|
|
giải đáp
|
Soạn bài "Lẽ ghét thương"
|
|
|
|
Bài tham khảo:A. Khái quát chung 1.Vị trí đoạn trích.Nằm ở phần đầu của truyện, từ câu 473 đến câu 504 trong tổng số 2082 câu, kể lại cuộc đối thoại giữa ông Quán và 4 chàng nho sinh khi họ cùng uống rượu, làm thơ trong quán của ông Quán, trước lúc vào phòng thi. Lục Vân Tiên và Vương Tử Trực trên đường đến trường thi thì gặp Trịnh Hâm và Bùi Kiệm cũng đi thi.Tại cửa hàng của ông Quán đã diễn ra một cuộc thi tài thơ. Trịnh Hâm và Bùi Kiệm thua, nên rất tức tối, nghi Vân Tiên, Tử Trực lấy cắp thơ cổ. Chúng bị ông Quán chê cười, Trịnh Hâm bực bội buông lời xấc xược, lập tức ông Quán đáp lời ngay. Lời ông cương trực, thẳng thắn, bộc lộ thái độ thương ghét phân minh. 2.Ông QuánLà nhân vật phụ trong truyện, mang dáng dấp của một nhà nho đi ở ẩn. tính cách nóng nảy, bộc trực, ghét kẻ tiểu nhân ích kỉ, nhỏ nhen, giàu lòng yêu thương những con người bất hạnh. Ông Quán cùng với nhân vật ông Ngư, ông Tiều trong tác phẩm là những người lao động nghèo khổ, nhưng họ thực chất là những nho sĩ ở ẩn giữa cuộc đời đen bạc. Tính tình bộc trực thẳng thắn, yêu ghét phân minh. 3.Bố cục đoạn trích: 3 phần- 6 câu đầu: lời đối đáp giữa ông Quán với Tử Trực, Vân Tiên. - Từ câu 7 đến câu 16: Lẽ ghét - Từ câu 17 đến câu 30: lẽ thương. B. Đọc - hiểu1. Lẽ ghét của ông Quán.- Đối tượng ghét: + Việc tầm phào ( vu vơ ) + Đời Kiệt, Trụ: mê dâm, hoang dâm vô độ + Đời U, Lệ: đa đoan, lắm chuyện rắc rối. + Đời Ngũ bá, thúc quý: lộn xộn, chia lìa, đổ nát, chiến tranh liên miên. Vua Trụ lấy rượu chứa thành ao, lấy thịt treo thành rừng rồi cho bọn con trai, con gái thả sức ăn chơi, dâm dật, xem đó là thú vui) U Vương say đắm Bao Tự, để mua vui cho người đẹp có thể sai người xé mỗi ngày hàng trăm tấn lụa – vì Bao Tự thích nghe tiếng lụa xé. → Chính sự suy tàn, vua chúa say đắm tửu sắc, không chăm lo đến đời sống của dân. - Lí do ghét: + Kiệt, Trụ mê dâm, “Để dân đến nổi sa hầm sẩy hang” + U, Lệ đa đoan,“Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần” + Ngũ bá phân vân, “Chuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn” + Thúc quý phân băng, “Sớm đầu tối đánh lằng nhằn rối dân” Phê phán các triều đại suy tàn, cũng có thể xuất phát từ những lập trường khác nhau, hoặc là để bảo vệ trật tự xhpk, vua ra vua, tôi ra tôi, bảo vệ quyền lợi của gcpk, hoặc vì trách nhiệm của một tôi trung,…với NĐC thì không hẳn như vậy. Ở đoạn thơ này, mỗi cặp câu lục bát là mỗi tiếng “dân” được nhắc đến, tất cả những lời kết tội đều xoay quanh một ý: ở các thời đại đó, chỉ có dân là phải gánh chịu mọi tai ách, khổ sở trăm chiều… → Chỉ có dân là phải gánh chịu mọi tai ách, khổ sở trăm chiều. Tác giả đã đứng về phía nhân dân mà phẩm bình lịch sử. - Cường độ ghét: + Điệp từ ghét : 10 câu thơ nói về ghét thì có đến 8 từ “ghét”. Đặc biệt 2 câu “Quán rằng…tận tâm” có đến 4 từ + tăng cấp để diễn tả các màu sắc, mùi vị và độ sâu tăng dần của cái ghét. Từ cái ghét có vị cay, sang cái ghét có vị đắng, đến cái ghét có độ sâu của lòng người “ghét cay…tận tâm” + Cách dùng đại từ xưng hô.Khi nói tới 4 tên vua tàn ác trong lịch sử , nhà thơ không sử dụng đại từ xưng gọi mà chỉ nhắc tên một cách suồng sã: Kiệt, Trụ, U, Lệ. → ghét trở thành căm thù, lời nguyền đanh sắc, quyết liệt→ tính nhân dân sâu sắc của NĐC. Với nghệ thuật điệp từ + tăng cấp + cách gọi tên, cái ghét của ông Quán ăn tận trong sâu thẳm của lòng người, trở thành nỗi căm thù, lời nguyền đanh sắc, quyết liệt. “Ghét cay…tận tâm”→ tính nhân dân sâu sắc của NĐC. 2.Lẽ thương.Nếu như đoạn trên tác giả cho nhân vật nói lòng căm thù bọn người hại dân để nói lòng thương dân, thì ở đoạn này tác giả cho nhân vật trực tiếp bộc lộ lòng thương yêu đối với những người có tài cao chí cả, muốn cứu đời giúp dân mà gặp phải những rủi ro bất hạnh, nên nguyện vọng của họ không thực hiện được. - Đối tượng Thương: + Thương Khổng Tử lận đận gian lao trong việc truyền đạo Nho. + Thương Nhan Tử chết sớm dở dang. + Thương Gia Cát Lượng có tài mưu lược lớn giúp Lưu Bị mà sự nghiệp không thành. + Thương Đổng Trọng Thư có tài đức hơn người mà bị dồn vào thế bí. + Thương Nguyên Lượng (Đào Tiềm) khí tiết thanh cao mà lui về ở ẩn. + Thương Hàn Dũ có tài văn chương chỉ vì dâng biểu can vua mà bị đi đày… → Họ là những người có tài, đức và có chí muốn hành đạo giúp đời, giúp dân, nhưng đều không đạt sở nguyện. Bấy nhiêu con người ấy ít nhiều đều có những nét đồng cảnh với NĐC. Là một nhà nho, ông cũng từng nuôi chí hành đạo giúp đời, lập nên sự nghiệp công danh, nhưng cuộc đời dồn cho nhà thơ quá nhiều bất hạnh, thời buổi nhố nhăng, nên không thể đạt nguyện.Bởi thế, lẽ thương ở đây chính là niềm cảm thông sâu sắc tận đáy lòng nhà thơ Đồ Chiểu. Chuyện sách vở mà cũng là chuyện cuộc đời, NĐC đã vì cuộc đời, vì sự an bình của nhân dân mà thương, mà tiếc cho những người hiền tài không gặp thời vận để đến nỗi phải “đành phôi pha”. - Cường độ thương: Thương yêu tha thiết, đầy tính chất bác ái và nhân bản ( thể hiện qua việc dùng điệp từ “thương” 9 từ trong đoạn còn lại) => Niềm cảm thông sâu sắc tận đáy lòng nhà thơ Đồ Chiểu. => Vậy, lẽ ghét thương của NĐC xuất phát từ tình cảm yêu thương nhân dân, mong muốn nhân dân được sống yên bình, hạnh phúc, những người tài đức có điều kiện thực hiện chí nguyện bình sinh. 3. Nghệ thuậtĐoạn thơ mang tính chất triết lí đạo đức, nhưng không hề khô khan, cứng nhắc mà dạt dào cảm xúc. Cảm xúc đó xuất phát từ cõi tâm trong sáng, cao cả của nhà thơ. Lời lẽ có khi mộc mạc đến thô sơ, đi thẳng vào trái tim người đọc, người nghe. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Đọc - hiểu "Lẽ ghét thương"
|
|
|
|
Bài tham khảo: 1. Vị trí đoạn trích Nằm ở phần đầu của truyện, từ câu 473 đến câu 504 trong tổng số 2082 câu, kể lại cuộc đối thoại giữa ông Quán và 4 chàng nho sinh khi họ cùng uống rượu, làm thơ trong quán của ông Quán, trước lúc vào phòng thi. Lục Vân Tiên và Vương Tử Trực trên đường đến trường thi thì gặp Trịnh Hâm và Bùi Kiệm cũng đi thi. Tại cửa hàng của ông Quán đã diễn ra một cuộc thi tài thơ. Trịnh Hâm và Bùi Kiệm thua, nên rất tức tối, nghi Vân Tiên, Tử Trực lấy cắp thơ cổ. Chúng bị ông Quán chê cười, Trịnh Hâm bực bội buông lời xấc xược, lập tức ông Quán đáp lời ngay. Lời ông cương trực, thẳng thắn, bộc lộ thái độ thương ghét phân minh. 2. Văn bảnQuán rằng: "Kinh sử(1) đã từng, Coi rồi lại khiến lòng hằng(2) xót xa. Hỏi thời ta phải nói ra, Vì chưng hay ghét cũng là hay thương" Tiên rằng: "Trong đục chưa tường, Chẳng hay thương ghét, ghét thương lẽ nào?" Quán rằng: "Ghét việc tầm phào(3), Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tới tâm. Ghét đời Kiệt, Trụ(4) mê dâm, Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang. Ghét đời U, Lệ đa đoan(5), Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần. Ghét đời Ngũ bá phân vân(6), Chuộng bể dối trá làm dân nhọc nhằn. Ghét đời thúc quí phân băng(7), Sớm đầu tối đánh lằng nhằng rối dân. Thương là thương đức thánh nhân(8), Khi nơi Tống, Vệ lúc Trần, lúc Khuông(9). Thương thầy Nhan Tử(10) dở dang. Ba mươi mốt tuổi tách đàng công danh. Thương ông Gia Cát(11) tài lành, Gặp cơn Hán mạt(12) đã đành phui pha(13). Thương thầy Đồng tử(14) cao xa, Chí thời có chí, ngôi mà không ngôi. Thương người Nguyên Lượng(15) ngùi ngùi, Lỡ bề giúp nước lại lui về cày. Thương ông Hàn Dũ(16) chẳng may, Sớm dâng lời biểu, tối đày đi xa. Thương thầy Liêm, Lạc(17) đã ra, Bị lời xua đuổi về nhà giáo dân(18). Xem qua kinh sử mấy lần, Nửa phần lại ghét, nửa phần lại thương".
