ánh sáng
lí tưởng cách mạng giống như một khu vường mùa đông, hiu quạnh, cành
khô, úa lá còn giờ đây khu vườn ấy được tưới tắm dưới ánh sáng của
lí tưởng cách mạng bổng trở nên xanh tươi, tràn ngập ánh nắng của
mặt trời hồng, rộn rã tiếng chim ca và ngào ngạt hương sắc. Vẻ đẹp
của khu vường ấy đối với nhà thơ Tố Hữu còn là vẻ đẹp và sức
sống mới của một hồn thơ.
* Khổ 2: Biểu hiện những nhận
thức mới và lẽ sống mới
- Giác ngộ lý tưởng cộng sản,
giác ngộ về nhận thức và lẽ sống đối với người chiến sĩ cộng sản
được thể hiện trước hết ở việc thay đổi chỗ đứng. Nếu như trước đó, tâm trạng của nhà thơ
là: “Bâng khuâng đứng giữa hai dòng
nước/Chọn một dòng hay để nước trôi” thì bây giờ nà thơ chủ
động, tự giác hòa “cái tôi” với
“cái ta” chung của mọi người”, tự nguyện đứng trong hàng ngũ những
người lao khổ.
- Từ “buộc” thể hiện ý thức tự nguyện sâu sắc và quyêt tâm cao
độ của Tố Hữu nguyện gắn bó mật thiết, sống chan hòa với “mọi người” với “trăm nơi” với quần chúng lao động khắp mọi miền đất nước,
đặc biệt là những người cùng khổ. Cụm từ “để tình trang trải” thê
hiện tâm hồn nhà thơ như muốn trải rộng với cuộc đời rộng lớn, tạo
ra khả năng đồng cảm sâu xa với mọi cảnh ngộ của cuộc đời cần lao.
- Hai câu sau: “Để hồn tôi..../Gần gũi...đời” khẳng định tình cảm hữu
ái giai cấp của Tố Hữu. Tâm hồn nhà thơ từ đây sẽ nghiêng về phía “bao hồn khổ” để cảm thông, chia sẻ,
để cá nhân hòa vào tập thể, tạo nên một sức mạnh quần chúng đông
đảo, vĩ đại.
* Khổ 3: Tiếp tục thể hiện
sự chuyển biến trong nhận thức và sự thay đổi lẽ sống
- Tố Hữu khẳng định sự chuyển
biến tình cảm của mình. Tác giả tự nhận mình là một thành viên
thân thiết ruột thịt trong đại gia đình quần chúng bị áp bức, đau
khổ trong xã hội. Các điệp từ “là”
cùng với các từ “con”, “em”, “anh” đã khẳng định điều đó.
- Số từ ước lệ “vạn” chỉ số lượng hết sức đông
đảo. Chính những người “anh”
phải sống “kiếp phôi pha”, những
người “em” .. “cù bất cù bơ” ấy mà Tố Hữu đã dũng cảm, say mê dấn thân
trên con đường cách mạng dù biết răng: “Dấn
thân vô là phải chịu tù đày/Là gươm kề tận cổ súng kề vai/Là thân
sống chỉ coi còn một nửa”. Và cũng từ đây thơ Tố Hữu luôn là
tiếng nói cảm thông đối với những “em
bé mồ côi”, “lão đầy tớ”, “cô gái giang hồ”.. những con người
bần cùng trong xã hội.
Kết luận:
Có thể coi “Từ ấy” là
một tuyên ngôn nghệ thuật và mang đậm phong cách thơ Tố Hữu. Nó xứng
đáng là một tiếng hát lạc quan, yêu đời, đắm say lí tưởng của người
chiến sĩ trẻ tuổi. Tiếng hát đó cất lên cách đây gần một thế kỉ
vậy mà vẫn cứ đắm say lòng người.
|
|
|
|
giải đáp
|
ĐỀ THI THỬ SỐ 2
|
|
|
|
Bài này em làm rất tốt. Tuy nhiên thầy xin góp ý vài điểm nhỏ: Thứ nhất: Câu 1 em đã bàn đến ý nghĩa của từ nhặt, nhưng chưa nhấn mạnh lắm. Phải làm thật rõ, thật cụ thể ý nghĩa của từ này đó là nó thường gắn với những vật tầm thường, nhỏ vé, vụn vặt, những thứ mà người ta đánh rơi, bỏ quên...từ đó gắn với từ vợ - vốn là từ thiêng liêng, ý nghĩa, để thấy sự rẻ rúng của thân phận con người trong nạn đói. Nhan đề này biểu hiện cả giá trị hiện thực lẫn nhân đạo. Thứ 2: Câu 3: Xuân Diệu là ông hoàng của thơ tình, không phải ông hoàng của thơ duyên - khái niệm này thầy nghe hơi lạ. Ngoài ra còn một số lỗi về từ và câu nhưng thầy đoán là em viết vội nên chưa được chau chút. Lưu ý khi thi đại học người ta trừ lỗi chính tả cũng khá nặng. Nhìn chung nếu đi thi em vẫn làm được những bài như thế này thì thầy rất yên tâm. Chúc em thành công!
|
|
|
|
đặt câu hỏi
|
ĐỀ THI THỬ SỐ 3
|
|
|
|
PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm)
Câu 1: (2 điểm)
Anh/ chị hãy trình bày những đặc trưng về nội dung và phong cách nghệ thuật thơ Xuân Diệu
Câu 2: (3 điểm):
“Con ong làm mật yêu hoa
Con cá bơi, yêu nước; con chim ca, yêu trời
Con người muốn sống, con ơi
Phải yêu đồng chí, yêu người anh em.
Một ngôi sao, chẳng sáng đêm
Một thân lúa chín, chẳng nên mùa vàng.
Một người - đâu phải nhân gian?
Sống chăng, một đốm lửa tàn mà thôi!”
(Tố Hữu - Tiếng ru)
Những câu thơ trên gợi cho anh (chị) suy nghĩ gì về lẽ sống của con người trong xã hội hiện nay ?
PHẦN RIÊNG (5,0 điểm): Thí sinh chỉ được làm một trong 2 câu (câu 3.a hoặc câu 3.b)
Câu 3a: " Thơ Xuân Quỳnh thể hiện một trái tim phụ nữ hồn hậu, chân thành, nhiều lo âu và luôn da diết trong khát vọng hạnh phúc đời thường" ( SGK Ngữ văn 12- Tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội 2011)
Anh/ chị hãy phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh để làm rõ nhận định trên.
Câu 3.b(5,0 điểm): Tác phẩm Chí Phèo là hành trình người nông dân lương thiện bị tha hoá hay quá trình từ tha hoá tìm về cuộc sống lương thiện? Anh/chị hãy trình bày quan điểm của mình về vấn đề này.
|
|
|
|
giải đáp
|
Ai đã đặt tên cho dòng sông?
|
|
|
|
Ai đã đặt tên cho dòng sông? là một bút ký đặc sắc, thể hiện phong cách tài hoa, uyên bác, giàu chất thơ của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Bài ký đã ca ngợi dòng sông Hương như một biểu tượng của Huế.
Trong sách Tuyển chọn & giới thiệu Ngữ văn...có đoạn phân tích, tóm tắt như sau:
Vẻ đẹp dòng sông được phát hiện rất đa dạng. Có lúc trữ tình êm ả, hiền hòa như “một thiếu nữ dịu dàng, duyên dáng”; có lúc phóng khoáng và man dại, rầm rộ và mãnh liệt như một “bản trường ca của rừng già”. Có khi dịu dàng và trí tuệ như “người mẹ phù sa”; có khi biến ảo “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”; hoặc khi thì vui tươi, khi thì như một mặt hồ yên tĩnh v.v...Tất cả được miêu tả bằng một tình cảm thiết tha với Huế, với một vốn văn hóa phong phú và một vốn ngôn từ giàu có và đậm chất thơ của tác giả.
