|
|
giải đáp
|
Bài 1433
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
I. Giới thiệu vài nét về tác giả, bài thơ và vị trí đoạn trích 1. Vài nét về tác giả Xuân Diệu và bài thơ "Vội vàng" (xem đề 2). 2. Đây là đoạn cuối bài thơ thể hiện đỉnh cao mạch cảm xúc tuôn trào, khát khao hưởng thụ "sự sống" ở độ non tơ, căng đầy "mơn mởn" đến độ vồ vập, hăm hở, cuồng nhiệt. II. Bình giảng đoạn thơ 1. Ở những phần trên của khổ thơ, với đối mắt "xanh non" của một thi sĩ có niềm khát khao giao cảm mãnh liệt và có trái tim "say đắm cảnh trời. . .", Xuân Diệu đã khám phá ra một cách tinh tế những nét đẹp hấp dẫn của thiên nhiên và sự sống, của mùa xuân và tình yêu như đang mời gọi thi nhân: "Này đây . . .Này đây . . . Tháng giêng ngon như một cặp môi gần". Nhưng mặt khác, nhà thơ nhận ra tạo hóa có sinh ra con người để mãi mãi hưởng thụ thú vui của trần gian đâu! Màu xuân, tuổi trẻ xẽ trôi qua nhanh chóng, còn cuộc đời quá ngắn ngủi: "Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại Còn trời còn đất nhưng chẳng còn tôi mãi Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời". Cho nên nhà thơ "giục giã" chúng ta phải "nhanh lên", "vội vàng" lên để tận hưởng bữa tiệc trần gian khi mà "mùa chưa ngả chiều hôm": "Ta muốn ôm Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn" Giauwx những câu thơ dài, đột ngột xen vào câu thơ ngắn chỉ có ba chữ như thể vòng tay đang "ôm bó", quấn quýt cả sự sống mới bắt đầu non tơ của thi sĩ. 2. Sáu câu thơ tiếp theo đã diễn tả cảm xúc sôi trào mãnh liệt của niềm khoa khát hưởng thụ sự sống của mùa xuân, tuổi trẻ và tình yêu đến độ "say đắm", "nồng nàn", "tha thiết" đến độ hăm hở, cuồng nhiệt, gấp gáp. Điều này được thể hiện rõ nhất ở thủ pháp điệp: "ta muốn". Nhưng mỗi lần điệp lại đi liền với một động từ chỉ trạng thái yêu đương mỗi lúc một mãnh liệt, nồng nàn hơn: "ôm", "riết", "say", "thâu". Chú ý thêm những nét nghệ thuật đắc sắc của đoạn thơ còn ở chỗ tác giả sử dụng các liên từ "và" rất đúng chỗ cùng điệp từ "cho" với nhịp độ tăng tiến; gắn với một loạt từ láy là tính từ chỉ cảm giác hưởng thụ vật chất cụ thể: "chuếnh choáng", "đã đầy", 'no nê" đã tô đậm một tứ thơ rất Xuân Diệu: niềm khát khao tận hưởng các vị ngon của cuộc đời đến độ tham lam, ham hố, đếm độ thỏa thuê, sung mãn. Đúng như có lần nhà thơ đã viết "sống toàn tâm, toàn trí, toàn hồn - sống toàn thân và thức nhọn giác quan" (Thanh niên). 3. Câu thơ cuối của đoạn thơ là câu cảm thán và là câu kết thúc bài thơ "Hỡi xuân hồng Ta uốn cắn vào ngươi". Câu thơ cất lên niềm yêu đời và khát khao sống chưa từng có trong thơ ca Việt Nam. Các từ "hồng", "cắn" thật là giàu ý nghĩa liên tưởng, rất hàm xúc và gợi cảm: mùa xuân ngon quyến rũ như trái chín ngon ngọt của vường trần, như mời mọc, đầy hấp dẫn . .. 4. Kết luận Đây là đoạn thơ hay nhất của bài "Vội vàng": vừa sâu sắc về nội dung, vừa độc đáo về nghệ thuật. Đó là sự kết tinh hồn thơ Xuân Diệu: yêu đời, yêu cuộc sống đến say mê, cuồng nhiệt. Xuân Diệu vốn không chấp nhận cuộc sống cơ lỡ, lưng chừng nhạt nhẽo giữa "cái ao đời phẳng lặng đìu hiu". Ông muốn luôn luôn đốt cháy những phút giây của đời để làm tỏa sáng ngọn lửa "huy hoàng" thật có ý nghĩa của sự sống, để đánh dấu sự có mặt của cá nhân mình trên cõi thế gian này. Đó cũng chính là tính nhân bản, nét tích cực trong nhân sinh quan Xuân Diệu trước Cách mạng.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1432
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
A. Yêu cầu - Có thể bình giảng theo trật tự từng câu thơ, cũng có thể bổ dọc để bình giảng theo những ý lớn của khổ thơ. Dù bình giảng theo cách nào thì thí sinh vẫn phải làm nổi bật cảm xúc trữ tình, cách cảm nhận thiên nhiên tinh tế, mới mẻ của Xuân Diệu và những nét đặc sắc về phương diện nghệ thuật của đoạn thơ. - Nắm vững kĩ năng một đoạn thơ, diễn đạt mạch lạc, văn viết trong sáng. B. Ý chính cần có Ý 1: Giới thiệu bài thơ và vị trí của đoạn thơ: - "Đây mùa thu tới" được rút từ tập "Thơ thơ", xuất bản năm 1938, tập thơ đầu tay của Xuân Diệu. - Bài thơ bộc lộ cảm xúc trữ tình của Xuân Diệu qua bức tranh miêu tả bước đi của đất trời ở thời điểm chuyển từ mùa nóng xang mùa lạnh, từ hạ xang thu. Đây là một trong những tác phẩm thể hiện đầy đủ nhất cách cảm nhận thiên nhiên tinh tế, mới mẻ và nghệ thuật thơ đầy tính cách tân của một tác giả được gọi là "nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới". (Hoài Thanh) - Bài thơ gồm bốn khổ. Bài thơ mà ta bình giảng nằm ở khổ thứ hai, có vị trí đặc biệt trong mạch vận động của thi tứ. Ý 2: Tâm trạng trữ tình và cách cảm nhận thiên nhiên tinh tế của Xuân Diệu. a. So với khổ thơ đầu, ở khổ thơ thứ hai này, cảnh thu được mở rộng. Nhưng bước đi của thiên nhiên vẫn được cảm nhận chủ yếu ở phía cận cảnh. Trong vườn: hoa cỏ, cây cối đổi sắc, những luồng gió lạnh tràn về, lá "run rẩy rung rinh", tất cả như đang chia lìa, rời bỏ nhau để cuối cùng chỉ còn trơ lại "đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh'. Cảnh mở ra trong không gian mà nói được bước đi của thời gian. Chi tiết nào cũng gợi buồn. Tất cả hợp lại thành bức tranh thiên nhiên thấm đẫm tâm trạng của cái tôi nhạy cảm với sự sống và khát khao giao cảm với đời. b. Hai câu trước của khổ thơ nói về những thay đổi của thiên nhiên được cảm nhận chủ yếu qua thị giác. Bằng mắt thường có thể nhìn thấy hoa rụng. Cũng có thể quan sát bằng mắt thường cảnh "trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh". Chữ "rũa" có bản viết "rủa". Viết "rủa" là câu thơ làm nổi bật sự tương phản, xung đột giữa "sắc đỏ" và "màu xanh". Có người nói Xuân Diệu đã mượn cách diễn đạt của văn chương Pháp. Chữ "rũa" lại có ý nghĩa là bào mòn, mài mòn dần. "Sắc đỏ" đang bào mòn "màu xanh". Viết như thế, câu thơ gợi tả