3. Chú thích(1) Kinh sử: Chỉ chung các loại kinh truyện và sách sử học thời xưa phải học để đi thi. (2) Hằng: thường (3) Tầm phào: vu vơ, hão huyền, không có ya nghĩa gì. (4) Kiệt, Trụ: vua Kiệt nhà Hạ, vua Trụ nhà Thương – hai ông vua bạo ngược, vô đạo trong lịch sử Trung Quốc. (5) U, Lệ:U Vương và Lệ Vương – hai ông vua khét tiếng tàn bạo, hoang dâm đời nhà Chu. Đa đoan: nhiều mối, lăm chuyện rắc rối. (6) Ngũ bá: cuối đời nhà Chu, nǎm vua chư hầu kế tiếp nhau nổi lên làm chủ một thời, nhân dân phải lầm than điêu đứng. Phân vân: lộn xộn bối rối như cảnh loạn. (7) Thúc quý: đời suy loạn sắp bị diệt vong. Phân bǎng: chia lìa. (8) Đầu: đầu hàng. (9)Thánh nhân: chỉ Khổng Tử, người nước Lỗ, tên Khâu, tự Trọng Ni, ông tổ của Nho Giáo, nền tẳng tinh thần của xã hội phong kiến xưa. (10) Tống, Vệ, Trần, Khuông: Tên các nước chư hầu và các miền đất thời Xuân thu mà KT đã tới để truyền đạo. (11) Nhan Tử: Nhan hồi, tự Tử Uyên, người nước Lỗ, học trò đức hạnh nhất của Khổng Tử, rất hiếu học nhưng chết sớm. (12) Gia Cát: tức Gia Cát Lượng, tự Khổng Minh, sống ở thời Tam quốc, làm quân sư cho Lưu Bị, mong khôi phục cơ ngơi nhà Hán nhưng không gặp thời vận. Cho đến lúc ông mất (54 tuổi) chí nguyện vẫn chưa thành. (13) Hán mạt: cuối đời nhà Hán, lúc xảy ra cục diện Tam quốc: N-T-N phân tranh. (14) Phui pha: uổng phí. (15) Đổng Tử: tức Đổng Trọng Thư, danh nho đời Hán. (16) Nguyên Lượng: tức Đào Tiềm đời Tấn, tính tình cao thượng, không cầu danh lợi, giỏi thơ văn. (17) Hàn Dũ: đời Đường, tinh thông lục kinh, bách gia chư tử, đỗ tiến sĩ làm quan ở triều. Vua mê tín đạo Phật, rước xương Phật vào cung, ông dâng sớ cực lực ngăn cản. Vì thế ông bị đổi ra làm quan ở đất Triều Châu. (18) Liêm, Lạc: chỉ Chu Đôn Di ở Liêm Khê và hai anh em họ Trình ở Lạc Dương. Cả ba đều là những nhà triết học đời Tống, có ra làm quan nhưng không được đắc dụng, lại trở về dạy học. (19) Giáo dân: dạy dân. 4. Bố cục- 6 câu đầu: lời đối đáp giữa ông Quán với Tử Trực, Vân Tiên. - Từ câu 7 đến câu 16: Lẽ ghét - Từ câu 17 đến câu 30: lẽ thương. 5. Ông quánLà nhân vật phụ trong truyện, mang dáng dấp của một nhà nho đi ở ẩn. tính cách nóng nảy, bộc trực, ghét kẻ tiểu nhân ích kỉ, nhỏ nhen, giàu lòng yêu thương những con người bất hạnh. Ông Quán cùng với nhân vật ông Ngư, ông Tiều trong tác phẩm là những người lao động nghèo khổ, nhưng họ thực chất là những nho sĩ ở ẩn giữa cuộc đời đen bạc. Tính tình bộc trực thẳng thắn, yêu ghét phân minh. 6. Phân tích a. Lẽ ghét
- Đối tượng: + Việc tầm phào ( vu vơ ) + Đời Kiệt, Trụ: mê dâm, hoang dâm vô độ + Đời U, Lệ: đa đoan, lắm chuyện rắc rối. + Đời Ngũ bá, thúc quý: lộn xộn, chia lìa, đổ nát, chiến tranh liên miên. Vua Trụ lấy rượu chứa thành ao, lấy thịt treo thành rừng rồi cho bọn con trai, con gái thả sức ăn chơi, dâm dật, xem đó là thú vui). U Vương say đắm Bao Tự, để mua vui cho người đẹp có thể sai người xé mỗi ngày hàng trăm tấn lụa – vì Bao Tự thích nghe tiếng lụa xé. → Chính sự suy tàn, vua chúa say đắm tửu sắc, không chăm lo đến đời sống của dân. - Lí do: + Kiệt, Trụ mê dâm, “Để dân đến nổi sa hầm sẩy hang” + U, Lệ đa đoan, “Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần” + Ngũ bá phân vân, “Chuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn” + Thúc quý phân băng, “Sớm đầu tối đánh lằng nhằn rối dân” . Phê phán các triều đại suy tàn, cũng có thể xuất phát từ những lập trường khác nhau, hoặc là để bảo vệ trật tự xã hội phong kiến, vua ra vua, tôi ra tôi, bảo vệ quyền lợi của giai cấp phong kiến, hoặc vì trách nhiệm của một tôi trung,…với NĐC thì không hẳn như vậy. Ở đoạn thơ này, mỗi cặp câu lục bát là mỗi tiếng “dân” được nhắc đến, tất cả những lời kết tội đều xoay quanh một ý: ở các thời đại đó, chỉ có dân là phải gánh chịu mọi tai ách, khổ sở trăm chiều… → Chỉ có dân là phải gánh chịu mọi tai ách, khổ sở trăm chiều. Tác giả đã đứng về phía nhân dân mà phẩm bình lịch sử. - Cường độ: + Điệp từ ghét : 10 câu thơ nói về ghét thì có đến 8 từ “ghét”. Đặc biệt 2 câu “Quán rằng…tận tâm” có đến 4 từ + tăng cấp để diễn tả các màu sắc, mùi vị và độ sâu tăng dần của cái ghét. Từ cái ghét có vị cay, sang cái ghét có vị đắng, đến cái ghét có độ sâu của lòng người “ghét cay…tận tâm” + Cách dùng đại từ xưng hô.Khi nói tới 4 tên vua tàn ác trong lịch sử , nhà thơ không sử dụng đại từ xưng gọi mà chỉ nhắc tên một cách suồng sã: Kiệt, Trụ, U, Lệ. → ghét trở thành căm thù, lời nguyền đanh sắc, quyết liệt→ tính nhân dân sâu sắc của Nguyễn Đình Chiểu. Với nghệ thuật điệp từ + tăng cấp + cách gọi tên, cái ghét của ông Quán ăn tận trong sâu thẳm của lòng người, trở thành nỗi căm thù, lời nguyền đanh sắc, quyết liệt. “Ghét cay…tận tâm” → tính nhân dân sâu sắc của Nguyễn Đình Chiểu. b. Lẽ thươngNếu như đoạn trên tác giả cho nhân vật nói lòng căm thù bọn người hại dân để nói lòng thương dân, thì ở đoạn này tác giả cho nhân vật trực tiếp bộc lộ lòng thương yêu đối với những người có tài cao chí cả, muốn cứu đời giúp dân mà gặp phải những rủi ro bất hạnh, nên nguyện vọng của họ không thực hiện được. - Đối tượng: + Thương Khổng Tử lận đận gian lao trong việc truyền đạo Nho. + Thương Nhan Tử chết sớm dở dang. + Thương Gia Cát Lượng có tài mưu lược lớn giúp Lưu Bị mà sự nghiệp không thành. + Thương Đổng Trọng Thư có tài đức hơn người mà bị dồn vào thế bí. + Thương Nguyên Lượng (Đào Tiềm) khí tiết thanh cao mà lui về ở ẩn. + Thương Hàn Dũ có tài văn chương chỉ vì dâng biểu can vua mà bị đi đày… → Họ là những người có tài, đức và có chí muốn hành đạo giúp đời, giúp dân, nhưng đều không đạt sở nguyện. Bấy nhiêu con người ấy ít nhiều đều có những nét đồng cảnh với Nguyễn Đình Chiểu. Là một nhà nho, ông cũng từng nuôi chí hành đạo giúp đời, lập nên sự nghiệp công danh, nhưng cuộc đời dồn cho nhà thơ quá nhiều bất hạnh, thời buổi nhố nhăng, nên không thể đạt nguyện.Bởi thế, lẽ thương ở đây chính là niềm cảm thông sâu sắc tận đáy lòng nhà thơ Đồ Chiểu. Chuyện sách vở mà cũng là chuyện cuộc đời, Nguyễn Đình Chiểu đã vì cuộc đời, vì sự an bình của nhân dân mà thương, mà tiếc cho những người hiền tài không gặp thời vận để đến nỗi phải “đành phôi pha”. - Cường độ: Thương yêu tha thiết, đầy tính chất bác ái và nhân bản ( thể hiện qua việc dùng điệp từ “thương” 9 từ trong đoạn còn lại) => Niềm cảm thông sâu sắc tận đáy lòng nhà thơ Đồ Chiểu. => Vậy, lẽ ghét thương của Nguyễn Đình Chiểu xuất phát từ tình cảm yêu thương nhân dân, mong muốn nhân dân được sống yên bình, hạnh phúc, những người tài đức có điều kiện thực hiện chí nguyện bình sinh. 7. Nghệ thuật- Sử dụng điệp từ “ ghét, thương ” : Tăng sức mạnh của việc thể hiện cảm xúc. Tình cảm mãnh liệt và sâu sắc của con người tác giả. Thể hiện sự ngay thẳng, phân minh rạch ròi. - Đoạn thơ mang tính chất triết lí đạo đức, nhưng không hề khô khan, cứng nhắc mà dạt dào cảm xúc. Cảm xúc đó xuất phát từ cõi tâm trong sáng, cao cả của nhà thơ. Lời lẽ có khi mộc mạc đến thô sơ, đi thẳng vào trái tim người đọc, người nghe. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Phân tích "Lẽ ghét thương"