Đọc những trang viết về Huế của Hoàng Phủ Ngọc Tường (trong đó có bài Ai đã đặt tên cho dòng sông?), nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên, đã nhận xét:
Nói rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường yêu Huế và hiểu Huế, thì đó là một lẽ đương nhiên. Tôi muốn đi xa hơn, tìm một căn nguyên thấm kín để cắt nghĩa cho sự thành công mỹ mãn của những trang viết ấy: phải chăng ở đây đã có một sự hòa hợp, tương giao, linh ứng giữa cảnh sắc Huế, lịch sử Huế, văn hóa Huế với một tâm hồn nhà văn dễ rung động, nhạy cảm, tinh tế. Phải là sự tương giao, đến mức hòa quyện chặt chẽ mới sinh ra được những áng văn tài hoa không dễ một lần thứ hai viết được như thế. Ngỡ như không khác được: viết về sông Hương là phải vậy, viết về “văn hóa vườn” ở Huế là phải vậy. Đó là những áng văn, câu chữ được chọn lựa cân nhắc kỹ càng, vì hình ảnh được sáng tạo đẹp đẽ, vì cảm xúc phong phú bất ngờ, mới mẻ...
Và theo Lê Uyển Văn, thì:
Sông Hương của Hoàng Phủ Ngọc Tường không chỉ mang vẻ đẹp trời phú mà còn ánh lên vẻ đẹp của con người, những tài nữ đánh đàn, những người dân Châu Hóa lái thuyền xuôi ngược, những người con anh dũng đã hi sinh, những Nguyễn Du, những Bà huyện Thanh Quan, những Tố Hữu...đã viết thơ trên dòng chảy long lanh in bóng mây trời. Cũng như tình yêu của sông Hương với Huế, tình yêu của Hoàng Phủ Ngọc Tường với sông Hương cũng là quá trình dâng tặng, khám phá và hoàn thiện chính mình...
Trích tác phẩm
Lưu ý: Phần sau đây có thể cho bạn biết trước nội dung của tác phẩm.
Hiển nhiên là sông Hương đã sống những thế kỷ quang vinh với nhiệm vụ lịch sử của nó, từ thuở nó còn là một dòng sông biên thuỳ xa xôi của đất nước các vua Hùng. Trong sách địa dư của Nguyễn Trãi, nó mang tên là Linh Giang, dòng sông viễn châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của tổ quốc Ðại Việt qua những thế kỷ trung đại. Thế kỷ XVIII, nó vẻ vang soi bóng Kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ; nó sống hết lịch sử bi tráng của thế kỷ XIX với máu của những cuộc khởi nghĩa, và từ đấy sông Hương đã đi vào thời đại Cách mạng tháng Tám bằng những chiến công rung chuyển.
Sông Hương là vậy, dòng sông của thời gian ngân vang, của sử viết giữa màu cỏ lá xanh biếc. Khi nghe lời gọi, nó biết cách tự biến đời mình làm một chiến công, để rồi nó trở về với cuộc sống bình thường, làm một người con gái dịu dàng của đất nước. Thỉnh thoảng, tôi vẫn còn gặp trong những ngày nàng đem áo ra phơi, một sắc áo cưới của Huế ngày xưa, rất xưa: màu áo lục điều với loại vải vân thưa màu xanh tràm lồng lên một màu đỏ ở bên trong, tạo thành một màu tím ẩn hiện, thấp thoáng theo bóng người, thuở ấy các cô dâu trẻ vẫn mặc sau tiết sương giáng. Ðấy cũng chính là màu của sương khói trên sông Hương, giống như tấm voan huyền ảo của tự nhiên, sau đó ẩn giấu khuôn mặt thực của dòng sông...
Có một dòng thi ca về sông Hương, và tôi hy vọng đã nhận xét một cách công bằng về nó khi nói rằng dòng sông ấy không bao giờ tự lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ. Mỗi nhà thơ đều có một khám phá riêng về nó: từ xanh biếc thường ngày, nó bỗng thay màu thực bất ngờ, "dòng sông trắng - lá cây xanh" trong cái nhìn tinh tế của Tản Ðà, từ tha thiết mơ màng nó chợt nhiên hùng tráng lên "như kiếm dựng trời xanh" trong khí phách của Cao Bá Quát; từ nỗi quan hoài vạn cổ với bóng chiều bãng lãng trong hồn thơ Bà Huyện Thanh Quan, nó đột khởi thành sức mạnh phục sinh của tâm hồn, trong thơ Tố Hữu. Và ở đây, một lần nữa, sông Hương quả thực là Kiều rất Kiều, trong cái nhìn thắm thiết tình người của tác giả "Từ ấy".
Có một nhà thơ từ Hà Nội đã đến đây, tóc bạc trắng, lặng ngắm dòng sông, ném mẫu thuốc lá xuống chân cầu, hỏi với trời, với đất, một câu thật bâng khuâng: - Ai đã đặt tên cho dòng sông?...
|
|
|
|
giải đáp
|
Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường
|
|
|
|
Tiểu sử sơ lược
Ông sinh ngày 9 tháng 9 năm 1937, tại thành phố Huế, nhưng quê gốc ở làng Bích Khê, xã Triệu Long, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Sau khi học hết bậc trung học ở Huế, ông lần lượt trải qua: - Năm 1960: tốt nghiệp khóa I ban Việt Hán, Đại học Sư phạm Sài Gòn. - Năm 1964, nhận bằng Cử nhân triết Đại học Văn khoa Huế. - Năm 1960-1966: dạy tại trường Quốc Học Huế. - Năm 1966-1975: thoát ly lên chiến khu, tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ bằng hoạt động văn nghệ. - Năm 1978: được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam. Ông từng là Tổng thư ký Hội Văn học nghệ thuật Bình Trị Thiên-Huế, Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Bình Trị Thiên, Tổng biên tập tạp chí Cửa Việt. Năm 2007, ông được trao Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, cùng đợt với vợ là nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ. Hiện nay (2012), nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường và vợ đang cư ngụ tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Giải thưởng
- Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, 1980.
- Tặng thưởng Văn học Ủy ban toàn quốc LH các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, 1999, 2008.
- Giải A giải thưởng Văn học Nghệ thuật Cố đô (1998-2003).
- Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, 2007.
Tác phẩm
Thể loại bút ký:
Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu (1971). Rất nhiều ánh lửa (1979, Giải thưởng Văn học Hội Nhà văn Việt Nam 1980-1981) Ai đã đặt tên cho dòng sông, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế (1984) Bản di chúc của cỏ lau (truyện ký, 1984) Hoa trái quanh tôi (1995) Huế - di tích và con người (1995) Ngọn núi ảo ảnh (2000) Trong mắt tôi (bút ký phê bình, 2001) Rượu hồng đào chưa uống đã say (truyện ký, 2001) Trịnh Công Sơn và cây đàn lya của hoàng tử bé (bút ký văn hóa, 2005) Miền cỏ thơm (2007) Ai đã đặt tên cho dòng sông. Tinh tuyển bút ký hay nhất, Nxb Hội nhà văn, 2010
Thể loại thơ:
Những dấu chân qua thành phố (1976) Người hái phù dung (1992)
Thể loại nhàn đàm:
Nhàn đàm, Nxb Trẻ, 1997 Người ham chơi, Nxb Thuận Hóa, 1998 Miền gái đẹp, Nxb Thuận Hóa, 2001 (Tặng thưởng Văn học Hội Nhà văn Việt Nam 2001)
Tuyển tập:
Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường, 4 tập, Nxb Trẻ, 2002
Nghiệp văn chương
Đánh giá chung về sự nghiệp văn chương của Hoàng Phủ Ngọc Tường, sách Ngữ văn 12 có đoạn viết:
Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong những nhà văn chuyên về bút kí. Nét đặc sắc trong sáng tác của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hóa, lịch sử, địa lí...Tất cả được thể hiện qua lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa.
Trích thêm ý kiến của người trong giới:
Nhà văn Nguyễn Tuân:
Ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường có "rất nhiều ánh lửa"[5].
Nhà văn Nguyên Ngọc:
Trong một cuốn sách gần đây của anh, viết và in ngay giữa những ngày anh đang vật lộn với cơn bệnh nặng-chứng tỏ ở anh một đức tính dũng cảm và một nghị lực phi thường của một người lao động nghệ thuật-anh tự coi mình là "người ham chơi". Quả thật, anh là một người ham sống đến mê mải, sống và đi, đi để được sống, với đất nước, với nhân dân, với con người, đi say mê và say mê viết về họ...
Nhà thơ Hoàng Cát:
Hoàng Phủ Ngọc Tường có một phong cách viết bút ký văn học của riêng mình. Thế mạnh của ông là tri thức văn học, triết học, lịch sử, địa lý sâu và rộng, gần như đụng đến vấn đề gì, ở thời điểm nào và ở đâu thì ông vẫn có thể tung hoành thoải mái ngòi bút được...