được thay đổi, sự ngả màu, có cả cái gì như là sự tan rã đang diễn ra âm thầm mà dữ dội trong thiên nhiên. Dù viết thế nào thì ý thơ vẫn nói về sự thay đổi. Cảnh tàn mà vẫn tươi, vẫn trong sáng, vì "sắc đỏ" là màu rực rỡ, thuộc gam màu nóng. c. Ở hai câu thơ sau, sự thay đổi của thiên nhiên được diễn tả bằng một chi tiết tạo hình độc đáo giống như bức vẽ bằng mực nước theo kiểu hội họa phương Đông. Trên cái nền tương phản, xung đột giữa "sắc đỏ" và "màu xanh", nổi lên vài nhánh cây khô gầy guộc, mỏng manh, với mấy chiếc lá còn sót lại đang run rẩy trước gió, chuẩn bị lìa cành. Đang có hai cách hiểu về câu thơ thứ ba. Cách hiểu thứ nhất:những luồng gió làm lá "run rẩy rung rinh". Vẫn là hình ảnh có thể nhìn thấy bằng mắt thường nhưng cái nhìn thị giác đang chuyển dần vào cái nhìn nội tâm. Bởi vì, lá "run rẩy rung rinh" là hình ảnh nhân hóa, làm nổi bật cái lạnh được cảm nhận bằng xúc giác. Cách hiểu thứ hai: có "những luồng run rẩy", luồng sống đang "rung rinh" trong gân lá, cuống lá. Sự vận động này không nhìn thấy bằng mắt thường, mà chỉ có thể cảm nhận bằng da thịt. Hiểu theo cách nào thì trước mắt ta vẫn là một hình ảnh thiên nhiên nói lên hồn thơ rất riêng của Xuân Diệu. Nhìn vào đâu, Xuân Diệu cũng thấy sự sống đang phập phồng, run rẩy. Sự sống ấy được nhà thơ cảm nhận tinh tế bằng tất cả các giác quan, trong đó có xúc giác. Hai câu thơ, 14 tiếng mà đã có 10 tiếng diễn tả ấn tượng của xúc giác. Ở câu thơ trên, thì đó là 4 tiếng láy phụ âm "run rẩy rung rinh". Sáu tiếng câu dưới nếu tách riêng, tiếng nào cũng có khả năng gợi tả cái gầy để tăng cường ấn tượng về cái lạnh được cảm nhận bằng xúc giác: "nhánh" - "khô" - "gầy" - "xương" - "mỏng manh". Ý 3: Tổ chức lời thơ của Xuân Diệu hết sức mới mẻ Xuân Diệu đưa vào thơ lối nói rất "Tây": "Hơn một loài hoa" . . . Tổ chức lời thơ của ông thường có khuynh hướng xóa nhòa ý nghĩa biểu vật cụ thể để diễn tả cái mỏng manh, mơ hồ và làm tăng ý nghĩa biểu cảm: "Những luồng run rẩy rung rinh lá". Xuân Diệu sử dụng thành công kĩ thuật láy phụ âm mà ông học được ở thơ ca Pháp "run rẩy rung rinh". Kết luận: Có thể khẳng định: Khổ thơ bình giảng là khổ thơ đặc sắc nhất của tác phẩm. (Đáp án môn Văn - khối D thi Đại học và Cao đẳng năm 2002)
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1431
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
1. Giới thiệu sơ lược về tác giả, bài thơ, đạon trích - "Đây mùa thu tới" là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất về mùa thu của Xuân Diệu. Nó được rút từ tập "Thơ thơ", xuất bản năm 1938. - bài thơ bộc lộ cảm xúc trữ tình của Xuân Diệu qua một bức tranh miêu tả bước đi của đất trời ở thời điểm chuyển mùa từ nóng qua lạnh, từ hạ sang thu. Cả bài thơ là một nguồn cảm xúc dạt dào cảu thi nhân về mùa thu. Thu buồn mà rất đẹp, nên được cảm nhận một cách rất tinh tế, mới mẻ bằng cặp mắt "xanh non" với một nghệ thuật đầy tính chất cách tân của một "nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới". - bài thơ gồm bốn khổ khơ. Đây là khổ thứ nhất, có một vị trí đặc biệt, đóng vai trò mở đầu cho một tứ thơ về mùa thu. - Mùa thu là một thi đề vô cùng hấp dẫn đôi với các thi nhân, các nhà thơ nổi tiếng của nhân loại và dân tộc đãcó những bài thơ rất đặc sắc về mùa thu. Bài thơ này của Xuân Diệu cũng nằm trong mạch cảm súc chung ấy, nhưng đã được nâng lên bằng cái nhìn nghiêng về thời gian, nghiêng về cái động. II. Hai câu đầu: Hình ảnh rặng liễu buồn, chan chứa tâm trạng, sự sống. - Nhà thơ Xuân Diệu cảm nhận "Đây mùa thu tới" qua sự chuyển đổi rất mực tinh vi của đất trời. - Khác với thơ ca truyền thống thường cảm nhận mùa thu bằng những hình ảnh mang màu sắc ước lệ quen thuộc: sen tàn, cúc nở, lá ngô đồng rụng. Xuân Diệu đón nhận mùa thu bằng tín hiệu hình ảnh rặng liễu có dáng hình cụ thể, có tâm hồn sầu muộn rất con người. - Hình ảnh rất buồn mà vẫn đẹp, vẫn ẩn chứa một sức sống bên trong, vì cách so sánh mới lạ, vì nỗi buồn của tuổi trẻ và tình yêu đã xôn xao trong cảnh vật. - Nét đặc sắc nghệ thuật ở hai câu thơ này là tác giả đã sử dụng thủ pháp láy âm rất tài tình mà ông đã học được ở thơ ca hiện đại Pháp ("đìu hiu", "chịu", tang - hàng", "buông - xuống" . . .). Điều đó đã tạo cho câu thơ một nhạc điệu buồn, du dương, trầm bổng rất gợi cảm. - Xuân Diệu dùng hình ảnh nhân hóa đặc sắc (so sánh liễu với thiếu nữ). Nó bộc lộ quan điểm thẩm mĩ mới mang ý nghĩa nhân bản của Xuân Diệu. II. Hai câu sau: Không gian thu với sắc vàng thơ mộng, huyền ảo, tươi sáng thanh nhẹ - Nhạc điệu có sự thay đổi nhờ điệp ngữ "mùa thu tới" như tiếng reo thầm biểu lộ sự ngạc nhiên, ngỡ ngàng khi mùa thu đột ngột xuất hiện với vẻ đẹp bất ngờ, hay có thể hiểu đó là sự thảng thốt pha chút tiếc nuối trong tâm hồn con người? - Khác với mùa thu trong thơ xưa thường là một mùa thu đã được định hình, mùa thu Xuân Diệu đang được hình thành, đang vận động. - Hình ảnh "áo mơ phai" "dệt lá vàng" là một hình ảnh đẹp, sắc màu tươi sáng thanh nhẹ. Chú ý phân tích động từ "dệt" thể hiện sự chảy trôi của thời gian, cái động thái lấn chiếm từ từ của trời thu thay hạ. Kết luận: - Chỉ qua một đoạn thơ mà Xuân Diệu đã diễn tả rất đúng cái không gian thơ mộng, cái thần của mùa thu: buồn mà không ảm đạm, buồn mà vẫn đẹp, vẫn nên thơ, nên họa. - Cảnh thu rất lãng mạn mà cũng rất Việt Nam, vừa truyền thống, vừa hiện đại.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1430
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