|
|
|
|
Bài tham khảo:Lẽ ghét thương là những lời thơ tâm huyết về nỗi ghét tình thương nhân bản của Nguyễn Đình Chiểu. Và trong tình huống này, nhân vật ông Quán trở thành cái loa phát ngôn cho chính tác giả. Những tình cảm yêu, ghét rạch ròi của ông Quán nói ra ngay sau khi chúng biến cảnh Lục Vân Tiên, Vương Tử Trực, Bùi Kiệm và Trịnh Hâm cùng thi tài xướng hoạ tại quán ăn của mình. Đoạn trích có 26 câu thơ thì có tới 16 câu thơ nói về tình thương. Như vậy số câu thơ về tình thương yêu con người đã quá nửa. Bản thân Nguyễn Đình Chiểu cũng đã từng nói Bởi chưng hay ghét cũng là hay thương. Quả thực khi suy ngẫm kĩ những câu thơ này, ta sẽ thấy gốc rễ, nguyên nhân sâu xa của nỗi ghét chính là tình thương dân sâu sắc. Tình thương chính là điểm tựa, là động lực tinh thần để nhà thơ lên tiếng phê phán những bọn xấu xa, những kẻ độc ác. Sở dĩ ông Quán ghét cay ghét đắng những chuyện tầm phào, những cái đa đoan, những cái dối trá, những trò mê dâm là vì chúng làm rối dân, làm dân luống chịu lầm than muôn phần. Mỗi lần nhắc đến một đối tượng đáng ghét, đáng lên án ấy sẽ là một lần tác giả thêm một câu bình luận về tội ác của chúng gây cho dân lành: Ghét đời Kiệt, Trụ mê dâm Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hoang Ghét đời U, Lệ đa đoan Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần…
Và trong 10 câu thơ nói về lẽ ghét thì có tới bốn câu thơ nói về cung bậc, mức độ khác nhau trong nỗi khổ mà dân lành phải gánh chịu: - Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hoang. - Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần. - Chuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn. - Sớm đầu tối đánh lằng nhằng dối dân.
Nếu như những câu thơ nói về lẽ ghét thương thể hiện nỗi kinh bỉ, tức giận thì đến những câu thơ này giọng thơ đột ngột chậm thể hiện sự thông cảm, chia sẻ của nhà thơ đối với nhân dân. Để giãi bày những lời tâm huyết về nỗi ghét này được sâu đậm, Nguyễn Đình Chiểu đã sử dụng nghệ thuật điệp từ. Chỉ có 10 câu thơ đầu tác giả đã sử dụng tới 8 từ ghét. Riêng câu thơthứ hai đã có tới 3 từ: Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm. Cay , đắng là những từ dùng để chỉ mùi vị, ở đây cay, đắng không phải dùng như một sự lạ hoá ngôn từ, mà nó dùng để diễn tả độ sâu tăng dần của cái ghét. Sự kết hợp của các điệp từ ghét với sự tăng cấp về mức độ, nhà thơ đã hé mở cho độc giả biết cái ghét, đối tượng bị ông Quán ghét không chỉ thuộc phạm vi một thời đại nào mà nó có trong mọi thời đại. Vì thế nỗi ghét ở đây là đổi gam, đổi chất, không chỉ dừng ở thái độ bên ngoài, mà nó đã ăn sâu vào máu, vào huyết quản, ghét vào tận tâm của ông. Cái gọi là ghé của ông Quán thực chất là lòng chăm thù. Ông căm thù tất cả những bọn làm ảnh hưởng, làm tổn hại đến cuộc sống hạnh phúc của nhân dân. Điều này thể hiện tính nhân dân sâu sắc của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu. Đối lập với nỗi ghét, lòng căm thù là tình thương. Ông Quán đã tự bạch về tình thương của mình trong mười sáu câu thơ. Chỉ mười sáu câu thơ nhưng nó làm hiển hiện cả cõi lòng của một con người, thể hiện một cách sâu sắc sự cảm thông, xót xa của ông Quán đối với những bậc hiền nhân quân tử, kiểu mẫu của đạo Nho, muốn hành đạo giúp vua, cứu dân nhưng không thành. Người được nhắc đến đầu tiên trong đoạn thơ nói về tình thương là Khổng Tử - người đã gặp rất nhiều gian lao vất vả khi truyền đạo: Thương là thương đức thánh nhân Khi nơi Tống, Vệ, lúc Trần, lúc Khuông.
Ông thương đến cả người chết yểu mà công danh chưa đạt: Thương thầy Nhan Tử dở dang Ba mươi mốt tuổi tách đàng công danh
Ông lại thương cả những người không gặp vận may, những ông quan thanh liêm không gặp thời… Thương ông Gia Cát tài lành Gặp cơn Hán mạt đã đành phôi pha… …Thương thầy Liêm, Lạc đã xa Bị lời xua đuổi về nhà giáo dân.
Nếu như ở mười câu đầu Nguyễn Đình Chiểu để cho nhân vật nói lên lòng căm thù bọn người hại dân để nói lên lòng thương dân, thì ở đoạn sau tác giả lại cho nhân vật bộc lộ trực tiếp lòng thương đối với những người có tài cao chí lớn, muốn phò vua giúp đời mà gặp phải bất hạnh nên nguyện vọng cứu dân không thực hiện được. Và để thể hiện tình cảm thương yêu đầy tình nhân bản đó, nhà thơ đã điệp đi điệp lại từ thương tới chín lần. Nó không chỉ thể hiện được tình thương yêu tha thiết ông dành cho từng đối tượng cụ thể mà còn bộc lộ một tình cảm, tình thương bao la rộng lớn dành cho số phận cay đắng của con người trước những quy luật khắc nghiệp của tạo hoá và xã hội. Trích đoạn Lẽ ghét thương tuy không dài nhưng được tác giả tổ chức sắp xếp khá chặt chẽ, mạch lạc. Sự kết hợp giữa việc sử dụng điệp từ ghét, thương với nghệ thuật bố cục chặt chẽ không chỉ tạo được sự rõ ràng trong ý thơ mà còn tạo cho đoạn thơ có giọng điệu vừa trang nghiêm vừa thống thiết - một nét đặc trưng của điệu thơ trữ tình Nguyễn Đình Chiểu. Như vậy thông qua nhân vật ông Quán, Nguyễn Đình Chiểu đã gửi gắm những lời tâm huyết về nỗi ghét thương. Nó không chỉ thể hiện một tâm hồn giàu tình yêu thương mà còn thể hiện một tinh thần nhân bản sâu sắc. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Người trong bao.
|
|
|
|
Thầy viết hơi dài, em tham khảo và chỉnh sửa nhé! Chúc em làm bài tốt!