Nhà thơ Ngô Minh:
Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong số rất ít nhà văn viết bút ký nổi tiếng ở nước ta vài chục năm nay. Bút ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường hấp dẫn người đọc ở tấm lòng nhân văn sâu sắc, trí tuệ uyên bác và chất Huế thơ huyền hoặc, quyến rũ. Đó là những trang viết tài hoa, tài tử, tài tình...Thực ra, bút ký Hoàng Phủ Ngọc Tường chính là những áng thơ văn xuôi cuốn hút người đọc...thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường là vẻ đẹp của nỗi buồn hoài niệm, những day dứt triết học, từ sâu thẳm thời gian, sâu thẳm đất đai vọng lên trong tâm khảm người đọc. Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo cho rằng thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường thấm đẫm "triết học về cái chết...thơ anh buồn mỗi nỗi buồn đứt ruột...Đấy là thơ của cõi âm"... Đó là một nhận xét xác đáng.
Trên Website vnexpress:
Dường như trong suốt cuộc đời mình, Hoàng Phủ Ngọc Tường bị ám ảnh bởi hoa. Điều đó, dù cuộc đời lận đận những ngày tù cộng với những năm tháng bôn ba khắc nghiệt của chiến tranh vẫn không tước đoạt nổi của ông...Ông viết rất nhiều về hoa và đặc biệt, ông bị ám ảnh bởi sắc diện phù dung.
|
|
|
|
giải đáp
|
Rừng Xà nu - mọi người giúp em với ak
|
|
|
|
- Hoàn
cảnh ra đời tác phẩm
-
Hoàn cảnh chung
Mùa
hê 1965, Mĩ đổ quân ồ ạt vào miền Nam, khủng bố đẫm máu những phong
trào yêu nước. Đó là những năm tháng đau thương nhưng quật khởi, anh
hùng. Những năm tháng nghiêm trang,
nghiêm trọng mà hòa hung. NTT cũng như những nhà vă cùng thời, ông
muốn viết “Hịch tướng sĩ” của thời đại chống Mĩ” và ông đã viết
truyện ngắn “Rừng xà Nu”.
-
Hoàn cảnh riêng
Theo
lời tâm sự của nhà văn thì khi chuẩn bị cho số 2 của Tạp chí Văn
nghệ Quân giải phóng miền trung trung bộ, nhà văn dự định viết 1
truyện ngắn chiến đấu ở đồng bằng. Nhưng ý định ban đầu ấy đã không
thành công vì nó làm thức dậy
những cảm xúc đã chiến của ông về thời kì ở Tây Nguyên. Thế
là những cánh rừng Xà Nu bất tận những con người Tây Nguyên anh hùng
ra đời trong hoàn cảnh tình cờ ngẫu nhiên như vậy đấy. Tác phẩm được
đăng lần đầu tiên trong tạp chí văn nghệ quân giải phóng miền trung –
trung bộ số 2 năm 1965. Sau đó được tuyển in trong tập “trên quê hương
những anh hùng điện ngọc”.
-
Tình yêu của tác
giả giành cho Rừng Xà Nu
-
Biểu tượng cho con
người Tây Nguyên
-
Đem lại không khí Tây
Nguyên cho câu chuyện
1.Nhà
văn đạt tên cho tác phẩm của mình là Rừng Xà Nu với ý nghĩa Rừng
xà nu là hình gắn bó mật thiết đã để lại những dấu ấn sâu đạm
trong cuộc đời viết văn của Nguyễn Trung Thành. Nhà văn say mê loài cây
xà nu ấy.
2.Trong
truyện ngắn hình ảnh Rừng xà nu khônng chỉ được chạm khắc thành một
bức tranh phong cảnh có đường nét màu sắc, hương vị đặc trưng của Tây
Nguyên. Mà nó còn làm nền cho câu truyện bi tráng về cuộc đời của T
nú, về con người Tây Nguyên. Vì vậy Rừng xà nu mang ý nghĩa biểu tượng
cho sức sống mảnh liệt, khát vọng tự do, vẻ đẹp tâm hồn và tinh
thần bất diệt của đồng bào Tây Nguyên. Nhan đề của truyện là sự lựa
chọn đặc sắc. Góp phần tạo nên chất sử thi anh hùng lấp lánh cho
tác phẩm RXN
3.
XN là loại cây rất đặc trưng của núi rừng Tây nguyên. Ấy là loại cây
hùng vĩ và cao thượng, man dại và trong sạch vừa thanh nhã vừa rắn
rỏi. Tạo nên một không khí Tây Nguyên, chất Tây Nguyên độc đáo cho
truyện ngắn này.
4.
Đặt cho tác phẩm một cái tên nhiều ý nghĩa như vậy chứng tỏ NTT là
nhà văn giàu tài năng sáng tạo.
|
|
|
|
giải đáp
|
Tác giả Xuân Quỳnh
|
|
|
|
Thân thế
Bà tên thật là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, sinh ngày 6 tháng 10 năm 1942 tại làng La Khê, xã Văn Khê, thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Đông (nay thuộc quận Hà Đông, Hà Nội). Xuất thân trong một gia đình công chức, mẹ mất sớm, bố thường xuyên công tác xa gia đình, bà được bà nội nuôi dạy từ nhỏ đến khi trưởng thành.
Sự nghiệp Tháng 2 năm 1955, Xuân Quỳnh được tuyển vào Đoàn Văn công nhân dân Trung ương và được đào tạo thành diễn viên múa. Bà đã nhiều lần đi biểu diễn ở nước ngoài và dự Đại hội thanh niên sinh viên thế giới năm 1959 tại Viena (Áo).
Từ năm 1962 đến 1964, Xuân Quỳnh học Trường bồi dưỡng những người viết văn trẻ (khoá I) của Hội Nhà văn Việt Nam. Sau khi học xong, làm việc tại báo Văn nghệ, báo Phụ nữ Việt nam. Xuân Quỳnh là hội viên từ năm 1967, ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khoá III. Năm 1973, Xuân Quỳnh kết hôn với nhà viết kịch, nhà thơ Lưu Quang Vũ, trước đó, Xuân Quỳnh kết hôn lần đầu tiên với một nhạc công của Đoàn Văn công nhân dân Trung ương và đã ly hôn. Từ năm 1978 đến lúc mất Xuân Quỳnh làm biên tập viên Nhà xuất bản Tác phẩm mới.
Xuân Quỳnh mất ngày 29 tháng 8 năm 1988 trong một tai nạn giao thông tại đầu cầu Phú Lương, thị xã Hải Dương (nay là thành phố), tỉnh Hải Dương cùng với chồng Lưu Quang Vũ và con trai Lưu Quỳnh Thơ mới 13 tuổi.
Xuân Quỳnh được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2001. Tác phẩm
Các tác phẩm chính:
Tơ tằm - chồi biếc (thơ, in chung, NXB Văn học, 1963) Hoa dọc chiến hào (thơ, in chung, 1968) Gió Lào, cát trắng (thơ, 1974) Lời ru trên mặt đất (thơ, 1978) Sân ga chiều em đi (thơ, 1984) Tự hát (thơ, 1984) Hoa cỏ may (thơ, 1989) Thơ Xuân Quỳnh (1992 , 1994) Thơ tình Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ (1994) Cây trong phố - Chờ trăng (thơ, in chung)
Các tác phẩm viết cho thiếu nhi
Bầu trời trong quả trứng (thơ thiếu nhi, 1982) Truyện Lưu Nguyễn (truyện thơ, 1985) Mùa xuân trên cánh đồng (truyện thiếu nhi - 1981) Bến tàu trong thành phố (truyện thiếu nhi, 1984) Vẫn có ông trăng khác (truyện thiếu nhi, 1986) Tuyển tập truyện thiếu nhi (1995). Chú gấu trong vòng đu quay (tập truyện)
Thành tựu nghệ thuật
Thơ Xuân Quỳnh giàu cảm xúc với những cung bậc khác nhau như chính tính cách luôn hết mình của Xuân Quỳnh. Những bài thơ khi hạnh phúc đắm say, lúc đau khổ, suy tư của nhà thơ luôn gần gũi vì được viết với sự đằm thắm của một người phụ nữ vừa làm thơ vừa làm vợ, làm mẹ. Nhiều bài thơ của Xuân Quỳnh đã trở nên nổi tiếng như Thuyền và biển, Sóng (viết năm 1967, in trong tập Hoa dọc chiến hào năm 1968), Hoa cỏ may, Tự hát, Nói cùng anh... Các bài thơ Sóng, Truyện cổ tích về loài người (Lời ru trên mặt đất, NXB Tác phẩm mới, 1978) được đưa vào sách giáo khoa phổ thông của Việt nam. Nhạc sỹ Phan Huỳnh Điểu đã phổ nhạc rất thành công các bài thơ: Thuyền và biển (4/1963), Thơ tình cuối mùa thu của Xuân Quỳnh.