Mở bài Xuân Diệu (1916 - 1985) là nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào thơ mới và là một trong những cây bút lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại. Thơ Xuân Diệu có phong cách độc đáo và rất hấp dẫn. Dưới đây là những nét chủ yếu của phong trào thơ ông. Thân bài 1. Có thể nói Xuân Diệu là một trái tim lớn, một nguồn tình cảm yêu đời, yêu cuộc sống trần thế một cách mãnh liệt đến say mê cuồng nhiệt (Trước khi mất, Xuân Diệu để lại cho đời những vần thơ cảm động: ''Hãy để cho tôi được giã từ Vẫy chào cõi thực để vào hư Trong hơi thở chót dâng trời đất Cũng vẫn si tình đến ngất ngư" (Không đề) Đây là một cá tính tự nhiên của Xuân Diệu. Nhưng cá tính này cũng có liên quan đến hoàn cảnh gia đình và môi trường tự nhiên, xã hội nơi ông sinh ra và lớn lên. Xuân Diệu chịu ảnh hưởng rất nhiều từ người bố của mình. Đó là một "ông đồ Nghệ" cần cù, chịu khó, rất ham học. Mẹ Xuân Diệu người Gò Bồi, Quy Nhơn. Xuân Diệu lớn lên ở đây, nơi có "gió nồm thổi lên tươi mát". Sau này ra Hà Nội rồi vào Huế học. Cảnh lộng lẫy của đất trời Thăng Long, cùng với vẻ đẹp đầy mộng mơ của Huế, gió nồm nam, biển dạt dào Quy Nhơn đã khơi dậy ở tâm hồn Xuân Diệu một tình yêu đời say đắm. 2. Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào thơ mới, nghĩa là có ý thức sâu sắc khẳng định cái tôi cá nhân của mình bằng nghệ thuật thơ ca, nhưng khác với nhiều nhà thơ khác trong phong trào thơ mới, Xuân Diệu không đem cái tôi của mình đối lập với đời và tìm cách thoát ly đời, hiểu theo nghĩa trần thế nhất: là con người, là trời đất, là hoa lá cỏ cây ở quanh ta đây. Ông quan niệm được sống mãi với đời là niềm hạnh phúc tuyệt với nhất. Mà trên đời này có gì đáng yêu hơn là mùa xuân, tuổi trẻ và tình yêu. Đó là nguồn thơ phong phú của ông, là đề tài chủ yếu của thơ ông. Hoài Thanh viết: "Thơ Xuân Diệu còn là một nguồn sống rào rạt chưa từng có ở chốn nước non lặng lẽ này. Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình. Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn, tha thiết". 3. Với niềm khao khát giao cảm hết mình với cuộc đời trần thế này, một cách tự nhiên, Xuân Diệu cũng là nhà thơ của tình yêu, vì tình yêu là niềm giao cảm mãnh liệt nhất và trần thế nhất. Đây là loại tình cảm bao giờ cũng đòi hỏi cao độ "vô biên và tuyệt đích" . . . Người ta đã tặng cho Xuân Diệu danh hiệu: "là ông hoàng của thơ tình yêu". 4. Tha thiết với mùa xuân, tuổi trẻ và tình yêu, Xuân Diệu đã đi đến một cách tân đáng kể về thi pháp. Nếu thơ văn xưa coi thiên nhiên là chuẩn mực của cái đẹp, thì giờ đây Xuân Diệu đảo ngược lại: Đối với ông, không có gì hoàn mĩ bằng con người, nhất là phụ nữ, ở giữa tuổi xuân. Một quan điểm thẩm mĩ như vậy đã tạo nên trong thế giới nghệ thuật của Xuân Diệu những hình tượng giàu sức sống và đầy xuân tình, xuân sắc. Tuy nhiên trong xã hội ngày trước, Xuân Diệu cảm thấy tình yêu say đắm, nồng nhiệt của mình không được đáp ứng xứng đáng, tựa như "nước đổ lá khoai". Với Xuân Diệu, thơ mới đào sâu vào tâm hồn của cái tôi cá nhân, cá thể. Và "càng đi sâu càng lạnh". Cho nên con người yêu đời là vậy mà lắm lúc cảm thấy cô đơn, thậm chí muốn trốn đời, trốn cả bản thân mình nữa (Cặp hài vạn dặm). Vì vậy trong thế giới nghệ thuật của Xuân Diệu, mùa xuân và bình minh gắn liền với những chiều thu tàn và những đêm trăng lạnh. 5. Xuân Diệu chịu ảnh hưởng của hai nền văn chương Đông và Tây, cổ điển và hiện đại (Xuân Diệu đặc biệt chịu ảnh hưởng của trường thơ tượng trưng của Pháp - như Bô - đơ - le; Rin - bô; Véc - len). Thơ tượng trưng hết sức đề cao quan hệ tương giao giữa các giác quan cùng tính tạo nhạc của thơ và mài sắc các giác quan để cảm nhận và diễn tả được những biến thái tinh vui . . . nhất của tạo vật và lòng người. Kết luận: Là nhà thơ của niềm khát khao giao cảm với đời, Xuân Diệu đã dễ dàng gắn bó với cách mạng, với nhân dân. Từ một nhà thơ tiêu biểu cho phong trào Thơ mới lãng mạn, Xuân Diệu đã trở thành nhà thơ lớn của nền văn học cách mạng. Là một nghệ sĩ đa tài, sau cách mạng, Xuân Diệu càng phát huy năng khiếu của mình trên nhiều thể loại: bút kí, tùy bút. dịch thuật, đặc biệt là nghiên cứu, phê bình văn học. Ở lĩnh vực nào ông cũng có những đóng góp rất có giá trị.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1423
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
Tố Hữu sinh năm 1920, mất năm 2002. Ông có tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, quê ở làng Phù Lai, huyện Quảng Điền - tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông thân sinh của Tố Hữu là một nhà nho nghèo nhưng rất yêu thơ, ham sưu tầm ca dao, tục ngữ. Từ nhỏ, Tố Hữu đã được cha dạy cho làm thơ theo lối cổ. Bà mẹ sinh ra Tố Hữu là con một nahf nho rất yeu ca dao, dân ca xứ Huế và giàu lòng thương con. Tố Hữu mồ côi mẹ từ năm 12 tuổi, một năm sau lại phải xa gia đình vào học trường Quốc Học Huế. Quê hương, gia đình cũng đã ảnh hưởng rất lớn đến hồn thơ Tố Hữu. Lớn lên trong cảnh "Phận nghèo, nước mất, dân nô lệ", nhưng rất may, Tố Hữu đã được Đảng giác ngộ và dìu dắt. Năm 1938, ông được kết nạp vào Đảng. Ông bị thực dân Pháp cầm tù qua các nhà lao Thừa Thiên, Tây Nguyên . . . Năm 1945, ông là Chủ tịch ủy ban khởi nghĩa ở Huế. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ cho đến lăm 1986, Tố Hữu liên tục giữ những cương vị trọng yếu trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, từng là ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch đồng Bộ trưởng. Ở Tố Hữu, con người chính trị và con người nhà thơ thống nhất chặt chẽ, sự nghiệp thơ gắn liền với sự nghiệp cách mạng "là hình thức tuoi đẹp cảu hoạt động cách mạng". Ông được Nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I - 1996.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1422