Sê – Khốp là nhà văn Nga – bậc thầy về truyện ngắn của thế giới. Hầu hết những tác phẩm của ông đều thâm trầm, kín đáo, ý tứ sâu sắc, chủ đề tư tưởng thường được gửi gắm vào hình tượng nhân vật. Trong truyện ngắn “Người trong bao”, qua việc khắc họa chân dung nhân vật Bê – li – cốp, nhà văn muốn khắc họa chủ đề người trí thức Nga với lối sống “mê – si – an” ở Nga – lối sống tầm thường, hủ lậu, hèn nhát, cá nhân, ích kỉ, máy móc và giáo điều, đê tiện và dung tục, lối sống “trong bao”. Bê-li-cốp xuất hiện qua lời kể như là một điển hình cho loại người trong bao, loại người luôn tự tìm cho mình một cách thức bao gói để tự co mình lại vì sợ cuộc sống đang diến ra ồn ã xung quanh. Y sợ và “ghê tởm” hiện tại cho nên hướng về quá khứ, “luôn ngợi ca những gì không có thật”. Nghề nghiệp của y là dạy tiếng Hi Lạp cổ, thứ tiếng này cũng là một hình thức bao gói, giúp y ẩn sâu hơn vào quá khứ mà trách đi cái hiện thực đang diễn ra. Chạy trốn hiện tại cũng có nghĩa là từ chối tương lai, từ chối cái sẽ đến hoặc sẽ phải đến. Tìm về quá khứ, kể cả quá khứ không có thật, chính là sự vô trách nhiệm với bản thân, với cuộc đời. Chui vào bao, tự tìm cho mình những cái bao để che chở đã trở thành lối sống của Bê-li-cốp, trở thành “thói quen kì cục” của nhân vật này. Lối sống đó trở thành nỗi ám ảnh triền miên đối với mọi người, vì chẳng ai biết là y muốn gì, cần gì và lại càng không biết phải nói với y thế nào. Lối sống đó đã đâu độc tâm hồn con người, đầu độc cuộc sống. Nó gây ảnh hưởng nặng nề, lâu dài, dai dẳng trong xã hội Nga nhưng năm cuối thế kỉ XIX, đầu thế Kỉ XX. “Người trong bao” là câu chuyện ở xã hội Nga cách đây mấy thập kỉ nhưng nó không hề xa lạ với độc giả Việt Nam và đặc biệt nó vẫn còn mang tính thời sự. Kiểu người như Bê – li – cốp và có nét giống với Bê – li – cốp không thiếu gì trong xã hội chúng ta ngày nay. Đó chính là những người sống chỉ biết răm rắp phục tùng, rập khuôn, cứng nhắc mà không hề biết phân biệt đúng sai, thật giả. Đó là những người sống khép kín, cá nhân ích kỷ, chỉ biết đến lợi ích của mình, bàng quan vô cảm đối với cuộc sống chung quanh... Phải chăng do mặt trái của cơ chế thị trường và sự suy thoái về đạo đức xã hội, đề cao quá mức những giá trị vật chất đã biến họ thành những người như vậy. Trách nhiệm của chúng ta là phải đấu tranh loại bỏ những thái độ, hành vi sống xấu xa, lạc hậu ấy, để xây dựng một xã hội Việt Nam ngày một tốt đẹp hơn.
|
|
|
|
giải đáp
|
NLXH: "Quan niệm sống" (Cam ơn cả nhà!)
|
|
|
|
Tham khảo em nhé! Dàn Ý 1. Mở bài - Có rất nhiều quan niệm sống, mà nó đều có ảnh hưởng đến cuộc sống của mỗi người. -> Biết có một quan niệm sống đúng đắn. -
Quan niệm sống tốt là sự hài hòa, cân bằng giữa tiền bạc, danh vọng với
các mối quan hệ và giá trị con người. Sống hết mình, làm việc hết mình.
2. Thân bài - Đối với quan niệm có tiền ắt có hạnh phúc : + Đúng là nó mang lại niềm vui, sự thoải mái, tạo ra lợi thế. + Nhưng nếu chỉ vì tiền không thì sẽ làm mất đi giá trị con người và ý nghĩa cuộc sống. (Dẫn chứng hai câu chuyện về một người chỉ sống vì tiền và một người sống có tình cảm mà không phụ thuộc quá nhiều vào tiền). - Đối với quan niệm danh vọng là sướng. +
Điều đó cũng không sai nhưng chỉ mãi đuổi theo danh vọng mà quên đi
nhiều thứ ý nghĩa trong cuộc sống thì họ đánh mất đi những gì quan trọng
nhất mà khi đánh mất rồi mới nhận ra thì quá muộn. - Một quan niệm sống nữa, đó là sống đơn giản. + Định nghĩa về sống đơn giản. Sống hài hòa với thiên nhiên, với tình cảm con người. Nhưng đặc trưng của lối sống này là "nhàn nhã" tạo nên sự "lười biếng" không thích hợp trong xu hướng hiện nay. -
Ý nghĩa cuộc sống không phụ thuộc vào thời gian sống mà phụ thuộc vào
chất lượng sống và giá trị xã hội mà trong đó con người lao động tự
giác, sáng tạo và tự do, cống hiến cho xã hội và hưởng thụ sản phẩm do
mình làm ra. -> Cho nên sống, làm việc hết mình, cống hiến hết mình.
3. Kết luận -
Quan niệm sống của mỗi người khác nhau nhưng hãy biết lựa chọn cách
sống cho chính mình để tự phát triển bản thân, xã hội đi lên theo con
đường tốt đẹp hơn.
|
|
|
|
giải đáp
|
Giúp mình so sánh: "Ai đã đặt tên cho dòng sông" và "Người lái đò sông Đà"
|
|
|
|
Tham khaỏ và bổ sung em nhé!
Gợi ý:
a.Giống nhau: - Cùng viết tùy bút về một dòng sông. - Huy động nhiều vốn kiến thức địa lí, lịch sử, văn hóa,.. - Thể hiện rõ rệt “cái tôi” tài hoa, độc đáo. b. Khác nhau: * Nguyễn Tuân với sông Đà - Khai thác hai mặt hung bạo và trữ tình của dòng sông. - Qua dòng sông, ca ngợi con người lao động, chất vàng mười của vùng Tây Bắc. - Sử dụng các kiến thức của điện ảnh, hội họa, quân sự, thủy điện, .. * Hoàng Phủ Ngọc Tường với sông Hương - Khai thác các vẻ đẹp khác nhau của dòng sông. - Ca ngơi dòng sông, ca ngơi Huế, ca ngợi quê hương đất nước. - Khai thác chiều sâu lịch sử và văn hóa.
|
|
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Quan niệm văn học của Cao Bá Quát
|
|
|
|
Cao Bá Quát là nhà thơ lỗi lạc thời trung đại, chẳng những sáng tác hết sức dồi dào mà quan niệm về văn học cũng có nhiều điều mới mẻ so với thời đại của ông. Trong điều kiện tư liệu còn hạn chế, tập 2 Toàn tập Cao Bá Quát chưa xuất bản, chúng tôi xin đưa ra đôi điều nhận xét sơ bộ. Trước hết là quan niệm của ông về mối quan hệ giữa văn chương và quốc ngữ. Quốc ngữ là tiếng nói của dân tộc, còn văn chương là ngôn từ nghệ thuật, văn học, hai phạm vi khác nhau. Nói về quốc ngữ, quan điểm của Cao Bá Quát thực rõ ràng. Ông viết: “Sống ở đất này, có thể bỏ được tiếng quốc ngữ không? Không bỏ được. Đọc sách quốc ngữ, có thể bỏ được truyện Hoa tiên và Kim Vân Kiều không? Không bỏ được. Ôi, người xưa đã đem tâm chí đúc chuốt thành lời hay ý đẹp, cốt để chắp lòng nối cánh cho văn chương của ta, mà lại coi thường được sao?”(1). Sưu tầm Quốc ngữ không thể bỏ. Quốc ngữ lại được trau chuốt làm nền tảng cho văn chương nước nhà như Hoa tiên, Kim Vân Kiều là điều không thể phủ nhận, không ai phủ nhận. Vậy có thể lấy quốc ngữ làm văn chương được không? Câu trả lời tưởng đã có từ thời Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm rồi, ai ngờ bây giờ lại được đặt ra lại. Quan điểm của Cao Bá Quát hình như còn có chỗ chưa dứt khoát. Một mặt ông thận trọng suy nghĩ: “Than ôi, lấy quốc ngữ làm văn chương thì ta chưa dám, nhưng lấy văn chương mà coi quốc ngữ thì ta có phần tán thành.” Ông chưa dám lấy quốc ngữ làm văn chương, Nhưng mặt khác ông đã thấy quá trình văn Nôm phát triển: “Nước ta từ sau Hàn Thuyên, các tác gia mọc lên như rừng: Ôn Như Hầu làm thơ cổ khuôn mẫu ngang với Thiếu Lăng; Bằng quận công(2) đặt điệu cung từ, giong ruỗi không nhường Hán Nguỵ; đến như văn hay của truyện khúc nay ta đã được thấy Hoa Tiên và Kim Vân Kiều. Như vậy chỉ coi quốc ngữ là quốc ngữ thì hai cuốn truyện này không có cũng được, nhưng nếu phải cần tiến lên, tìm cách làm cho rõ thế nào là văn chương của ta, thì các bạn cùng yêu văn với ta nghĩ sao đây?” thì có vẻ như ông còn lưỡng lự. Thế nghĩa là lấy văn chương mà đánh giá quốc ngữ thì ông có phần tán thành, bởi vì đã có Hoa Tiên và Kim Vân Kiều làm chứng. Nhưng lấy quốc ngữ làm văn chương thì ông vẫn hoài nghi. Vì sao lại chưa dám? Rõ ràng không phải quốc ngữ chưa đủ phẩm chất để làm văn chương. Lí do có lẽ là vì lúc này quốc ngữ chưa có những áng văn xuôi có thể sánh ngang với Hán văn. Xét về mặt này thì sự ngập ngừng của họ Cao có thể hiểu được, bởi vì phải đến đầu thế kỉ XX chúng ta mới có văn xuôi quốc ngữ dưới dạng quốc văn mới. Khi quốc ngữ chỉ mới