|
|
|
|
giải đáp
|
Thạch Lam với Hà Nội
|
|
|
|
THẠCH LAM VỚI HÀ NỘI
Phong Lê ... Đi vào thế giới nghệ thuật và các quan niệm văn chương -nghệ thuật của Thạch Lam, chúng ta luôn luôn được thấy, một mặt, nếu giá trị hiện thực, nhân đạo là cái đích người viết cần vươn tới, thì mặt khác, việc khơi gợi, khám phá, đi sâu vào vẻ đẹp, vào lõi hồn và tinh chất dân tộc, vào những giá trị văn hóa, tinh thần tiềm tàng trong sự sống hàng ngày cũng là một phương diện mà văn chương cần quan tâm. Bàn về tục lệ đáng yêu của ngày tết, kể chuyện Hái lộc, Thạch Lam cho thấy đó là một tục lệ xinh đẹp và ngây thơ làm tươi thắm linh hồn và khiến cho chúng ta trẻ lại. Nhưng khi nghĩ về Bánh chưng, Thạch Lam lại không quên động đến một nỗi thương tâm: “Nhưng còn bao nhiêu người nghèo, kiếm gạo ăn cũng chưa đủ? Còn bao nhiêu kẻ khốn khó lang thang trên lề đường của thành phố, mà những tiếng kêu xin thảm đạm nổi lên vào các buổi chiều? Họ ăn tết ở đâu? Về ở đâu? (Ngày nay, số 149; 15-2-1939). Tập ký Hà Nội băm sáu phố phường, cho ta thấy biết bao là chăm chút và trân trọng của Thạch Lam trước cái đẹp được ẩn giấu và lưu giữ ở những sinh hoạt và sản phẩm bình thường của Hà Nội nghìn năm văn vật, khi Thạch Lam bàn về các tên phố xá, biển hàng, các món ăn thanh đạm hoặc đặc sản, các hàng quà rong, các loại quà chỉ Hà Nội mới có, hoặc chỉ của Hà Nội mới quý: từ bún riêu, bún chả, thang cuốn, nem chua, miến lươn, bún ốc, bún sườn, canh bún, mìn páo, giầy giò, bánh đậu, bánh khảo... Không phải chỉ là sự liệt kê, mà còn là cả một sự thụ cảm tinh tế tất cả hương vị riêng, sức hấp dẫn riêng ở mỗi loại quà... Ăn quà cũng là một nghệ thuật, ăn đúng cái giờ ấy, và chọn người bán ấy, mới là người sành ăn... Cái vị bún chả ngon từ cái mùi thơm, từ cái nước chấm ngon đi; cái tiếng rao quà đêm khuya, như một ký hiệu, chỉ những ai quen ăn, sành ăn mới nhận ra; cái hàng nước cô Dần, bà cụ bán xôi, cô hàng bán cơm nắm buổi sáng mà nắm cơm dẻo quánh, cũng dẻo như chiếc đòn gánh trên vai cô... Rồi phở (sao mà bỏ sót được!), mà công khám phá đầu tiên có lẽ là của Thạch Lam, để sau này Nguyễn Tuân tiếp tục - thứ quà thật đặc biệt của Hà Nội, không phải chỉ riêng ở Hà Nội mới có, nhưng chính là vì chỉ ở Hà Nội mới ngon. Đó là thứ quà suốt ngày của tất cả các hạng người, nhất là công chức thợ thuyền. Người ta ăn phở sáng, ăn phở trưa và phở tối... Đúng quá. Ai là người xa Hà Nội mà không nhớ về vị phở; và càng đúng, cách nhận dạng thế nào là phở ngon: “Nếu là gánh phở ngon - cả Hà Nội không có đâu làm nhiều - thì nước dùng trong và ngọt, bánh dẻo và không nát, thịt mỡ gầu ròn chứ không dai, chanh, ớt, với hành tây đủ cả (...) Và anh hàng phở chả phải gánh nặng đi đâu cả, chỉ việc đỗ một chỗ nhất định, cũng đủ bán một ngày hai gánh như chơi. Và người hàng phố tìm dấu hiệu để gọi tên anh cho dễ nhớ: anh phở Trọc, anh phở Bêrê, anh phở Mũ dạ, anh phở Cao. Vẫn chuyện phở, nhưng là một gánh phở khác, trong nhà thương - lại gánh, chứ không phải các cửa hiệu to, sang, trưng ra ở những phố chính, những đại lộ đông người: “Gánh phở của bà thì tuyệt: bát phở đầy đặn và tươm tất, do hai con gái bà làm, trông thực muốn ăn. Nước thì trong mà lúc nào cũng nóng bỏng, khói lên nghi ngút. Rau thơm tươi, hồ tiêu bắc, giọt chanh cốm gắt, lại điểm thêm một chút cà cuống, thoảng nhẹ như một nghi ngờ.... Và cũng biết bao là trân trọng đến như thành kính, thiêng liêng trong những dòng về cốm; với Thạch Lam, nó là thứ quà riêng biệt của đất nước, là thức dâng của những cánh đồng lúa bát ngát xanh, mang trong hương vị tất cả cái mộc mạc, giản dị và thanh khiết của đồng quê nội cỏ Việt Nam. Ai đã nghĩ đầu tiên dùng cốm để làm quà sêu tết? Không còn gì hợp hơn với sự vương vít của tơ hồng, thức quà trong sạch, trung thành như các việc lễ nghi. Hồng cốm tốt đôi!.. Khó mà nản mỏi khi cùng Thạch Lam đi sâu mãi vào những vẻ đẹp ấy. Và do vậy, khó mà vui, mà yên tâm được, khi nhìn lại hôm nay, thấy tiếc, thấy xót cho biết bao vị quyến rũ, vẻ đẹp thanh lịch nghìn năm của Hà Nội đã và đang bị mòn đi, mất đi theo thời gian. Thạch Lam có quan niệm dứt khoát về thiên chức của văn chương: “Đối với tôi, văn chương không phải một cách đem đến cho người đọc sự thoát ly hay sự quên, trái lại, văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người đọc thêm trong sạch và phong phú hơn(1). Có lẽ cả hai phương diện, vừa tố cáo, vừa xây dựng, đều được Thạch Lam chú ý; và trong phần thành công của nó, các dấu ấn hiện thực và lãng mạn trong văn Thạch Lam đều tìm được sự gắn nối ở chính quan niệm này. ở tư cách nhà văn, Thạch Lam đòi hỏi rất cao phẩm chất trung thực của người nghệ sĩ. Ông viết: “Sự thành thực chưa đủ cho nghệ thuật. Có thể, nhưng một nhà văn không thành thực không bao giờ trở nên một nhà văn giá trị. Không phải cứ thành thực là trở nên một nghệ sĩ. Nhưng một nghệ sĩ không thành thực chỉ là một người thợ khéo tay thôi(2). Giữa sự khéo tay, sự tinh thông các kỹ năng, với giá trị văn chương, nghệ thuật đích thực còn là một khoảng cách. Khoảng cách đó, theo Thạch Lam, chỉ có thể rút ngắn hoặc khắc phục bằng sự thành thực. Tôi hiểu đây là sự thành thực với chính bản thân và từ bản thân mà thiết lập một quan hệ tin cậy với thế giới bên ngoài, thế giới người đọc. Hiểu vì sao ta ít thấy cảm giác giả trong văn Thạch Lam. Và cái cảm tưởng của Khái Hưng khi đọc văn Thạch Lam, thấy rùng rợn cả tâm hồn vì sự thành thực là có lý. Đối với Thạch Lam, văn chương là văn chương. Tất cả mọi giá trị mà văn chương có thể mang lại, kể cả giá trị cải tạo thế giới phải được tạo nên chính từ giá trị văn chương. Có lẽ đây là chỗ phân biệt Thạch Lam với ba cây bút chủ chốt của Tự lực văn đoàn: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo. Nói theo ngôn ngữ đương thời, có thể xếp Thạch Lam vào phái nghệ thuật vị nghệ thuật! Một quan niệm được hiểu, trong phần cơ bản của nó, theo cách hiểu của tác giả Thi nhân Việt Nam, năm 