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài 1. Hoàn cảnh ra đời a. Ngày 19/8/ 1945, chính quyền ở Hà Nội đã về tay nhân dân. Ngày 26/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu Cách mạng Việt Bắc về tới Hà Nội. Người soạn thảo bản "Tuyên ngôn độc lập" tại căn nhà 48 phố Hàng Ngang. Ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, trước hàng chục vạn đồng bào, Người thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt nam Dân chủ cộng hòa đọc bản "Tuyên ngôn độc lập". b. Lúc này cũng là thời điểm bọn đế quốc, thực dân nấp sau quân Đồng minh vào tước khí giới quân đội Nhật, đang âm mưu chiếm lại nước ta. Thực dân Pháp tuyên bố Đông Dương là thuộc địa cảu Pháp bị Nhật xâm chiếm, nay Nhật đầu hàng nên Đông Dương phải thuộc quyền của Pháp. 2. Mục đích sáng tác. a. Chính thức tuyên bố trước quốc dân, trước thế giới sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. b. Ngăn chặn âm mưu chuẩn bị chiếm lại nước ta của bọn đế quốc thực dân. c. Tố cáo tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân ta suốt 80 năm qua và tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân, xóa bỏ mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam. d. Khẳng định ý chí của cả dân tộc Việt Nam kiên quyết bảo về nền độc lập, tự do của tổ quốc. 3. Giá trị của bản Tuyên ngôn: a."Tuyên Ngôn độc lập" là một văn kiện lịch sử đúc kết nguyện vọng sâu xa của dân tộc Việt Nam về quyền độc lập, tự do, cũng là kết quả tất yếu của quá trình đấu tranh gầm một trăm năm của dân tộc ta để có quyền thiêng liên đó. b. Bản tuyên ngôn đã tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến ở Việt Nam và mở ra một kỉ nguyên mới cho dân tộc ta: kỷ nguyên độc lập, tự do, kỷ nguyên của nhân dân làm chủ đất nước. 4. Giá trị của bản tuyên ngôn a. ."Tuyên Ngôn độc lập" là một áng văn yêu nước lớn của thời đại. Tác phẩm khẳng định mạnh mẽ quyền độc lập dân tộc gắn liền với quyền sống của con người, nêu cao truyền thống yêu nước, truyền thống nhân đạo của Việt Nam. b.."Tuyên Ngôn độc lập" là một áng văn chính luận mẫu mực. Dung lượng tác phẩm ngắn gọn, cô đọng gây ấn tượng sâu sắc. Kết cấu tác phẩm mạch lạc, chặt chẽ, chứng cứ cụ thể, xác thực, lập luận sắc bén, giàu sức thuyết phục. Ngôn ngữ tác phẩm chính xác, gợi cảm, tác động mạnh mẽ và tình cảm, nhận thức của người nghe, người đọc.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1421
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
Mở bài: Phong cách Hồ Chí Minh rất hấp dẫn, độc đáo, đa dạng mà rất thống nhất. Thân bài: Ở mỗi thể loại văn học, văn từ chính luận, truyện, ký đến thơ ca, Hồ Chí Minh đều tạo được những nét phong cách riêng, độc đáo và hấp dẫn. 1. Văn chính luận của Người thường ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, lý lẽ đanh thép, bằng chứng đầy sức thuyết phục, đầy tính chiến đấu và đa dạng về bút pháp. Văn chính luận của Người có sự kết hợp giữa tình và lí, lời văn giàu hình ảnh, giọng điệu khi ôn tồn thân mật như đưa lẽ phải thấm vào lòng người, khi mạnh mẽ, hùng hồn. 2. Truyện, ký của Người được viết với bút pháp rất hiện đại, đầy sáng tạo, thể hiện tính chiến đấu mạnh mẽ và nghệ thuật trào phúng sắc bén. Tiếng cười trào phúng của Hồ Chí Minh tuy nhẹ nhàng , hóm hỉnh nhưng thâm thúy, sâu cay. 3. Thơ ca thể hiện sâu sắc và tinh tế vẻ đẹp tâm hồn của Hồ Chí Minh. a. Những bài thơ nhằm mục đích tuyên truyền cách mạng thường được viết bằng hình thức bài ca, lời lẽ giản dị, mộc mạc, dễ thương mang màu sắc dân gian hiện đại. b. Những bài thơ nghệ thuật viết theo cảm hứng thẩm mĩ hầu hết là thơ tứ tuyệt cổ điển, bằng chữ Hán, mang đặc điểm của thơ cổ Phương Đông với sự kết hợp hài hòa giữa màu sắc cổ điển với bút pháp hiện đại, giản dị mà sâu sắc, lấp lánh chất thép mà chứa chan chất tình, từ tư tưởng đến hành động có sự vận động tự nhiên và nhất quán về sự sống, ánh sáng và tương lai. Kết luận: Nhìn chung, văn thơ của Hồ Chí Minh có phong cách hết sức phong phú, đa dạng mà thống nhất. Đó là cách viết ngắn gọn, trong sáng giản dị, sử dụng linh hoạt các thủ pháp và bút pháp nghệ thuật khác nhau, nhằm thể hiện một cách nhuần nhị và sâu sắc nhất tư tưởng của Hồ Chí Minh, "Tinh hoa của dân tộc, khí phách của non sống".
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1420
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài I. Giới thiệu vài nét về tác phẩm "Tuyên ngôn độc lập" được Bác Hồ trịnh trọng đọc trước toàn thể đồng bào và toàn thế giới tại Quảng trường Ba Đình lịch sử sáng ngày mùng 2 tháng 9 năm 1945 đã khia sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là một văn kiện kịch sử vô giá, một văn kiện chính trị qua trọng, là kết quả cuộc đấu tranh cách mạng gần một thế kỉ của dân tộc ta chống thưc dân Pháp. Về nội dung, khi phân tích "Tuyên ngôn độc lập", ta cần chú ý phân tích các phần sau: II. Nội dung bản Tuyên ngôn 1. Phần mở đầu: "Tuyên ngôn độc lập" khẳng định chân lí lớn lao và vĩnh cửu muôn đời là con người phải được tự do, dân tộc phải được độc lập. Tác giả đã liên hệ đến "Tuyên ngôn độc lập" năm 1776 của nước Mĩ và "Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền" của Cách mạng Pháp năm 1791, những áng văn bất hủ chứng minh chân lí đó. Thực dân Pháp, phát xít Nhật ngày nay đã chống lại nhũng quyền chân chính đó là của con người. 2."Tuyên ngôn độc lập" lên án tội ác của thực dân Pháp về kinh tế, chính trị, xã hội đàn áp thẳng tay, chém giết những người yêu nước thương nòi đến việc đầu độc dân tộc ta bằng thuốc phiện, rượu cồn, bóc lột, chiếm đoạt ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu, bày đặt hàng trăm thứ thuế vô lí. 3. Lên án hành động hèn nhát, bán rẻ Đông Dương cho phát xít Nhật của thực dân Pháp. Sự kiện mùa thu năm 1940, Nhật vào Đông Dương cho Nhật để Nhật mở căn cứ đánh Đồng minh. Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp "Trong năm năm, chúng ta đã bán nước hai lần cho Nhật". Từ mùa thu năm 1940, nước ta đã là thuộc địa của Nhật và "Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp". 