có văn vần mà chưa có văn xuôi thì nó chưa thể làm được văn chương hoàn bị. Dù sao một sự ngập ngừng đã làm cho ở thế kỉ của Cao Bá Quát, một khẩu hiệu dùng quốc ngữ để sáng tác văn chương là chưa thể đề xuất ra được, phải đợi đến đầu thế kỉ XX. Cũng có thể vì thời nhà Nguyễn quá đề cao chữ Hán, độc tôn nho học. Phải chăng văn chương đây còn có nghĩa là văn bản dùng trong hệ thống nhà nước, trong thi cử, cho nên theo tác giả vẫn nên dùng chữ Hán tốt hơn. Thực tế thơ văn của ông cũng cho thấy, tuy sáng tác chữ Nôm rất hay, nhưng hầu hết sáng tác của Cao Bá Quát, bao gồm hàng nghìn bài đều làm bằng chữ Hán. Ông vẫn coi trọng chữ Hán hơn chữ Nôm. Quan niệm ấy đã hạn chế sáng tác chữ Nôm của ông, một nhà thơ tài hoa, không thể không lấy làm tiếc cho văn học nước nhà. Nhìn chung quan niệm văn chương của Cao Bá Quát về cơ bản là quan niệm văn học nho gia. Trong bài Đọc Kinh Thi ông tâm niệm: “Làm thơ Tang hổ để nghĩ đến người thiện, Hát chương Thấp linh vì nhớ đến người hiền. Ngìn năm sau, ai đã nối được âm điệu, Lòng những muốn trông làm khuôn mẫu”... Nhưng ông là người yêu tự do: “Chiếc nón nghênh ngang lẫn với đời, “Giang ngoại xuân” dạo hát thảnh thơi - Chịu sao nổi mái nhà thấp khúm núm cúi ngửa theo ý người”... Vì thế về nội dung văn học, Cao Bá Quát đã có quan niệm cởi mở. Ông phản đối những kẻ “khinh bạc”, xem Hoa Tiên là “lối văn dâm đãng, khúc hát lẳng lơ”, “thực đáng buồn cười”. Ông coi trọng chữ tình trong văn chương: “Xưa nay nỗi khổ của người ta không gì bằng chữ tình”, trong truyện Hoa Tiên “chữ tình được thể hiện sâu sắc, đến như tan hợp, buồn vui, vị trí cảnh ngộ thực éo le kì lạ, lời nói thì bi tráng, văn viết thì trầm hùng, những cái đó khác nào như bụi bặm, cám bã mà đem hun đúc thành gạch ngói, giúp đỡ các tác giả, khiến cho sau này truyện Kim Vân Kiều có thể xuất hiện”(3). Ở đây không thể không đánh giá cao quan điểm tiến bộ và quan điểm lịch sử của Cao Bá Quát. Điểm nổi bật nhất là Cao Bá Quát phê bình thơ đương thời thiếu cá tính sáng tạo, ý thức tự chủ còn thấp. Trong bài Tựa viết cho tập thơ của Miên Thẩm, ông viết: “Tôi nghĩ, thơ thật khó nói. Quốc công cũng biết rồi. Hiện nay cái học khoa cử in sâu vào người ta đã mấy trăm năm, tiếng vang của phong nhã hầu như đã tắt hẳn. Quốc triều ta trị giáo sáng sủa, các tác gia lại nối gót mà ra đời. Nhưng vì cái thói uỷ mị, yếu ớt còn rơi rớt lại, ít có người tự thoát ra được: người kém thì khổ vì nỗi làm theo mẫu, dễ dãi; người có hào khí thì mắc vào bệnh nuốt sống, bắt tươi. Có những người sức học gọi là dồi dào, hí hửng tự đắc, thì chỉ muốn vơ vét trăm nhà, thâu tóm mọi thể, thành ra mô phỏng quá nhiều mà phong cốt chưa cao, tô điểm có khéo, nhưng tinh thần còn thấp”(4). Trong bài thơ Văn tất kỉ xuất (Văn phải tự mình làm ra), ông càng phê bình gay gắt hơn khuyết điểm ấy và khẳng định mạnh mẽ tinh thần tự sáng tạo. Bài thơ viết: Đâu cần tài chạm khắc - Làm văn tế cá sông - Tu từ lòng thành thật - Màu sắc phải siêu quần - Đạo văn là cặn bả - Ý mới trong điển phần - Lời cũ diệt như cỏ - Tứ lạ vút từng không - Theo mẫu tự bôi bẩn - Tiền cũ chẳng ai cần - Lời thật nên tác giả - Ngòi bút quét nghìn quân - Tự đắc khác đồng đắc - Lời viết theo người khác - Chỉ đáng cúng quỷ thần - Dám gửi trọn ước mong(5). Ông đả kích mạnh mẽ: kẻ đạo văn chỉ là loại cặn bả; kẻ làm theo mẫu chỉ là tự bôi bẩn mình, văn ấy như đồng tiền cũ không ai dùng; lời cũ phải dẫy bỏ đi như cỏ, không đáng tiếc, có thế cái mới lạ mới có dịp được khẳng định; nói theo người khác răm rắp thì chỉ dùng làm đồ cúng. Chẳng phải lời cúng thì muôn người gần như nói giống nhau đó sao? Trong thời trung đại ý thức tác giả chưa cao, làm văn thơ thường hay vay mượn, sao chép, có ý tưởng như Cao Bá Quát thật là một tư tưởng mới mẻ, hiếm có, và cũng chưa có ai lên án tệ sao chép, dạo văn, ít sáng tạo mạnh mẽ như Cao Bá Quát. Ông chủ trương làm văn lòng phải thành thật, nảy sinh tự lòng mình. Tư tưởng này mới nhìn thì không mới, bởi từ xưa trong Kinh Dịch trong quẻ càn đã có câu: “Tu từ lập kì thành”. Nghĩa là lựa chọn từ ngữ biểu cảm phải đứng vững trên sự chân thành, lòng thành thực của người viết. Nhưng Cao Bá Quát đề ra yêu cầu cao hơn: Màu sắc phải siêu quần, tứ lạ vút tầng không. Cái “thành” đó phải dựa vào “tự đắc”có tính cá nhân, phân biệt với “đồng đắc”có tính chất tập thể (tức “cộng cảm”), có nghĩa là mỗi người phải có cái riêng (tức “độc cảm”) không lặp lại với người khác. Tất nhiên tự đắc không loại trừ “đồng đắc”, mà có liện hệ nội tại. Chúng ta bây giờ một thời gian dài hầu như chỉ nhấn mạnh tới “đồng đắc”, vẫn lấy quần chúng làm chuẩn, trong khi Cao Bá Quát chủ trương “siêu quần”, vượt lên đám đông bình quân chủ nghĩa. Ông lại chủ trương nói thật (chân) mới làm nên tác giả, có lẽ cái thật trong văn học là phát hiện riêng, “tự đắc” của mỗi người, không phải là cái thật chung chung, cái “đồng đắc”. Quan niệm văn phải tự mình nhà văn mà ra mới nhìn có nét tương đồng với quan niệm “văn như kì nhân” trong lí luận văn học cổ điển Trung Quốc hay “phong cách ấy là con người” của Buffon thế kỉ XVII nhưng xét ra Cao Bá Quát nói về tính độc sáng trong sáng tác. Văn như kì nhân nhấn mạnh đến văn của người ở lầu son gác tía thì khác với văn của người ở lều tranh cửa sài, văn của người chí ở miếu đường thì khác văn của người chí ở nơi điền dã. Phong cách ấy là con người thì khẳng định văn phong gắn với cách tư duy của mỗi người: người tư duy mạch lạc thì văn sáng sủa, người tư duy rối rắm thì văn tù mù. Còn vấn đề của Cao Bá Quát là văn phải tự mình viết ra, không được sao chép, vay mượn, đồ lại của người khác. Ông chủ trương làm thơ tự nhiên, không đẽo gọt. Trong bài thơ Đúng là mưa giục thơ, ông hình dung trận mưa gợi cho ông từ ý tứ tới nhịp điệu, ngôn ngữ: Đầy trời mưa đúng lúc - Giúp ta có hứng ngâm - Chèo thuyền giục tay bút - Đối khách thơ mới ra - Tinh thần tràn mặt giấy - Tí tách vó ngựa phi - Ngân hà tranh rửa bút - Tầm sét mượn tu từ - Khạc lời nghĩ theo gió - Ngọc nẩy kết ý hay - Rào rào tiếng vang dội - Lời chọn thấm đẫm tình - Chắc sớm tìm li châu - Chỉ sợ nâng chén muộn - Trong mắt chẳng ai hơn - Chỉ mơ màng ông Đỗ(6). Trong khi làm thơ các yếu tố của mưa đều gợi ra các khâu của việc làm thơ, chẳng hạn chèo thuyền gợi tay đưa bút nhẹ, nước chảy gợi tinh thần lai láng, tiếng tí tách gõ song gợi nhịp thơ như ngựa chạy, gió thổi như phóng tưởng, tầm sét ví như chọn lựa lời thơ, mưa thấm ướt ví như lời thấm thía. Nhà thơ để lòng hư không để cho tự nhiên vận hành trong tâm hồn. Bài thơ thể hiện “thi pháp tự nhiên”, nghĩa là thơ học theo phép của tự nhiên. Có lẽ do quan niệm thơ chân thành, tự nhiên, có cá tính sáng tạo, phản đối bắt chước mà Cao Bá Quát có cách lựa chọn hình thức thơ cho mình. Thơ tiếng Việt ông thích thể hát nói, thơ chữ Hán ông thích thơ ca, hành, cổ phong, những thể thơ tự do, ít làm thơ luật. Đây là điểm có khác Nguyễn Du. Thơ chữ Hán Nguyễn Du có 249 bài, trong đó có 22 bài ca hành, cổ phong, bằng 8,8%, trong khi đó thơ chữ Hán của Cao Bá Quát (Toàn tập, tập 1) có 418 bài, trong đó có 77 bài cổ phong, ca hành, tương đương 18,4%, nhiều hơn gấp đôi. Có thể khẳng định rằng, mặc dù quan niệm hoài nghi văn chương chữ Nôm đã hạn chế sáng tác thơ Nôm của nhà thơ, song quan niệm thích tự do, trọng cá tính sáng tạo là nhân tố cơ bản làm nên giá trị tư tưởng và nghệ thuật của thơ Cao Bá Quát. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Soạn bài "Sa hành đoản ca"
|
|
|
|
Bài tham khảo:I.Tìm hiểu chung 1.Tác giả.