1942. Thạch Lam viết: “Người ta sinh ra là nghệ sĩ hay không, chứ không có thể học tập mà thành được (...). Người ta có thể tập nghe cho tinh tường, tập trông cho chu đáo, nhưng không có con mắt của linh hồn (PL nhấn mạnh) thì không bao giờ soi thấu được các bí mật của tâm lý. Các nghệ sĩ là những người không có một cái khoa học nhân tạo nào có thể gây thành được. Họ vẫn là những sản xuất của bao nhiêu thế hệ, theo một cách thức chung đúc huyền bí và không có luật lệ; họ là những cái sinh sản bất ngờ, những cái đột nhiên kỳ dị và ghê gớm của vũ trụ. Nhân vật ra ngoài khuôn khổ thường, các nghệ sĩ chân chính bao giờ cũng rất hiếm. Tìm được đích đáng và tìm được nhiều, đó là danh dự của cả một thời, cả một dân tộc(3). Tôi xin phép được nhắc lại và nhấn mạnh ý cuối: “Các nghệ sĩ chân chính bao giờ cũng rất hiếm. Tìm được đích đáng và tìm được nhiều, đó là danh dự của cả một thời, cả một dân tộc.. Sự sàng học của thời gian quả là khắc nghiệt. Mỗi thế kỷ văn chương còn lại được mấy người? Và trước hoặc sau một Nguyễn Trãi, một Nguyễn Bỉnh Khiêm, một Nguyễn Du, một Hồ Xuân Hương... danh sách còn lại là những ai? Những câu hỏi như vậy có thể là lẩn thẩn và rất dễ bị quy là hư vô, hoặc là duy tâm, thần bí. Nhưng sự thật là thế và ta nhớ lại chính ý kiến của Lênin: Tài năng là hiếm! Người ta sinh ra có là nghệ sĩ hay không? Một loạt tên tuổi đã đến rồi đi như những ánh sao băng, trong sự mỏng manh và nghiệt ngã của số phận, trước sau thời điểm bốn mươi: Vũ Trọng Phụng, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Nguyễn Nhược Pháp, Thạch Lam... Và với tuổi hai mươi đã đạt được tầm cao hoặc đỉnh cao của sự nghiệp: Nguyên Hồng, Nam Cao, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính... Thạch Lam mà Tự lực văn đoàn là mảnh đất ươm, là nơi sinh thành, nhưng Thạch Lam đã xác định các giá trị của riêng mình, đã đứng chính trên đôi chân của mình - một nghệ sĩ, với niềm tha thiết với bản sắc dân tộc và với biết bao ưu tư, suy ngẫm về đất nước và con người. Có lẽ không thể không dành vài lời về đặc sắc của câu văn Thạch Lam. Đó là một lối văn nhuần nhị, tinh tế, gọn và gợi được thật là rành rõ những trạng thái của sinh hoạt, xúc cảm và tâm hồn. Có những ngày mà tự nhiên, không hiểu tại sao, ta thấy khó chịu và hay gắt gỏng, không muốn làm việc gì- và đó là nguyên cớ gây ra một cơn giận, để rồi, từ cơn giận mà diễn biến một quá trình tâm lý đi tới sự sám hối. Tình yêu bước vào hôn nhân với những khó khăn về sinh kế, đối với cặp vợ chồng Trường, Trinh trong Ngày mới: “Cuộc đời bây giờ đối với chàng khe khắt và nhọc quá!. Một mối cảm động êm đềm và phiền phức đến với ông bố - người chồng trẻ khi đứa con đầu lòng ra đời, làm thay đổi khí hậu gia đình: “Nhìn đứa trẻ ngây thơ trong lòng mẹ, Tâm cảm thấy lần đầu tiên cái thiêng liêng sâu xa của sự sống và nhận thấy cái bé nhỏ hèn mọn hàng ngày nó phá hoại cuộc đời. Tình yêu hay một cái gì tương tự trong buổi chia tay giữa chàng trai ra tỉnh và cô bạn láng giềng ở quê: “Có cái gì dịu ngọt chăng tơ ở đâu đây khiến chàng vương phải. Rồi, những rung động đến với con người khẽ như một cánh bướm non... Văn Thạch Lam không nặng vì những chữ dùng to tát, hoặc những cấu trúc gấp gáp, vội vàng. Câu chữ chỉ cần đủ cho phô diễn và ôm sát những cảnh ngộ hoặc tâm trạng cần phô diễn. Có lúc, sự diễn tả vượt ra ngoài câu - chữ, vì sức gợi mở và khả năng khơi sâu vào cảm giác, vừa cho ta nhìn, vừa cho ta cảm; và cái sức biểu cảm này mới thật sự đòi hỏi bản lĩnh nghệ sĩ. Đó là cái cảm giác mát lạnh trùm lên hai vai, khi người bộ hành đi vào rặng tre... Cái gánh hàng trên vai Cô hàng xén xinh đẹp, lúc còn son rỗi, nhẹ hẳn đi khi cô thấy bóng cây đa và cái quán gạch đầu làng, lộ ra trong sương mù. Cũng gánh hàng ấy trở nên quá nặng trên đôi vai nhỏ bé khi cô đi lấy chồng. Cái cảm giác gió mùa đông đột ngột về, không báo trước, một sáng thức dậy, thấy ngại đặt chân xuống giường, với hơi ấm và ánh hồng của bếp lò và mùi áo quần cũ trong Gió đầu mùa gợi thật tài và rành rõ cái cảnh giao mùa của đồng bằng Bắc Bộ... Rồi cái tiếng trống thu không gọi chiều về, một buổi chiều, như bất cứ buổi chiều nào của miền quê, trong Hai đứa trẻ... Nếu Tự lực văn đoàn đã có công đóng góp cho sự phát triển của câu văn tiếng Việt theo hướng hiện đại, từ khởi điểm 1932, sau bước ngoặt từ Nho phong, Người quay tơ đến Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, thì Thạch Lam, theo tôi là người giữ được, bảo tổn được tính hiện đại ấy cho đến hôm nay. Nói giữ được, vì sau cái công mở đầu, văn Tự lực văn đoàn nói chung đi vào hướng sang trọng, xa lạ, kiểu cách và nhanh chóng lạc hậu dần trước sự phát triển của văn xuôi hiện thực. Và cho đến hôm nay thì có thể nói, gần như số lớn thứ văn chương đó đã có thể đi vào bảo tàng. Trong khi đó, câu văn Thạch Lam, ở những truyện tiêu biểu vẫn cứ là mềm mại, uyển chuyển, giàu hình ảnh, nhạc điệu mà không mất đi vẻ giản dị, tinh gọn, không thừa thãi lời chữ, không làm duyên làm dáng một cách uốn éo, cầu kỳ. Nửa thế kỷ đã qua mà đọc truyện Thạch Lam, cảm về câu văn Thạch Lam, tôi thấy cứ như là câu văn của hôm nay; và tôi còn dám chắc, chưa hẳn đã có nhiều người viết hiện nay, với số trang ít ỏi, lại nêu được ngần ấy vẻ đẹp chứa trong cốt truyện ấy, tình cảm ấy, tâm trạng ấy, tâm hồn ấy, câu văn ấy của những Nhà mẹ Lê, Cô hàng xén, Tối ba mươi, Hai chị em, Hai lần chết...
|
|
|
|
giải đáp
|
Nhà văn Thạch Lam
|
|
|
|
Thân thế
Thạch Lam sinh ngày 7 tháng 7 năm 1910 tại Hải Dương, nhưng nguyên quán ở làng Cẩm Phô, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam). Cha ông là Nguyễn Tường Nhu (1881-1918), thông thạo chữ Hán và chữ Pháp, làm Thông phán Tòa sứ nên thường được gọi là Thông Nhu hay Phán Nhu. Mẹ là bà Lê Thị Sâm[2], con gái cả ông Lê Quang Thuật (tục gọi Quản Thuật), người gốc Huế đã ba đời ra Bắc, làm quan võ ở Cẩm Giàng cùng thời với Huyện Giám (ông nội Thạch Lam).