4. Bản tuyên ngôn đã điểm lại và ngợi ca cuộc đấu tranh bền bỉ, không ngừng để giành quyền độc lập của nhân dân ta qua nhiều cuộc khởi nghĩa của các nhà yêu nước, anh hùng. Cho đến Cách mạng tháng Tám, nhân dân ta lại đứn g về phe Đồng minh chống phát xít Nhật. Từ đó tuyên bố, chấm dứt chế độ thực dân, xóa bỏ những đặc quyền cảu Pháp trên đất nước Việt Nam, Và Tuyên ngôn đã khẳng định quyền tự do độc lập cảu dân tộc Việt Nam, không phải chỉ là khả năng, mà là hiện thực "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do, độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do, độc lập. Cả dân tộc quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cái để bảo về nền độc lập, tự do của Tổ quốc". III."Tuyên ngôn độc lập" là một văn kiện lịch sử có giá trị về nhiều mặt 1. Về mặt lịch sử, chính trị, tư tưởng: "Tuyên ngôn độc lập" là một văn kiện lịch sử, đúc kết nguyện vọng sâu xa của dân tộc Việt Nam về quyền độc lập, tự do. Bản "Tuyên ngôn độc lập" là kết quả của bao nhiêu máu đã đổ, bao nhiêu tính mệnh đã hi sinh của những con người anh dũng của Việt nam" (Trần Dân Tiên). bản "Tuyên ngôn độc lập" đã tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân phong kiến ở Việt nam và mở ra một kỉ nguyên mới cho dân tộc ta: "Kỉ nguyên độc lập, tự do", kỉ nguyên "nhân dân là chủ đất nước" (trước đây trong lịch sử đã có một vài áng văn thơ mang tinh thần tuyên ngôn như mơ "Thần" của Lý Thường Kiệt, "Bình Ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi). 2. Về mặt pháp lí: Tuyên ngôn có giá trị pháp luật, là bản cáo trạng đanh thép, là áng văn có giá trị pháp lí, lập luận vững chắc, thuyết phục. 3. Về mặt nhân văn: Là văn kiện bênh vực quyền dân tộc gắn liền với quyền con người nên có giá trị nhân bản cao cả. 4. Về mặt nghệ thuật: "Tuyên ngôn độc lập" không chỉ có giá trị nội dung to lớn, sâu sắc, đã nêu cao truyền thống yêu ngước, truyền thống nhân đạo của con người Việt Nam mà còn có giá trị văn học đặc sắc. Đây là một áng văn chính luận mẫu mực. Dung lượng tác phẩm ngắn gọn, cô đọng, gây ấn tượng sâu sắc. Kết cấu tác phẩm mạch lạc, chặt chẽ, chứng cứ cụ thể, xác thực, gợi cảm, giọng văn khi lâm li thống thiết, khi hùng hồn, mạnh mẽ vừa thức tỉnh lí trí, vừa lay động trái tim người nghe, người đọc.
|
|
|
|
giải đáp
|
Đề 5: Phân tích tác phẩm "Vi hành" của Nguyễn Ái Quốc.
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài I. Trình bày một cách ngắn gọn hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm (xem đề 4) Phân tích giá trị nội dung tác phẩm A. Đả kích Khải Định, hiện thân của chế độ phong kiến Nam Triều. 1. Từ hình dáng đến phục sức của Khải Định đều rất kệch cỡm, nhố nhăng, lố bịch và kì quái. 2. Ăn chơi xa đọa, xấu xa, làm nhục quốc thể. 3. Dưới con mắt của người Pháp, Khải Định chỉ là một thằng hề, con rối, một công cụ rẻ tiền trong bàn tay điều khiển của bọn thực dân Pháp. B. Tố cáo chính sách thuộc địa dã man, nham hiểm của bọn thực dân Pháp. 1. Đầu độc người bản xứ bằng thuốc phiện, rượu cồn. 2. Lên án chính sách tuyên truyền dối trá, bịp bợm: ra sức đi cướp nước mà lại rêu rao là "khai hóa", "bảo hộ". 3. Truy nã, vây bắt, truy lùng những người yêu nước Việt Nam trên đất Pháp, nghĩa là Nguyễn Ái Quốc đã lên án hành động vi phạm nhân quyền một cách trắng trợn của thực dân Pháp. C. Giá trị nghệ thuật của tác phẩm "Vi hành" là tác phẩm tiêu biển cho phong cách nghệ thuật viết truyện của Nguyễn Ái Quốc: giàu trí tuệ, rất hiện đại, đầy tính sáng tạo. Tất cả tạo nên nghệ thuật châm biếm đả kích mạnh mẽ, sắc sảo độc đáo của ngòi bút Hồ Chí Minh. 1. Sự sáng tạo và châm biếm đả kích trước hết được thể hiện ở cách đặt nhan đề cho tác phẩm. "Vi hành" vốn là một từ có nghĩa gốc tốt đẹp, nay Bác đã biến đổi sang nghĩa mới có tính chất châm biếm, đả kích sâu cay. Như vậy, nghĩa là Nguyễn Ái Quốc đã dùng chữ của hoàn đế để đánh vào đầu hoàng đế, dùng gậy ông đập lưng ông. Ngòi bút của Bác quả là hóm hỉnh, hàm xúc và rất giàu trí tuệ. 2. Tạo được một tình huống truyện độc đáo: tình huống "nhầm lẫn". Tạo tình huống này là biểu hiện của trí tuệ và sáng tạo, nhờ đó, tác giả đã đạt được hai hiệu quả: châm biếm sâu sắc và làm tăng sức thuyết phục đối với người đọc. a. Giữ được thái độ khách quan: đây là dân chúng Pháp nhìn và đánh giá Khải Định. b. Đặt Khải Định trước con mắt của những thanh niên Pari đang háo hức được xem những trò giải trí mới lạ, khiến cho bộ dạng tên vua bù nhìn vốn đã lố bịch lại càng trở nên lố bịch, hài hước hơn. 3. Dùng hình thức viết thư. a. Thư từ cho người thân là một thứ văn hết sức tự do, phóng túng, giúp cho tác giả đổi giọng thoải mái, chuyển cảnh linh hoạt, có thể liên hệ chuyện nọ sang chuyện kia, đối tượng này sang đối tượng khác. Cứ mỗi lần liên hệ, cái giá của Khải Định lại thấp xuống một bậc. b. Lời viết thư được sử dụng một cách sáng tạo đã giúp cho tác giả đả kích được một lúc nhiều đối tượng và đả kích từ nhiều phía, bằng nhiều giọng điệu khác nhau, đồng thời tạo nên tính hài hước có sức hấp dẫn đặc biệt đối với người đọc. Đúng như là ngòi bút của Bác vừa trí tuệ vừa sâu sắc, vừa sáng tạo độc đáo và hiện đại mới mẻ (thư là thể loại văn học rất mới mẻ của Châu Âu . . .). Tất cả đã làm nên một thiên chuyện vừa đa nghĩa, vừa đa thanh. 4. Một biểu hiện nữa của tính trí tuệ, đầy sáng tạo và ý nghĩa châm biếm sâu sắc là Nguyễn Ái Quốc đã sử dụng một hệ thống ngôn ngữ rất giàu tính trào phúng. Ví dụ: "Các vị chẳng nề hà chút công sức nào để bảo về bọn tôi, và giá cô được trông thấy các vị ân cần theo dõi tôi chẳng khác bà mẹ hiền rình con thơ chập chững bước đi thứ nhất, thì hẳn cô phải phát ghen lên được vì nỗi âu yếm của các vị đối với tôi . . . Cô thử nghĩ, làm sao mà không xúc động sâu xa được, khi được đối đãi như thế?"