- CBQ ( 1809? – 1855 ), tự Chu Thần, hiệu Cúc Đường, Mẫn Hiên, người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, Bắc Ninh ( nay là Long Biên, Hà Nội. - Là một nhà thơ có tài năng và bản lĩnh - Thơ văn ông bộc lộ thái độ phê phán mạnh mẽ chế độ phong kiến trì trệ, bảo thủ và chứa đựng tư tưởng khai sáng, có tính chất tự phát, phản ánh nhu cầu đổi mới của xã hội VN giai đoạn giữa TK XIX. Thuở thiếu thời, CBQ nổi tiếng là thần đồng, lúc nhỏ học với cha, lớn lên học với các bậc danh nho đương thời. Tương truyền lúc mới trên mười tuổi, CBQ đã làm đủ các thể văn và tỏ ra xuất sắc. Năm 1831, CBQ đỗ cử nhân, nhưng mấy lần vào kinh thi Hội đều bị phạm trường quy nên bị đành hỏng. Năm 1841 ông vào làm việc ở bộ Lễ tại kinh đô Huế. Một lần ông giữ chức sơ khảo trường thi Huế, thấy một bài văn hay nhưng bị phạm huý, nên lấy muội đèn chữa hộ, việc bại lộ ông bị kết án xử chém, sau được xét lại, giam ba năm nhưng rồi được tạm tha, cho đi công cán ở Inđônêxia, lấy công chuộc tội. Năm 1847, ông làm việc ở viện hàn lâm, chuyên sưu tầm, xếp thơ văn cho vua đọc. Năm 1853 – 1854 các tỉnh Sơn Tây, Bắc Ninh bị hạn hán , nhân dân đói khổ, lòng người bất mãn với chính quyền phong kiến, ông tổ chức cuộc khởi nghĩa ngay trên đất Mĩ Lương, cuộc khởi nghĩa kéo dài được mấy tháng thì bị triều đình dẹp tan. CBQ hi sinh, triều đình Tự Đức ra lệnh tru di tam tộc bà con nội ngoại của ông, sách vở của ông bị đốt huỷ. 2.Bài thơ a.Hoàn cảnh sáng tác.CBQ thi đỗ cử nhân năm 1831, tại trường thi Hà Nội. Để thi tiến sĩ, cần vào kinh đô Huế. Do vậy, ông đã nhiều lần đi Huế để thi Hội (nhưng đã không đỗ tiến sĩ). Hành trình từ Hà Nội vào Huế qua nhiều tỉnh miền trung như Quảng Bình, Quảng Trị là vùng có nhiều bãi cát trắng mênh mông. Ta thấy hình ảnh những cồn cát miền Trung đã sớm đi vào thơ ca. Miền trung, nhất là Quảng Bình, Quảng Trị, là dãi đất hẹp, có thể bằng mắt thường nhìn thấy một phía là dãy Trường Sơn, một phía là biển đông. Không nghi ngờ gì nữa, hình ảnh bãi cát dài, sóng biển và núi là những hình ảnh có thực đã gợi ý cho tác giả sáng tác bài thơ. - Hình ảnh con đường “cùng đồ” trong bài thơ có nghĩa bế tắc đường đời của một trí thức.Con đường trí thức của nho sĩ thuở xưa không có gì khác hơn là học, thi, làm quan. Một sự kiện nổi bật cho thấy, CBQ bất bình với học thuật, khoa cử nhà Nguyễn. - Một phương diện nữa cũng cần chú ý là người VN nói chung và CBQ nói riêng ở giữa TK XIX đã tiếp xúc với văn hoá phương Tây. Họ không thể không suy nghĩ và so sánh về cái học của phương Đông và Tây. b.Thể loại: Thể ca hànhBài thơ theo cổ thể có phần tự do về kết cấu, vần, nhịp điệu. Bài thơ có tình cảm phóng túng, lời dài mà đa dạng, không bị gò bó thì gọi là ca; nhịp điệu nhanh, gấp khẩn trương, lưu loát mà không bị ngưng trệ thì gọi là hành, bài nào kiêm cả hai đặc điểm thì gọi là ca hành. II. Phân tích 1. Thời đại- Thời đại Cao Bá Quát sống là xã hội không còn minh quân, xã hội chỉ sản sinh ra phường danh lợi an phận, ngủ quên trong vinh hoa phú quý. - “ Sa hành đoản ca” thể hiện tâm trạng bi phẫn của kẻ sĩ trước đường đời bế tắc, mịt mù đồng thời thể hiện sự dằn vặt, thức tỉnh của kẻ sĩ khi nhận ra những khó khăn trên đường công danh. - Thời đại Cao Bá Quát sống là xã hội không còn minh quân, xã hội chỉ sản sinh ra phường danh lợi an phận, ngủ quên trong vinh hoa phú quý. Những người có lí tưởng như Cao Bá Quát khi chưa tìm được con đường mới có ý nghĩa họ rơi vào trạng thái cô đơn bế tắc. - “ Sa hành đoản ca” thể hiện tâm trạng bi phẫn của kẻ sĩ trước đường đời bế tắc, mịt mù đồng thời thể hiện sự dằn vặt, thức tỉnh của kẻ sĩ khi nhận ra những khó khăn trên đường công danh. 2. Hình tượng bãi cát và con người đi trên bãi cát- Bãi cát và con đường dài là biểu tượng cho con đường đi tìm chân lí xa xôi, mịt mù, muốn đến được đích phải đầy nhọc nhằn - Đi trên bãi cát ấy là hình ảnh con người vất vả, nhọc nhằn, cô độc. “Đi một bước lùi một bước, lữ khách…nước mắt rơi” - “ Không học được tiên…giận khôn vơi” Nỗi chán nản của tác giả vì tự mình phải hành hạ thân xác của mình theo đuổi công danh. - “ Xưa nay…tỉnh bao người” sự cám dỗ của cái bả công danh đối với người đời. Tác giả đã nhận thấy rõ tính chất vô nghĩa của lối học khoa cử, của con đường công danh theo lối cũ Nhận định mang tính khái quát về nhưng kẻ ham danh lợi đều phải chạy ngược chạy xuôi nhọc nhằn, được nhà thơ minh hoạ bằng hình ảnh người đời thấy ở đâu có quán rượu ngon đều đổ xô đến, mấy ai tỉnh táo thoát khỏi sự cám dỗ của rượu. Danh lợi cũng là một thứ rượu dễ làm say người. Sáu câu thơ này chuẩn bị cho kết luận của tác giả: cần phải thoát ra khỏi cơn say danh lợi vô nghĩa. - “ Bãi cát dài…làm chi trên bãi cát?” Tâm trạng bế tắc của người đi đường, chưa tìm thấy lối thoát trên đường đời. => Nỗi niềm bi phẫn cực độ “ anh đứng làm chi trên bãi cát?” Gọi nó là đường cùng, nhìn thấy phía trước là đường ghê sợ, tác giả đã thể hiện cái mâu thuẩn chưa thể giải quyết trong tâm trạng của mình. Đi tiếp một cách khó nhọc hay từ bỏ nó? nếu đi mình sẽ tầm thường như phường danh lợi xưa nay, nếu bỏ cuộc, chẳng biết rẽ hướng nào vì “phía Bắc núi Bắc núi muôn trùng, phía Nam núi Nam sóng dào dạt” Mọi ngã đều chắn hướng, dưới chân là bãi cát và con đường ghê sợ, biết làm sao đây? Bài thơ kết lại trong một nỗi niềm bi phẫn cực độ: “Anh đứng làm chi trên bãi cát?” Một sự bỏ cuộc, từ chối vì ông biết trước con đường ấy sẽ dẫn đến ngõ cụt. Sự bỏ cuộc thật đáng trân trọng, cái bế tắc tuyệt vọng nhưng không làm họ nhỏ bé, hèn mọn, từ bỏ cái mịt mù vô nghĩa để tìm lại từ đầu một con đường đi đúng để thực hiện lí tưởng… => Vẻ đẹp của nhân cách, của lí tưởng sống ở một con người ý thức được bản thân mình trong cuộc đời. 3. Nghệ thuật- Thay đổi cách xung hô. (Khi thì “ khách”, khi thì “ta”, khi thì “anh”) nhiều trạng thái tâm trạng, giúp tác giả nói một cách thuyết phục hơn về vấn đời danh lợi trong đời. - “Khách”: tự tách mình thành khách thể để có thể nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan về con đường công danh. Khi xưng “anh”: ông đặt mình trong thế đối thoại với chính mình để tìm lối thoát; “ ta”: là chủ thể trữ tình, vị trí của một người đang vất vả trên đường danh lợi để giãi bày tâm sự của người trong cuộc… - Bài thơ sáng tác theo lối thơ cổ, câu dài, ngắn xen nhau, vần thơ bằng trắc phối nhịp nhàng, tiết tấu phong phú, giọng điệu khi thì bi tráng, khi thì u buồn… Nhiều câu hỏi, câu cảm thán thể hiện nhiều trạng thái tâm trạng… Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Tiểu sử Cao Bá Quát
|
|
|
|
Tư liệu tham khảo:Cao Bá Quát (1809? -1855) tự Chu Thần sinh tại Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội, mất giữa trận tiền Quốc Oai trong cuộc khởi nghĩa chống triều đình thời Tự Đức... Tự Đức tru di ba họ Cao Bá Quát, thu hồi tiêu hủy văn chương ông. Nhưng ông được lòng dân bảo vệ: một rừng truyền thuyết ca ngợi tài thơ, lòng dũng cảm, trí thông minh và tinh thần thương dân yêu nước của ông. Tác phẩm của ông còn được lưu đến nay là 1353 bài thơ, 21 bài văn xuôi, một số bài ca trù và khá nhiều câu đối. Thập tải luân giao cầu cổ kiếm (Mười năm giao thiệp tìm gươm báu) Nhất sinh đê thủ bái mai hoa (Một đời chỉ cúi trước hoa mai)
Đôi câu đối ấy đã thâu tóm khá đầy đủ hoài bão và phẩm chất Cao Bá Quát. Lúc trẻ Cao Bá Quát cũng như trăm nghìn sỹ tử khác mong học giỏi đỗ cao để giúp đời. Trong thơ thấy rõ cái hăng hái thường tình ấy Trên đường công danh đã mấy ai nhàn/ Mũ lọng nhộn nhịp ta cũng đi đây. Nhưng cũng nhận ra ngay trong cơn hăng hái trên đường đi thi ấy cái khí phách khác thường của ông: Sóng biển trào lên như đầu bạc lô nhô Gió giận dữ đánh chìm cả những chiếc thuyền to Chớp giật sấm ran ai nấy đều xanh mắt, Giữa cảnh, con chim hải âu vẫn nhởn nhơ
Sau này trong truyền thuyết về Cao nhiều giai thoại cũng vẽ nên sự bình thản của ông giữa gian lao như hải âu giữa bão: Một chiếc cùm lim chân có đế Ba vòng xích sắt bước thì vương.