Thạch Lam là người con thứ 6 trong gia đình 7 người con (6 trai, 1 gái): Tường Thụy, Tường Cẩm, Tường Tam, Tường Long, Thị Thế, Tường Vinh và Tường Bách. Trừ người anh cả Nguyễn Tường Thụy làm công chức, những người còn lại đều đã ít nhiều tham gia vào sự nghiệp văn chương, nổi bật trong số đó là Tường Tam (Nhất Linh), Tường Long (Hoàng Đạo) và Tường Vinh (Thạch Lam).
Nguyên tên ban đầu của ông do cha mẹ đặt là Nguyễn Tường Sáu, vì ông là con thứ sáu trong nhà. Khi bắt đầu đi học ở trường huyện Cẩm Giàng (Hải Dương), bố mẹ ông làm lại khai sinh cho con là Nguyễn Tường Vinh. Đến năm Thạch Lam 15 tuổi, thấy mình học chậm, cần tăng thêm tuổi để học "nhảy" 4 năm, ông làm lại khai sinh lần nữa, thành Nguyễn Tường Lân.[3] Tuổi thơ nhọc nhằn
Ông Phán Nhu mất sớm, bà Phán Nhu phải một mình mua bán tảo tần nuôi một mẹ chồng và bảy người con...
Ở Cẩm Giàng, Thạch Lam học tại trường Nam (tiểu học Hải Dương, nay là trường tiểu học Tô Hiệu). Đến khi người anh cả là Nguyễn Tường Thụy ra trường dạy học ở Tân Đệ (Thái Bình), mẹ ông đã đưa cả nhà đi theo người con cả, nên Thạch Lam đến học ở Tân Đệ.
Nhưng ở đây được một năm, làm vẫn không đủ cho các miệng ăn, mẹ ông dẫn các con (trừ Nguyễn Tường Thụy) về Hà Nội ở nhà thuê, rồi cứ thế lúc thì ở Hà Nội, lúc thì ở Cẩm Giàng...
Muốn sớm đỡ đần cho mẹ, Thạch Lam đã nhờ mẹ nói khéo với ông Lý trưởng cho đổi tên và khai tăng tuổi để học ban thành chung. Tiếp theo, ông thi đỗ vào Cao đẳng Canh Nông ở Hà Nội, nhưng chỉ học một thời gian, rồi vào trường Trung học Albert Sarraut để học thi Tú tài.
Bước vào nghiệp văn Khi đã đỗ Tú tài phần thứ nhất, Thạch Lam thôi học để làm báo với hai anh. Buổi đầu, ông gia nhập Tự Lực văn đoàn do anh là Nguyễn Tường Tam sáng lập, rồi được phân công lo việc biên tập tuần báo Phong hóa và tờ Ngày nay của bút nhóm này. Đến tháng 2 năm 1935, thì ông được giao làm Chủ bút tờ Ngày nay.
Khoảng năm 1935, Thạch Lam lấy vợ và được người chị (Nguyễn Thị Thế) nhường lại căn nhà nhỏ tại đầu làng Yên Phụ, ven Hồ Tây (Hà Nội) cho vợ chồng ông ở.
Tuy chỉ là một mái tranh vách đất, thế nhưng “nhà cây liễu”[5] là nơi thường lui tới của các văn nghệ sĩ. Ngoài các thành viên trong Tự Lực văn đoàn, còn có: Thế Lữ, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Nguyễn Xuân Sanh, Nguyễn Tuân, Huyền Kiêu, Nguyễn Xuân Khoát...
Ngôi sao sớm tắt Một tuổi thơ nhọc nhằn cộng với cuộc sống lao lực vì miếng cơm manh áo đã làm Thạch Lam sớm mắc căn bệnh lao phổi, một căn bệnh nan y thời bấy giờ. Ông mất tại “nhà cây liễu” vào ngày 27 tháng 6 năm 1942[6], lúc mới 32 tuổi, khi đang còn trong độ tuổi rực rỡ trên văn đàn.
Thạch Lam có ba người con, hai trai một gái: Nguyễn Tường Nhung (sau này là vợ của trung tướng Ngô Quang Trưởng trong quân đội Việt Nam Cộng hòa trước đây), Nguyễn Tường Đằng, và trước vài ngày khi ông mất, vợ ông sinh thêm con trai mà sau này là nhà văn Nguyễn Tường Giang. Ông ra đi để lại người vợ trẻ cùng với ba đứa con thơ trong cảnh nghèo. Gia đình đã an táng ông nơi nghĩa trang Hợp Thiện, nay thuộc quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội. Theo nhà văn Băng Sơn thì sau khi Thạch Lam mất, vợ và các con ông có về sống ở Cẩm Giàng với bà Phán Nhu một thời gian rồi vào Nam . Tác phẩm
Hầu hết sáng tác của Thạch Lam được đăng báo trước khi in thành sách. Tác phẩm gồm có:
Gió đầu mùa (tập truyện ngắn, Nxb Đời nay, 1937) Nắng trong vườn (tập truyện ngắn, Nxb Đời nay, 1938) Ngày mới (truyện dài, Nxb Đời nay, 1939) Theo giòng (bình luận văn học, Nxb Đời nay, 1941) Sợi tóc (tập truyện ngắn, Nxb Đời nay, 1942) Hà Nội băm sáu phố phường (bút ký, Nxb Đời nay, 1943) Và hai quyển truyện viết cho thiếu nhi:Quyển sách, Hạt ngọc. Cả hai đều do Nxb Đời Nay ấn hành năm 1940.
Đôi nét về nhân cách
Nhà văn Thế Uyên (con trai bà Nguyễn Thị Thế, cháu gọi Thạch Lam là cậu), trong bài Tìm kiếm Thạch Lam, có đoạn:
Mẹ tôi bảo chú Thạch Lam mơ mộng, tế nhị, đa cảm, thì thủa nhỏ đã thế... Và chính ở đây (trại Cẩm Giàng) những người đàn ông ngồi uống trà, hút thuốc, nói chuyện tâm đắc... Có khi bàn chuyện văn chương, báo chí, có thể là chuyện cải cách dân tộc. Thường trong lúc ấy, Thạch Lam ngồi trong đám bạn văn thơ, bởi tính cách Thạch Lam chỉ có thế...
Nhà văn Vũ Bằng kể lại:
Thạch Lam yêu sự sống hơn bất kỳ ai. Anh quý từ cốc nước chè tươi nóng, trang trọng đưa lên miệng uống một cách gần như thành kính... như thể cảm ơn trời đất đã cho mình sống để thưởng thức ngon lành như vậy. Anh cẩn thận từng câu nói với cô bán hàng vì sợ lỡ lời...khiến người ta tủi thân mà buồn. Thạch Lam đi đứng nhẹ nhàng… Anh là một người độc đáo có tài lại khiêm nhường, người nhỏ mà nhân cách lớn... Có lần Thạch Lam nói: Xét cho cùng, ở đời ai cũng khổ. Người khổ cách này, người cách khác. Bí quyết là biết tìm cái vui trong cái khổ. Vì chỉ sống thôi cũng đã quý lắm rồi. Người ta không bao giờ nên phí phạm cái sống, coi thường sự sống. Một lần, Thạch Lam cho tiền một đứa trẻ bán lạc rang bị cướp mất tiền, tôi nhắc khéo là có thể bị đứa trẻ đánh lừa, Thạch Lam trả lời: Bị lừa hay không, cái đó không quan hệ lắm. Mình cần làm một việc xét ra phải làm, theo ý mình... Tháng 2 năm 1935, Thạch Lam được giao quản trị báo Ngày nay. Một nhà thơ, vì cảnh nhà túng quẫn, cứ đến gặp ông xin tạm ứng tiền nhuận bút. Nhưng bạn vay 10 mà trả bài có 3. Có người nhắc ông sao không chặn lại, ông vẫn cho tạm ứng và bảo rằng: Chẳng ai muốn làm một việc như thế, người ta không còn con đường nào khác mới phải làm như vậy. Nếu không giúp đỡ, họ sống ra sao?