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1419
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài Mở bài: 1: Thơ của Bác Hồ là thơ của một thi sĩ có hồn thơ rất vui, rất khỏe, luôn luôn có sự vận động từ bóng tối đến ánh sáng, từ đêm đen đến bình minh. 2. Những bài thơ tả cảnh thiên nhiên của Người lại càng thể hiện rõ nét phong cách đặc sắc ấy. 3. Bài thơ "Giải đi sớm" là một trong những bài thơ đó. Thân bài (Ý 1: Hoàn cảnh tác giả: Xem đề 10) Chính hoàn cảnh ấy giúp cho ta hiểu sâu hơn các ý thơ, hình ảnh thơ. Hình ảnh thơ rất sinh động, lấp lánh ánh sáng, ý thơ có sự vận động khỏe khoắn, đột ngột từ đêm đen đến bình minh. Bài thơ viết về sự chuyển lao mà nổi bật lên trong bài thơ là hình ảnh một thi nhân đang đi tìm thi hứng. Phân tích khổ 1: Câu 1: Câu thứ nhất là một câu thơ tả thực nói về tiếng gà gáy vang vọng giữa canh khuya, xuất hiện trong một không gian tĩnh mịch. Người đọc dễ hình dung một cảnh tượng vắng vẻ, quanh hiu, cô đơn, lạnh giá xẽ vây bủa lấy người tù nơi đất lạ. Hình ảnh thơ gợi lên một tình thế đối lập giữa con người và thiên nhiên. Tình cảm nhân vật trữ tình dễ trở thành lời than thở về nỗi khổ cực của kẻ bị lưu đày. Câu 2: Nhưng sang câu thơ thứ hai, ý thơ bỗng nhiên đột ngột tỏa sáng. Thiên nhiên qua tâm hồn bác trở nên sống động, ấm áp bởi chúng như quấn quýt với nhau và lấp lánh ánh sáng phía trước (chú ý phân tích thêm chữ "quần" và "ủng" và hình ảnh "thu san" trong nguyên tác. Không có cơ sở nào để hiểu câu thơ theo nghĩa tượng trưng). Câu thơ chủ yếu được viết theo bút pháp tả thực. Đây có thể xem là một tứ thơ cải tạo hoàn cảnh, biến đổi tinh tế. Bác đã tìm thấy trong thế đối lập có sự hài hòa. Câu 3,4: Hình ảnh người tù trên đường chuyển lao tuy đầy gian khổ nhưng luôn luôn ở tư thế chủ động, tự tin đón nhận khó khăn: "Người đi cất bước trên đường thẳm Rát mặt đêm thu trận gió hàn" Hoàn cảnh chuyển lao khốc liệt như muốn nhấn chìm tù nhân. Nhưng ở đây, tù nhân - chiến sixvaaxn thể hiện trong tư thế "nghênh diện" - tư thế hiên ngang chủ động tự tin vững vàng đày khí phách của một người tù vĩ đại (Chú ý phân tích điệp từ "chinh" và "trận" trong nguyên tác. Chúng nhịp với nhau diễn tả cái khốc liệt của hoàn cảnh chuyển lao, vừa tạo nên một âm hưởng khỏe khoắn trầm hùng. Còn bản dịch dùng từ "cất bước" và đường thẳm", giá hàn" làm đánh mất cái âm hưởng ấy và gợi lên trong ta mộ tư thế bị động của người tù, đồng thời có cái gì đó giống như một lời than thở). - Hình ảnh người tù - Chiến sĩ cách mạng luôn ở tư thế chủ động và vươn lên trên hoàn cảnh khắc nghiệt, không cho nó lấn át mình. Đó cũng chính là chất thép đắc sắc biểu hiện ở khổ thơ này. Phân tích khổ II: Tiếp tục phát triển ý thơ ở khổ thơ 1, tác giả đã dựng lên một bức tranh mô tả cảnh bình minh tươi sáng với cả bầu trời ửng hồng thay thế cho bóng đêm âm u lạnh giá. Câu 1: Thiên nhiên qua ngòi bút của Bác dường như đã có sự chuyển biến vô cùng đột ngột, mạnh mẽ và mau lẹ. Cả vũ trụ, cả phương Đông vừa mới đây còn đầy bóng tối bỗng chốc bừng sáng, toàn cảnh thơ rực rỡ cả một màu hồng (Chú ý bình chữ "hồng" có vai trò như một "nhãn tự", vừa có ý nghĩa cụ thể, vừa mang tính chất đặc trưng). Câu 2: Màu "hồng" ấy trong khoảnh khắc đã quét "sạch không" những bóng tối của đêm còn sót lại và tỏa hơi ấm bao trùm vũ trụ, xua tan khí lạnh u ám đêm đen. Đây là một hình ảnh thơ rất khỏe, nhộm màu sắc thần thoại. Câu 3: Phải có hơi ấm từ trái tim dầy nhiệt huyết và niềm tin của nhà thơ - chiến sĩ tở vào đất trời thì vũ trụ mới bao la và nồng ấm nhanh đến thế! Câu 4: Chú ý câu thơ nguyên tác cả Bác có từ "gia", nghĩa là thêm vào thì ra thi hứng của một tù nhân - thi nhân khoogn phải giờ đây trước thiên nhiên rộng mở mới xuất hiện, mà trái lại đã "nồng" lên từ lúc mới cất bước lên đường "gà gáy một lần đên chửa tan". - Thế là người tù bỗng chốc đã trở thành nhà thơ từ lúc nào và trong tâm hồn đang dào dạt thi hứng. - Từ khổ thơ thứ nhất đến khổ thơ này, "hình tượng thơ đã có sự vận động từ lạnh giá đến ấm áp, từ đêm đen đến bình minh - mộ bình minh bao la hùng vĩ tạo nên một niềm lạc quan hứng khởi trước một ngày mới, khiến cho cảnh bình minh trong một ngày bỗng có cái khí thế của cảnh bình minh cho một thời đại" (Hoài Thanh). Kết luận" Bài thơ viết về chuyện chuyển lao nhưng không nói chuyện đọa đày mà chủ yếu mở ra bức tranh của buổi ban mai tràn đầy ánh sáng và nổi lên trên bức tranh là hình ảnh một thi nhân với phong thái ung dung, tâm hồn dào dạt thi hứng như một người đi ngoại cảnh. Đây chính là cái nét đặc sắc, cái chất cộng sản Hồ Chí Minh đã tạo nên "cái hay vô song cho bài thơ" (ý Xuân Diệu).