Khí phách ấy bắt nguồn từ chất tâm hồn của Cao Bá Quát. Tâm hồn ấy cao rộng. Qua núi Dục Thúy: Ta muốn trèo lên đỉnh núi cao ngất kia/ Hát vang lên để gửi tấm lòng vào mây nước. Tâm hồn ấy giàu năng lực bên trong, chấp nhận cái khó của đường đời: Bãi cát dài, bãi cát dài! Bước một bước lại như lùi một bước.
Trong tình cảnh oan khốc bị giam cầm, tra tấn chỉ vì tội sửa vào bài thi cho một thí sinh có tài vô ý phạm trường quy, ông tỉnh táo và can đảm coi việc mình làm là việc thiện, mà việc thiện thì ở hoàn cảnh nào cũng nên làm. Ông coi công lý thời ấy như cái máy làm nhục người (Bài thơ tả cái cùm). Ông nhìn thẳng vào chiếc roi da đang quật nhoang nhoáng vào người mình, ông tả nó và tả chính tâm trạng mình, như một cuộc đọ sức. Cái việc tả chính xác với các chi tiết nghiêm lạnh cho thấy ai vững hơn ai: Roi quất nhoang nhoáng bay đi liệng lại như ánh chớp. Lúc giơ lên như hai con thuồng luồng quật vào bờ ao lở Lúc ngừng như nước lạnh đổ vào nồi nước sôi (...) Ở nơi góc đài những giọt sương trong cũng vì ta mà bay lên Roi song rủ xuống thôi không hăng như trước nữa Chắp tay đứng, ruột mềm quặn lại như cuốn vào ngón tay được.
Ông nhìn sông dài như lưỡi kiếm dựng giữa trời xanh. Ông hỏi hoa sen ngươi có hồng bằng mặt rượu của ta không? Ông thấy núi như chiếc chén xà cừ của khách say. Khí phách, tài tử như Cao Bá Quát lại là người thắm thiết tình cảm, đặc biệt tình cảm gia đình. Ông có những câu thơ thương vợ thương con tình cảm chân thực, ngôn ngữ mộc mạc, hình như ông không muốn vẻ đẹp của tài thơ làm mờ đi nét thực của cảm xúc. Một số truyền thuyết muốn nhấn mạnh khí phách Cao Bá Quát đã mô tả ông có tính cách ngang tàng khinh bạc, coi nhẹ tình cảm, e không đúng. Cao Bá Quát khí phách nhưng đa cảm, đó là sự phong phú của tâm hồn ông. Thương xót người thân và thương xót mọi người nghèo khổ, bị ức hiếp. Hãy nghe ông mời một người đói cùng ăn Than ôi hãy ngừng lệ Một bữa ta tạm mời Đời người như quán trọ Ung dung nào mấy ai Thong thả đừng nuốt vội No ứ dễ hại người.
Cao Bá Quát đã thấy nguồn gốc nỗi khổ ấy, không dễ nói thẳng ra, nhưng ông đã tìm cách nói: Nghe nói xe Rồng vừa ngự tới Cung vua sẵn đó lại cung vua
Tâm sự nhà nho Cao Bá Quát rối bời: Tâm sự và tóc có chi phải so sánh vắn dài/ Đến lúc đã rối bời thì cùng rối bời như nhau. Rối bời vì ái quốc thì không thể trung quân. Cuối đời, những bài thơ Cao Bá Quát càng nặng trĩu nội tâm. Không chỉ buồn thương, mà có buồn thương cũng không chỉ vì thân danh mình lận đận. Hoài bão của con người một đời chỉ cúi trước hoa mai rộng xa hơn nhiều. Trước cảnh đời ngang trái ấy ông không thể làm tấm bia không chữ, (Thế sự hà kham một tự bi). Ông phải có thái độ, nhưng thái độ ấy không thể nói trong thơ. Ông như cái hạt sen ôm tấm lòng đắng ngắt chỉ mình mình biết (Liên tử hữu tâm tri độc khổ). Đêm xuân đọc sách mà như đối thoại với người xưa (Bùi ngùi xuân này ngồi đối diện với người xưa) mà như giao lưu với vũ trụ (Dưới có người không ngủ/ Trên có vì sao muốn rơi). Trong bài Tiễn Nguyễn Trúc Khê ra nhận chức tại phủ Thường Tín, ý chí hành động của Cao Bá Quát đã rõ, sau khi nhắc đến Chu An, Nguyễn Trãi, ông viết: Khách nam nhi chẳng vì thế thái Đem thân ra đỡ lấy cương thường
Năm 1853 Cao Bá Quát đã trở thành một trong những người lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương. Bối cảnh lịch sử chưa đủ chín để cuộc khởi nghĩa thành công. Nhưng Cao Bá Quát đã trở thành hình tượng sáng chói của lớp nhà thơ hoạt động, từ thơ mà thành chiến sỹ, lấy máu để diễn tả cao nhất cảm xúc của chính mình. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Tư liệu bài "Sa hành đoản ca"
|
|
|
|
Tư liệ tham khảo:1. Chu Thần - Cao Bá Quát, một hiện tượng hiếm quý trong thơ trung đại. Mà, có lẽ cho đến nay, người đời vẫn chưa đánh giá một cách sâu sắc, đích thực.... về ông - nhất là mảng thơ Hán tự. Nếu gọi ra điệu hồn riêng trong thơ chữ Hán của Cao Bá Quát, có thể khái quát trong mấy chữ này chăng: Một hồn thơ phóng khoáng, đôn hậu và cũng đầy kiêu hãnh, sâu sắc! Với "Sa hành đoản ca" (Bài ca ngắn đi trên bãi cát) - thi phẩm đặc sắc, trong chương trình Ngữ văn lớp 11, Cao Bá Quát thực sự đã kết đọng trong lòng độc giả những cảm nhận khó quên về một Người và cũng là một lớp Người: Nhà Nho tài tử! Những kẻ sĩ - nghệ sĩ yêu đến tôn thờ cái đẹp: Nhất sinh đê thủ bái mai hoa (Một đời (ta) chỉ biết cúi đầu trước hoa mai!)
Những kẻ sĩ - nghệ sĩ, chân thành và kiêu hãnh trong cảm hứng trước thiên nhiên mà giãi bày tâm nguyện: Bất kiến ba đào tráng An tri vạn lí tâm (Nếu không thấy được sóng hùng Làm sao biết được tấc lòng muôn phương)
2. Đứng ở góc độ người dạy, muốn thẩm định thi phẩm "Sa hành đoản ca", tôi muốn nhấn tới một điều thiết thực, cơ bản trong giảng dạy. Đó là, giúp học sinh nắm bắt đời và thơ của thi sĩ họ Cao - tất nhiên, từ đó cần chỉ ra nét riêng, điệu riêng của thơ Chu Thần. Đấy chính là tâm thế, bức xúc của một thi nhân trước bao điều bất công, ngang trái; trước bao điều thực giả hỗn độn giữa sa mạc - cuộc đời! Cảm thức được điều đó, mới nhận ra, mới tường minh chất bản ngã, bản lĩnh riêng của nhà thơ họ Cao. Cao Bá Quát đã chọn hình thức biểu hiện của thơ ngũ ngôn - phù hợp với giọng điệu tâm tình, cho riêng những câu thơ đầu: 2.1 Trường sa phục trường sa, Nhất bộ nhất hồi khước. Nhật nhập hành vị dĩ, Khách tử lệ giao lạc. (Bãi cát dài lại bãi cát dài, Đi một bước như lùi một bước. Mặt trời đã lặn, chưa dừng được, Lữ khách trên đường nước mắt rơi)
Những câu thơ đầu của "Sa hành đoản ca" mở ra một hiện trạng, một cảnh ngộ và cũng là sự lên tiếng đầy bức xúc, bức bối của nhân vật trữ tình (Khách tử). Không gian và thời gian từ những câu thơ trên như đe doạ, như dồn lữ khách tới cái bi thương của hoàn cảnh: ngày sắp tàn (thời gian) mà không gian vẫn trải mở dằng dặc, mênh mang cát trắng (trường sa phục trường sa). Thực cảnh "bãi cát dài" ấy đem đến cảm giác thật rùng mình - "Đi một bước như lùi một bước". Hình ảnh "bãi cát dài" vì thế có thể khơi gợi cảm hứng từ hiện thực khách quan, "được hình thành trong những lần Cao Bá Quát đi thi Hội, qua các tỉnh miền Trung đầy cát trắng như Quảng Bình, Quảng Trị" (Sách Ngữ văn lớp 11 - tập I, trang 40). Nhưng, hình ảnh "Trường sa phục trường sa" trong thơ Cao, thực sự bức bách như nỗi ám ảnh tâm tưởng. Thế nên, sự lên tiếng của nhân vật trữ tình mới quá đỗi chân thực và xúc động: "Khách tử lệ giao lạc" (Lữ khách trên đường nước mắt rơi). Từ hình ảnh về con người nhỏ bé, mong manh giữa biển cát - cuộc đời (tất nhiên hình ảnh "trường sa" vừa mang ý nghĩa tả thực, vừa là một ẩn dụ - tượng trưng), bài thơ của Cao Bá Quát lại mở tiếp ra một cấp độ nữa của cảm xúc và suy tư. 2.2. Cao Bá Quát đã mượn và tựa vào tích xưa - "Ông tiên ngủ kĩ" để gửi gắm sự sáng tạo riêng của mình trong cách nghĩ, cách nhìn vào cuộc đời và con người: Quân bất học tiên gia mĩ thụy ông, Đăng sơn thiệp thuỷ oán hà cùng! (Anh không học được tiên ông có phép ngủ kĩ Cứ trèo non lội nước mãi, bao giờ cho hết ta oán!)