Và mặc dù là người nghèo nhất trong gia đình (nhà tranh vách đất, thậm chí cái mền không có tiền mua), Thạch Lam vẫn thường mời bạn văn đến chơi nhà và thiết đãi tận tình. Khúc Hà Linh cho biết:
Thạch Lam nghèo một phần vì sách của ông bán ế, nhưng không vì thế mà người vợ hiền thục kém mặn mà với khách của chồng. Những bữa rượu cứ tiếp diễn, và bao giờ Thạch Lam cũng mời mọc thịnh tình cho đến khi thực khách say mềm. Trong lúc chè chén, có khi sinh sự ồn ào, những lúc ấy Thạch Lam vẫn chỉ điềm nhiên nâng chén, không nói lớn, mà chỉ cười... Sự nghiệp văn chương của Thạch Lam
Là thành viên của Tự Lực văn đoàn, nhưng khác với Nhất Linh, Hoàng Đạo, Khái Hưng... ngòi bút của Thạch Lam có khuynh hướng đi gần với cuộc sống của những người dân bình thường nghèo khổ.
Nhận xét khái quát về sự nghiệp văn chương của ông, Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam có đoạn viết:
Thạch Lam là một cây bút thiên về tình cảm, hay ghi lại cảm xúc của mình trước số phận hẩm hiu của những người nghèo, nhất là những người phụ nữ trong xã hội cũ, sống vất vả, thầm lặng, chịu đựng, giàu lòng hi sinh ("Cô hàng xén"). Có truyện miêu tả với lòng cảm thông sâu sắc một gia đình đông con, sống cơ cực trong xóm chợ ("Nhà mẹ Lê"). Có truyện phân tích tỉ mỉ tâm lí phức tạp của con người ("Sợi tóc"). "Ngày mới" đi sâu vào nội tâm của một cặp vợ chồng trí thức nghèo. Chưa có truyện nào có ý nghĩa xã hội rõ nét như các tác phẩm của các nhà văn hiện thực phê phán. "Theo giòng" là một thiên tiểu luận viết kiểu tuỳ bút, ghi lại suy nghĩ của ông về nghệ thuật tiểu thuyết, có những ý kiến hay, nhưng chưa đi sâu vào khía cạnh nào. Cuốn "Hà Nội ba sáu phố phường" có phong vị đậm đà của quê hương xứ sở, lại rất gợi cảm. Văn Thạch Lam nhẹ nhàng, giàu chất thơ, sâu sắc, thâm trầm, thường để lại một ấn tượng ngậm ngùi, thương xót.[9]
Trong "Lời nhà xuất bản Văn học" (khi in lại tác phẩm "Gió đầu mùa" năm 1982) cũng có đoạn viết như sau:
Giới thiệu tập truyện ngắn "Gió đầu mùa" xuất bản trước Cách mạng tháng Tám, Thạch Lam viết: "Đối với tôi văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát ly hay sự quên, trái lại văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn".
Có thể coi đoạn văn ngắn nói trên như là "Tuyên ngôn văn học" của Thạch Lam. Và quả thật, trong toàn bộ gia tài sáng tạo của Thạch Lam, hầu như không một trang viết nào lại không thắm đượm tinh thần đó. Là thành viên của nhóm Tự Lực văn đoàn, song trước sau văn phong Thạch Lam vẫn chẩy riêng biệt một giòng. Đề tài quen thuộc của nhóm Tự Lực văn đoàn là những cảnh sống được thi vị hóa, những mơ ước thoát ly mang mầu sắc cải lương, là những phản kháng yếu ớt trước sự trói buộc của đạo đức phong kiến diễn ra trong các gia đình quyền quý. Thạch Lam, trái lại, đã hướng ngòi bút về phía lớp người lao động bần cùng trong xã hội đương thời. Khung cảnh thường thấy trong truyện ngắn Thạch Lam là những làng quê bùn lầy nước đọng, những phố chợ tồi tàn với một bầu trời ảm đạm của tiết đông mưa phùn gió bấc, những khu phố ngoại ô nghèo khổ, buồn, vắng ... Trong khung cảnh ấy, các nhân vật cũng hiện lên với cái vẻ heo hút, thảm đạm của số kiếp lầm than - Đó là mẹ Lê, người đàn bà nghèo khổ, đông con, góa bụa ở phố chợ Đoàn Thôn, là bác Dư phu xe ở phố Hàng Bột, là Thanh, Nga với bà nội và cây hoàng lan trong một làng quê vùng ngoại ô, là cô Tâm hàng xén với lối đường quê quen thuộc trong buổi hoàng hôn...Tất cả những cảnh, những người ấy đều được mô tả bằng một số đường nét đơn sơ, thưa thoáng nhưng vẫn hết sức chân thực...
Tác phẩm của Thạch Lam vì thế có nhiều yếu tố hiện thực tuy nhân vật không dữ dội như Chí Phèo, lão Hạc của Nam Cao, hay bị đày đọa như chị Dậu của Ngô Tất Tố...Cái riêng, cái độc đáo, cái mạnh của Thạch Lam, chính là ở lòng nhân ái, và vẻ đẹp tâm hồn quán xuyến trong mọi tác phẩm của ông. Nhân vật Thạch Lam, bất luận ở hoàn cảnh nào, vẫn ánh lên trong tâm hồn cái chất nhân ái Việt Nam...Đọc truyện ngắn Thạch Lam rõ ràng ta thấy yêu con người, quý trọng con người hơn. Và cũng từ đó ta thương cảm, nâng niu, chắt gạn từng chút tốt đẹp trong mỗi một con người.
Trích thêm nhận xét của:
Nhà văn Nguyễn Tuân:
Lời văn Thạch Lam nhiều hình ảnh, nhiều tìm tòi, có một cách điệu thanh thản, bình dị và sâu sắc…Văn Thạch Lam đọng nhiều suy nghiệm, nó là cái kết tinh của một tâm hồn nhạy cảm và tầng trải về sự đời. Thạch Lam có những nhận xét tinh tế về cuộc sống hàng ngày. Xúc cảm của Thạch lam thường bắt nguồn và nảy nở lên từ những chân cảm đối với tầng lớp dân nghèo thành thị và thôn quê. Thạch Lam là nhà văn quý mến cuộc sống, trang trọng trước cuộc sống của mọi người chung quanh. Ngày nay đọc lại Thạch lam, vẫn thấy đầy đủ cáo dư vị và cái nhã thú của những tác phẩm có cốt cách và phẩm chất văn học...
Nhà văn Vũ Ngọc Phan:
Ngay trong tác phẩm đầu tay (Gió đầu mùa), người ta đã thấy Thạch Lam đứng vào một phái riêng...Ông có một ngòi bút lặng lẽ, điềm tĩnh vô cùng, ngòi bút chuyên tả tỷ mỷ những cái rất nhỏ và rất đẹp... Phải là người giàu tình cảm lắm mới viết được như vậy...'.
GS. Phạm Thế Ngũ:
Thạch Lam là một nhà văn có khuynh hướng xã hội...Đối với ông, nhân vật thường là những người tầm thường trong xã hội: mẹ Lê trong xóm nghèo, cô hàng xén ở phố huyện, cậu học trò đi ở trọ, hai cô gái giang hồ trơ trọi…Và ông thường để ý vạch vẽ cuộc đời, tình cảm cùng ý nghĩ của họ, chớ không bận tâm lắm đến việc tuyên truyền tư tưởng cách mạng xã hội như trong các tác phẩm của Nhất Linh hay Hoàng Đạo…Ta thấy Thạch Lam, luôn hòa đồng trong cái xã hội nhỏ bé mà ông thương xót với tất cả tâm hồn đa cảm của ông...
GS. Phong Lê:
Thạch Lam có quan niệm dứt khoát về thiên chức của văn chương: "Đối với tôi, văn chương không phải một cách đem đến cho người đọc sự thoát ly hay sự quên, trái lại, văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người đọc thêm trong sạch và phong phú hơn". Có lẽ cả hai phương diện, vừa tố cáo, vừa xây dựng, đều được Thạch Lam chú ý; và trong phần thành công của nó, các dấu ấn hiện thực và lãng mạn trong văn Thạch Lam đều tìm được sự gắn nối ở chính quan niệm này. Ở tư cách nhà văn, Thạch Lam đòi hỏi rất cao phẩm chất trung thực của người nghệ sĩ. Ông viết: "Sự thành thực chưa đủ cho nghệ thuật. Có thể, nhưng một nhà văn không thành thực không bao giờ trở nên một nhà văn giá trị. Không phải cứ thành thực là trở nên một nghệ sĩ. Nhưng một nghệ sĩ không thành thực chỉ là một người thợ khéo tay thôi".