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1416
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài 1. Hoàn cảnh sáng tác Bài thơ này được sáng tác khia Bác bị giải từ nhà lao này sang nhà lao khác vào một buổi sớm, có thể là từ nhà lao Long An đến nhà lao Đồng Chính, sau khi đã đi bộ gần 200 cây số và bị giam hơn 60 ngày. Hồi kí của Trần Dân Tiên đã cho biết rõ cái cảnh Bác bị giải như thế nào: "Tay bị trói giật cánh khuỷu, cổ manh xiềng xích, có sáu người linh mang súng giải đi. Cụ Hồ Chí Minh đi mãi, đi mãi nhưng vẫn không biết là đi đâu. Dầm mưa, giãi nắng, trèo núi, qua truông. . Mỗi buổi sáng, gà gáy đầu, người ta lại giải cụ Hồ đi. Mỗi buổi chiều khi chim về tổ, người ta lại dừng lại trong một địa phương nào đó, giam Cụ vào trong xà lim trên một đống rạ bẩn, không cởi trói cho Cụ ngủ. Đau khổ như vậy như vậy nhưng Cụ vẫn vui vẻ, sung sướng được thấy phong cảnh thay đổi. Cụ Hồ vừa đi, vừa ngâm nga. Thỉnh thoảng, Cụ Hồ lại làm thơ . . .". 2. Ý nghĩa của hoàn cảnh: Hoàn cảnh ấy giúp chúng ta hiểu sâu thêm ý nghĩa độc đáo của bài thơ. Dù bài thơ viết về hoàn cảnh chuyển lao đầy gian khổ của Bác, ấy thế mà trong bài thơ không hề thấy có một hình ảnh của một người tù. Ngược lại, trước mắt ta vẫn lồng lộng trái tim Người vẫn như ngọn lửa, vẫn nồng nàn thi hứng và niềm tin. Đúng như lời bình cảu Xuân Diệu: Cái hay vô xong của bài thơ "Giải đi sớm" là bài thơ có chất cộng sản Hồ Chí Minh.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1415
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài. 1. Hồ Chí Minh là nhà cách mạng vĩ đại đồng thời là tác giả văn học lớn. "Nhật kí trong tù" là tác phẩm tiêu biểu được viết vào khoảng thời gian từ đầu mùa thu 1942 đến cuối 1943, tức là thời gian Bác bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam ở Quảng Tây - Trung Quốc. 2. "Mộ" (Chiều tối) là một bài thơ rất có giá trị của tập thơ, vừa gợi được cảnh sống gian truân của Bác trong những ngày bị giam cầm, vừa thể hiện được vẻ đẹp trong tâm hồn của người cộng sản vĩ đại Hồ Chí Minh. II. Phân tích - bình giảng bài thơ 1. Phân tích cảnh chiều tối nơi núi rừng. a. Hai câu đầu. - Cảnh chiều tối được gợi tả bằng vài hình ảnh có tính ước lệ của thơ cổ: Chim mỏi về rừng, chòm mây lững thững trôi. - Tuy là những hình ảnh mang màu sắc ước lệ nhưng được Bác sử dụng một cách tự nhiên, phud hợp với cảnh thực và tâm trạng thực của thi nhân ở chốn núi rừng, ánh sáng cuối cùng của một ngày thì chỉ có thể thấy được trên đỉnh trời dang soi chiếu một cánh chim bay về tổ và chòm mây bay ngang bầu trời. Cảnh ấy phù hợp với tâm trạng người tù cách mạng buồn nhớ quên hương, lại trải qua một ngày bị áp giải trên đường vô cùng vất vả, mệt mỏi. - Dù lâm vào cảnh vất vả, bị đọa đầy, nhưng thi sĩ Hồ Chí Minh vẫn thể hiện tình cảm yêu mến thiết tha và thái độ đồng cảm, chia sẻ với tạo vật, thiên nhiên vùng sơn cướu lúc chiều buông. 2. Tinh thần nhân hậu và lạc quan của nhà thơ: b. Hai câu sau: Nét đặc sắc của hai câu thơ này là diễn tả được sự vận động của thời gian từ chiều muộn đến tối hẳn, bằng cách dùng hình ảnh ánh sáng (lò than đã rực hồng). Trời tối hẳn nên lò than rực lên, thu hút con mặt của nhà thơ. - Sự chuyển cảnh ở nửa sau bài thơ cho thấy lòng yêu con người, yêu cuộc sống đặc biệt sâu sắc của Bác. Bác đã nói về hình ảnh, cô gái xóm núi xay ngô với biết bao cảm xúc trìu mến. Bác hiểu nỗi nhọc nhằn, vất vả của người lao động (cụm từ "ma bao túc" được lặp lại theo trật tự đảo lộn ở câu 3 và câu 4 góp phần biểu đạt ý này) nhưng đồng thời cũng nhìn thấy nét đẹp riêng, chất thơ riêng ở những cảnh đời bình dị. - Chữ "hồng" cuối bài thơ đã trở thành "nhãn tự" trong tác phẩm. Với chữ" hồng" đó, dường như Hồ Chí Minh đã quên đi cảnh bị đày ải buồn thương của mình mà hướng đến chia sẻ niềm vui cuộc sống lao động bình thường. Quan trọng hơn, chữ "hồng" đã giúp ta hiểu được niềm lạc quan đáng quý của nhà cách mạng. - Qua sự chuyển đổi của cảnh sắc (từ tối đến sáng), tình cảm (buồn đến vui), chúng ta thấy rõ ràng trong bất cứ hoàn cảnh nào, người cộng sản Hồ Chí Minh cũng hướng tâm hồn mình về phía tươi sáng của cuộc đời và yêu thương con người đến mức "Nâng niu tất cả chỉ quên mình". Chú ý: Khi phân tích cần đối chiếu với nghuyên bản chữ Hán để thấy nét tinh tế của ngòi bút Hồ Chí Minh. Trong nguyên bản có chữ "cô vân" - chòm may cô đơn và cụm từ "mạn mạn" - lững lờ, mệt mỏi diễn tả rất đạt tâm trạng thi nhân. Ở câu ba, nguyên bản không có chữ "tối" mà vẫn nói được trời tối. Bản dịch thêm chữ "tối" làm giảm đi tính hàn xúc và vẻ đẹp cổ điển trong câu thơ của Bác.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1414
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
Mở bài: - Phong cách nghệ thuật của thơ Hồ Chí Minh thật phong phú, đa dạng mà thống nhất: Có thơ trữ tình, thơ tự sự, tự trào, có cả thơ trâm biếm, đả kích, nụ cười châm biếm của Người thật nhẹ nhàng, giản dị, dí dỏm mà vô cùng thâm thúy, sâu sắc. Bài "Lai Tân" là một trong những bài thơ đặc sắc nhất cho nét phong cách ấy của thơ Bác. Thân bài: I. Giới thiệu đôi nét về bài thơ. 1. "Lai Tân" là một bài thơ được sáng tác trong khoảng thời gian bốn tháng đầu Hồ Chí Minh bị giam giữ tại các nhà tù của bọn Quốc dân Đảng Trung Quốc ở Quảng Tây. 2. "Lai Tân" rút từ tập "Nhật kí trong tù" của Hồ Chí Minh. Bài thơ mang nội dung phê phán thái độ nahf tù và xã hội Trung Quốc với nghệ thuật châm biếm sắc sảo. II. Phân tích bài thơ Ý 1: Ba câu đầu. Đó là ba câu thơ tự sự nói về hành vi thườn thấy ở ba viên quan lại cai quản nhà ngục Lai Tân a. Ở đây Bác không bình luận mà chỉ kể lại sự việc. Nhưng ngẫm cho kỹ, chúng ta thấy ý nghĩa của lời thơ thật sâu xa. Ba đối tượng mà Bác tập trung vào phê phán là "ba đối tượng từ thấp đến cao những kẻ cầm quyền và quản lí trực tiếp trật tự an ninh địa phương". Đó là những kẻ cầm cân nảy mực thực thi pháp luật, nhưng lại "gương mẫu nhất" trong việc vi phạm pháp luật. b. Ban trưởng, ngày ngày đánh bạc, cảm trưởng ăn hối lộ tiền của phạm nhân một cách trắng trợn; huyện trưởng thì "chong đèn làm công việc" nhưng thực chất là "ngài đốt đèn hút thuốc phiện đấy. Đó là một sự thật trong các huyện đường