PGS. Nguyễn Hoành Khung:
...Tình cảm của Thạch Lam chân thành, tuy nhiên, ông chỉ mới băn khoăn, thương cảm đối với số phận người nghèo qua những câu chuyện mang một dư vị ngậm ngùi, tội nghiệp. Về bút pháp, có thể nói Thạch Lam là nhà văn mở đầu cho một giọng điệu riêng: trữ tình hướng nội trong truyện ngắn. Ngòi bút của ông thường khơi sâu vào thế giới bên trong của cái “tôi”, với sự phân tích cảm giác tinh tế. Sáng tác của Thạch Lam giàu chất thơ, và đọc ông, đời sống bên trong có phong phú hơn, tế nhị hơn; chúng “đem đến cho người đọc một cái gì nhẹ nhõm, thơm tho và mát dịu” (Nguyễn Tuân). Ông là cây bút có biệt tài về truyện ngắn. Nhiều truyện ngắn của ông dường như không có cốt truyện, song vẫn có sức lôi cuốn riêng. Truyện dài "Ngày mới" của ông không có gì đặc sắc về tư tưởng và nghệ thuật.
Khúc Hà Linh (Hiệu trưởng Trường Văn hóa nghệ thuật Hải Dương):
Thạch Lam có những tháng năm sống nơi thôn dã, nên trong tác phẩm ông chất chứa nhiều hình bóng con người và đời sống làng quê...Ông tả nội tâm nhân vật tài tình, nhuần nhị, tinh tế. Văn ông hài hòa giữa lãng mạn và chân thực, mà vẫn nồng nàn tình quê, nặng lòng với dân tộc. Thạch Lam không chỉ nổi tiếng về truyện ngắn, ông còn thành công trong thể loại bút ký. "Hà Nội băm mươi sáu phố phường" gồm nhiều mẩu văn ngắn mà sinh động, thể hiện vốn sống phong phú và tài hoa của ông....
Năm 1996, ở Cẩm Giàng có một con đường mang tên Thạch Lam. Đây là một việc làm mạnh dạn, là cách trân trọng văn chương hiếm thấy tại thời điểm lịch sử lúc bấy giờ[16]. Hiện nay, truyện ngắn "Hai đứa trẻ" (in trong tập truyện "Nắng trong vườn") của ông đang được giảng dạy tại lớp 11 trong hệ thống giáo dục Việt Nam. Thông tin dòng họ
Theo Gia phả họ Nguyễn Tường hiện đang lưu giữ ở Hội An[17], thì họ này khởi đầu từ ông Nguyễn Văn Vân, thi đỗ nhị trường, được bổ chức lễ sinh, làm việc bên chúa Nguyễn Phúc Ánh. Năm 1797, ông Vân theo chúa Nguyễn ra đánh Quảng Nam, lập công to, nên được ban họ Nguyễn Tường.
Ông Vân có hai vợ. Người vợ thứ (Nguyễn Thị Khoa Nhàn) sinh ra bốn con trai, trong đó có người con thứ hai tên Nguyễn Tường Phổ.
Nguyễn Tường Phổ (1807-1856), sinh ở Cẩm Phổ (Hội An) là người văn võ toàn tài. Năm 35 tuổi (1842), ông thi đỗ Tiến sĩ, lần lượt trải qua các chức: Hàn lâm viên biên tu nội các (Huế), Tri phủ Hoằng An (Bến Tre), Tri phủ Tân An (Gia Định)... Rồi cuối cùng là Đốc học tỉnh Hải Dương. Vậy là ông Phổ, người Quảng Nam, trở thành vị khai nguyên cho dòng Nguyễn Tường ở Cẩm Giàng.
Ông Phổ có con hai là Nguyễn Tường Trấp (còn gọi là Tiếp) và Nguyễn Tường Chữ. Sau, ông Trấp làm Tri huyện Cẩm Giàng, được dân trong vùng gọi là Huyện Giám. Ông Trấp có ba vợ, nhưng chỉ có bốn người con, trong số này có Nguyễn Tường Nhu, tức cha Thạch Lam...
|
|
|
|
giải đáp
|
Nhà văn Nguyên Ngọc
|
|
|
|
Thân thế
Ông tên thật là Nguyễn Văn Báu, sinh ngày 5 tháng 9 năm 1932 quê ở xã Bình Triều huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Năm 1950, khi đang học trung học chuyên khoa (nay là trung học phổ thông), ông gia nhập Quân đội Nhân dân Việt Nam, chủ yếu hoạt động ở Tây Nguyên – chiến trường chính của Liên khu V bấy giờ. Sau một thời gian ở đơn vị chiến đấu, ông chuyển sang làm phóng viên báo Quân đội nhân dân Liên khu V và lấy bút danh Nguyên Ngọc.
Văn nghiệp Sau Hiệp định Genève, ông tập kết ra Bắc và viết tiểu thuyết Đất nước đứng lên, kể về cuộc kháng chiến chống Pháp của người Ba Na, tiêu biểu là anh hùng Núp và dân làng Kông-Hoa, dựa trên câu chuyện có thật của anh hùng Đinh Núp. Tác phẩm khi xuất bản được nhiều người yêu thích và hâm mộ. Sau này cuốn truyện được dựng thành phim.
Năm 1962 ông trở lại miền Nam, lấy bí danh Nguyễn Trung Thành, hoạt động ở khu V, là Chủ tịch chi hội Văn nghệ giải phóng miền Trung Trung Bộ, phụ trách Tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng của quân khu V. Thời gian này ông sáng tác truyện Rừng xà nu.
Sau chiến tranh, ông có thời gian làm Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam, Tổng biên tập báo Văn nghệ. Trong thời kỳ Đổi mới và phong trào Cởi Mở, ông đã có những đổi mới quan trọng về nội dung tư tưởng của tờ báo và được coi là người có công phát hiện, nâng đỡ nhiều nhà văn tên tuổi sau này như Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư, Phạm Thị Hoài... Ông cũng dành nhiều tình cảm trân trọng đối với các nhà văn khác như Nguyễn Thi, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải.
Tuy nhiên, khoảng đầu thập niên 1990, báo Văn nghệ một số lãnh đạo đảng Cộng sản chính thức phê phán là "chệch hướng" [cần dẫn nguồn]. Sau đó, Nguyên Ngọc đã từ chức Tổng biên tập và nghỉ hưu. Người kế nhiệm ông là nhà báo Hữu Thỉnh. Hoạt động xã hội
Sau thời kỳ làm báo, ông tham gia tích cực trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc và chấn hưng giáo dục Việt Nam. Ông đã dịch một số tác phẩm lý luận văn học như Độ không của lối viết (Rolland Barthes), Nghệ thuật tiểu thuyết (Milan Kundera), tác phẩm của Jean-Paul Sartre, Jacques Dournes...
Được xem là một chuyên gia về Tây Nguyên, trong buổi hội thảo vào tháng 4 năm 2009 về vấn đề khai thác bauxite ở Việt Nam, ông cho biết ý kiến chưa đồng tình với chính sách của chính phủ.[1]
Ông cũng từng tham gia phong trào quần chúng biểu tình phản đối việc gây hấn, xâm lược của Trung Quốc ở Biển Đông năm 2011 trong bối cảnh có sự ngăn cấm. Ngày 22 tháng 8 năm 2011, Đài truyền hình Hà Nội có làm một chương trình về sự việc này, trong đó có đoạn phát thanh viên nói "một số phần tử phản động tham gia biểu tình", đồng thời khung hình đang quay cảnh Nguyên Ngọc và hai trí thức khác là giáo sư Nguyễn Huệ Chi, tiến sĩ Nguyễn Văn Khải. Sự việc này làm ông bất bình và đã gửi thư phản kháng lên Bí thư Thành ủy Hà Nội.
Gần đây, ông đã xin rút tên khỏi danh sách đề cử Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2011, một giải thưởng cao quý của Việt Nam, một động thái được nhiều người cho rằng nhằm phản đối quy trình bầu chọn bất hợp lý của hội đồng giải thưởng. Những tác phẩm chính
Đất nước đứng lên Rẻo cao Đường chúng ta đi Đất Quảng Rừng xà nu Có một đường mòn trên biển Đông Cát cháy Tản mạn nhớ và quên, Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 2004 Nghĩ dọc đường, Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 2005 Lắng nghe cuộc sống, Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 2006 Bằng đôi chân trần, Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 2008
|
|