Quảng Tây dưới thời Tưởng". Ý 2. Câu cuối cùng: Một kết luận, một đánh giá về tình trạng của bộ máy cai trị nhà tù. a. Người đọc chờ đợi một sựu lên án quyết liệt, hùng hồn. Nhưng Hồ Chí Minh đã không làm nhưu vậy, mà hạ một câu có vẻ dửng dưng, alnhj lùng "Trời đất Lai tân vẫn thái bình". Song đòn đả kích độc đáo, bất ngờ, thâm thúy, sâu cay chính là ở chỗ ấy. Thì ra tình trạng thối nát, vô trách nhiệm của bọn quan lại ở Lai Tân là chuyện bình thường, trở thành bản chất của bộ máy cai trị ở đây. b. Câu kết, nhất là chữ "thái bình" như ẩn giấu " một tiếng cười khẩy" đầy mỉa mai có ý nghĩa lật tẩy bản chất thối nát của cả bộ máy nhà nước ở Lai Tân. "Ở đâu đánh giặc thì cứ đánh, còn cái trời đấy Lai Tân này vẫn thái bình như muôn thủa (Hoàng Trung Thông). Kết luận: Hoàng Trung Thông còn viết tiếp "Một chứ" Thái bình" mà xâu táo lại bao nhiêu việc alfm trên vốn là muôn tủa của xã hội Trung Quốc của giai cấp bóc lột tống trị. Chỉ một chữ ấy mà xé toang tất cả sự "Thái bình" dối trá nhưng thực sự là "đại loạn bên trong". (Bác Hồ làm thơ và thơ của Bác)
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1413
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫ làm bài 1. Hoàn cảnh sáng tác Bài thơ lấy cảm hứng từ khung cảnh thiên nhiên miền sơn cước vào một buổi chiều trên đường chuyển lao của Bác. Trong tác phẩm "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chủ tịch", tác giả Trần Nhật Tiên có cho biết hoàn cảnh sáng tác bài thơ như sau: "Tay bị trói giật cánh khuỷu, cổ mang xiềng xích, có sáu người lích mang súng giải đi. Cụ HỒ Chí Minh đi mãi, đi mãi nhưng cũng không biết là đi đến đâu. Dầm mưa, dãi nắng, trèo núi, qua truông. Mỗi buổi sáng, gà gáy đầu, người ta lại giải cụ Hồ đi. Mỗi buổi chiều khi chim về tổ, người ta lại dừng lại trong một địa phương nào đó, giam Cụ vào trong xà lim trên một đống rạ bẩn, không cởi trói cho Cụ ngủ . . .". 2. Ý nghĩa của hoàn cảnh đó đối với việc hiểu nội dung bài thơ Phải gắn bài thơ với hoàn cảnh tù đày gian khổ như thế, chúng ta mới hiểu hơn ý nghĩa phogn phú của hinfharnh thơ: tuy là những hình ảnh mang màu sắc ước lệ tượng trưng của thơ cổ điển nhưng vẫn phù hợp với hoàn cảnh thực, tâm trạng thực của nhà thơ. Đây là cảnh chiều hôm nơi núi rừng tỉnh Quảng Tây. Tất cả đều gợi cho ta thấy một cái gì đó mệt mỏi cô đơn, buồn bã. Ấy thế mà bài thơ lại có sự chuyển đổi tình, cảnh, tư tưởng rất thú vị: từ tàn lụi đến sự sống, từ buồn đến vui (được thể hiện rõ nhất ở hình ảnh kết thúc bài thơ: ngọn lửa hồng bùng sáng trên bếp lửa của cô gái lao động. Thế mới biết mọi vui buồn, sướng khổ của Chủ Tịch Hồ Chí Minh đều bắt nguồn từ cảnh ngộ và số phận nhân dân. Đây là niềm vui thể hiện một tấm lòng nhân đạo lớn đã tới mức "Nâng niu tất cả chỉ quên mình".
|
|
|
|
giải đáp
|
Về lẽ ghét thương, Nguyễn Đình Chiểu tâm niệm:
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
1. Trinh bày ngắn gọn hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm (xem đề 4). Phân tích giá trị nội dung của tác phẩm. A. Đả kích Khải Định, hiện thân của chế độ phong kiến Nam Triều 1. Từ hình dáng đến phục sức của Khải Định đều rất kệch cỡm, nhố nhăng, lố bịch và kì quái. 2. Ăn chơi xa đọa, xấu xa, làm nhục quốc thể. 3. Dưới con mắt của người pháp, khải Định chỉ là một thằn ghề, con rối, một công cụ rẻ tiền trong bàn tay điều khiển của bọn thực dân Pháp. B. Tố cáo chính sách thuộc địa dã man, nham hiểm của bọn thực dân Pháp. 1. Đầu độc người bản sứ bằng thuốc phiện, rượu cồn. 2. Lên ánh chính sách tuyên truyền dối trá, bịp bợm: ra sức đi cướp nước mà lại rêu rao là khai hóa, bảo hộ. 3. Truy nã, vây bắt, truy lùng những người yêu nước Việt Nam trên đất Pháp, nghĩa là Nguyễn Ái Quốc đã lên án hành động vi phạm nhân quyền một cách trắng trợn của thực dân Pháp. C. Giá trị nghệ thuật tác phẩm "Vi hành" là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật viết truyện ngắn của Nguyễn Ái Quốc: giàu trí tuệ, rất hiện đại, đầy tính sáng tạo. Tất cả tạo nên nghệ thuật châm biếm đả kích mạnh mẽ, sắc sảo và độc đáo của ngòi bút Hồ Chí Minh. 1. Sự sáng tại và châm biếm đả kích trước hết được thể hiện ở cách đặt nhan đề cho tác phẩm. "Vi hành" vốn là một từ có nghĩa gốc tốt đẹp, nay Bác đã biến đổi sang nghĩa mới có tính chất châm biếm, đả kích sâu cay. Như vậy, nghĩa là Nguyễn Ái Quốc đã dùng chữ của hoàng đế để đánh và đầu của hoàng đế dùng gậy ông đập lưng ông. Ngòi bút của Bác quả là hóm hỉnh, hàm xúc và rất giàu trí tuệ. 2. Tạo được tình huống truyện độc đáo: tình huống "nhầm lẫn", Tạo tình huống này là biểu hiện của trí tuệ và sáng tạo, nhờ đó, tác giả đã đạt được hai hiệu quả: châm biếm sâu sắc và làm tăng thêm sức thuyết phục đối với người đọc. a. Giữ được thái độ khách quan: đây là dân chúng Pháp nhìn và đánh giá Khải Định. b. Đặt Khải Định trước con mắt của những thanh niên Pari đang háo hức được xem những trò lố bịch, mới lạ, khốn cho bô 3. Dùng hình thức viết thư a. Thư từ cho người thân là một thứ văn hét sức tự do, phóng túng, giúp cho tác giả đổi giọng thoải mái, chuyển cảnh linh hoạt, có thể liên hệ chuyện nọ xang chuyện kia, đối tượng này sang đối tượng khác. Cứ mỗi lần liên hệ, cái giá của Khải Định lại hạ thấp xuống một bậc. b. Lời viết thư được sử dụng một cách sáng tạo đã giúp chp tác giả đả kích một lúc nhiều đối tượng và đả kích từ nhiều phía, bằng nhiều giọng điệu khác nhau, đồng thời tạo nên tính hài hước có sức hấp dẫn đặc biệt đối với người đọc. Đúng là ngòi bút của Bác vừa trí tuệ vừa sâu sắc, vừa sáng tạo độc đáo và hiện đại mới mẻ (thư là thể loại văn học rất mới mẻ của Châu Âu . . ._, Tất cả đã làm nên một thiên chuyện vừa đa nghĩa, vừa đa thanh. 4. một biểu hiện nữa của tính trí tuệ, đầy sáng tạo có ý nghĩa châm biếm sâu sắc là Nguyễn Ái Quốc đã sử dụng một hệ thống ngôn ngữ rất giàu chất trào phúng: Ví dụ: "Các vị chẳng nề hà chút công sức nào để bảo vệ bọn tôi, và già các cô được trông thấy các vị ân cần theo dõi tôi chẳng khác bà mẹ hiền rình con thơ chập chững bước đi thứ nhất, thì hẳn cô phải phát ghen lên được vì nỗi âu yếm của các vị đối với tôi . . . Cô thử nghĩ, làm sao mà không xúc động sâu xa được, khi được đối đãi như thế?"
|
|