Về hình thức và giọng điệu của hai câu thơ trên, mới đọc, cứ ngỡ như những lời "tiên trách kỉ", "tự trách kỉ". Đọc và ngẫm kĩ, lại hoá ra lời phản ứng quyết liệt của kẻ sĩ - thi nhân giàu bản lĩnh và cá tính. Làm sao có thể học "ông tiên ngủ kĩ " để mà làm ngơ, để mà nhắm mắt, để mà "mũ ni che tai" trước bao cảnh ngổn ngang, chất chồng như cát, như núi, như nước giữa cuộc đời - nhân thế. Cao Bá Quát lên tiếng chối bỏ dạng người an phận (mà thời nào chẳng có!), để rồi chuyển tiếp sang một góc nhìn hiện thực - hiện thực đập vào mắt và chấn động tâm can về đời, về người: Cổ lai danh lợi nhân, Bôn tẩu lộ đồ trung. Phong tiền tửu điếm hữu mĩ tửu, Tỉnh giả thường thiểu tuý giả đồng. (Xưa nay phường danh lợi, Tất tả trên đường đời. Đầu gió hơi men thơm quán rượu, Người say vô số, tỉnh bao người?)
Sắc sảo trong cách nhìn và tỉnh táo trong phán xét, Cao Bá Quát đã thực sự vẽ dựng nên một bức tranh cuộc đời, cũng là bức tranh nhân sinh: - Phần đông con người - tầm thường mang bản chất tham lam, vị kỉ và bon chen. Thế nên, tự cổ chí kim (cổ lai), bọn người ấy mới khốn khổ, mới vội vã, mới xô bồ trên con đường danh lợi: Xưa nay phường danh lợi, Tất tả trên đường đời.
- Cũng chính vì ham, vì mê mải trên con đường danh lợi, mà bọn người thuộc số đông ấy thật dễ bị dẫn dụ, bị cám dỗ, bị mê hoặc bởi bao nhiêu thứ "mĩ tưủ" dậy hương đưa từ đời, từ tửu điếm- nhân sinh: Đầu gió hơi men thơm quán rượu, Người say vô số, tỉnh bao người.
Những câu thơ của thi sĩ họ Cao như chiếu một góc nhìn trong tâm thế vừa thầm lặng cô đơn, lại cũng vừa thầm lặng kiêu hãnh; nỗi cô đơn và niềm kiêu hãnh của một con người không muốn và không thể tan hoà trong đám chúng sinh bon chen cầu danh lợi. Mượn những hình ảnh hiện hữu đơn phương từ những "danh lợi nhân", Cao tiên sinh đã tạo nên thế tương phản, đối lập thầm lặng mà quyết liệt giữa cái tầm thường với cái thanh cao; giữa cái ồn ã sục sôi từ thiên hạ với cái lặng lẽ, cao ngạo từ con người - bản thể của mình. Cao Bá Quátcũng đồng thời nói lên một sự thực mang tính quy luật: người tỉnh trên cõi thế, giữa thời loạn luôn là người gánh chịu nỗi cô đơn. Cô đơn nên mới một mình vất vưởng trên sa mạc mà cũng là hoang mạc - thời đại. người nghệ sĩ - kẻ sĩ chân chính cũng phải biết chấp nhận cô đơn, đau buồn mới tạo cho mình một tư thế khả dĩ đối mặt với đời. 2.3. Khúc ca đường cùng - Khúc ca bi trángTứ thơ của "Sa hành đoản ca" - trong những câu thơ cuối đang thực sự vận động với nội lực đầy day dứt, trăn trở như sắp bùng phát cơn bão tố của lòng người: Trường sa trường sa nại cừ hà? (Bãi cát dài, bãi cát dài biết tính sao đây?)
Một câu thơ, một câu hỏi - tự nó ngân vang lời bi thiết trước hiện trạng như bế tắc, bần cùng khi con người đi đường mà chưa tìm ra đường. Chỉ thấy trước mắt: đường thật nhiều ám ảnh, ghê sợ mà "bước đường bằng phẳng thì mờ mịt"! "Sa hành đoản ca" của Cao Bá Quát, chợt cất lên tiếng thơ, tiếng hát khởi phát từ lòng người, thật lạ: Thính ngã nhất xướng cùng đồ ca (Hãy nghe ta hát khúc "đường cùng")
Cái hay và ấn tượng trong những con chữ của Cao Bá Quát là ở chỗ: tác giả dùng chữ "ca" (hát) chứ không dùng chữ "thuyết" (nói). Thế nên không thể: "Thính ngã nhất xướng cùng đồ thuyết" (hãy nghe ta nói lời đường cùng). Nỗi bi phẫn, u uất trong lòng, làm sao chỉ giải toả bằng lời nói thường tình? Phải cuồng ca, sảng ca - những lời ca dậy lửa, dậy sóng từ con tim đang ngập tràn nỗi đau và niềm kiêu hãnh. Khúc ca bi tráng của Cao Bá Quát đã đến độ cao trào của cảm hứng. Trước cảnh tượng điệp trùng vây bủa của núi, của sóng, của cát... phải biết đi tìm sự giải thoát cho số phận: Bắc sơn chi bắc sơn vạn điệp, Nam sơn chi nam ba vạn cấp. (Phía bắc núi Bắc núi muôn trùng, Phía nam núi Nam sóng muôn đợt) Nhà thơ họ Cao chợt tìm đến mà hạ bút kết lại "Sa hành đoản ca" trong một câu thơ lạ. Và, cũng chính vì lạ mà chợt nâng cao và rộng mở, tầm cảm xúc và suy tư cho toàn bộ thi phẩm; tứ thơ cũng đột ngột dâng trào từ hình thức nghi vấn. Quân hồ vi hồ sa thượng lập? (Anh còn đứng làm chi trên bãi cát)
Bài thơ khép lại bằng câu hỏi với bao nhiêu băn khoăn, u uất. Nhưng, cũng chính từ câu chữ ấy, lại đánh thức sự tung phá và giải thoát cho con người và cảnh ngộ. Với Cao Bá Quát, con đường giải thoát cho số phận mình là tìm đến và tham gia cuộc khởi nghĩa Mĩ Lương (1854) chống lại triều Nguyễn. Từ buồn đau, bế tắc và cô đơn, trước bãi cát mịt mùng nghiệt ngã của cuộc đời - tiên sinh họ Cao tìm đến kiêu hãnh giữa thiên nhiên khoáng đạt vĩnh hằng như tâm sự của ông trong một bài thơ chữ Hán khác - "Quá Dục Thuý Sơn": Thiên địa hữu tư sơn Vạn cổ hữu tư tự Phong cảnh dĩ kì tuyệt Nhi ngã diệc lai thử (Trời đất có núi ấy Muôn thuở có chùa này Phong cảnh đã kì tuyệt Lại thêm ta đến đây) Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Vẻ đẹp nhân cách của Nguyên Công Trứ qua bài thơ
|
|
|
|
Bài tham khảo:Khác với những bài hát nói khác, Nguyễn Công Trứ không mở đầu bằng hai câu chữ Hán mà bằng một câu Hán: “Vũ trụ nội mạc phi phận sự” và một câu Việt: “Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng”. Câu thơ chữ Hán có nghĩa là trong vũ trụ này không có việc gì là không phải phận sự của ta. Đây là quan niệm thiêng liêng của nhà Nho mà Nguyễn Công Trứ đã nhận thức sâu sắc và hạnh động nhất quán từ trẻ cho đến già. Vì nhiễm quan điểm chính thống đó mà “Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng”. Câu thơ hay tuyệt! Nội lực phải dữ dội lắm mới có cái điệu tự hào như vậy. Tưởng chừng như Nguyễn Công Trứ cười một “ông Hi Văn” nào đó, không ngờ “ông Hi Văn” chính lại là Nguyễn Công Trứ! Con người suốt đời say mê công danh nhưng lại coi cái vòng công danh ấy là một cái “lồng”. Tại sao lại có thái độ khinh bạc ấy? Cũng dễ hiểu, Nguyễn Công Trứ là người có tài đã đem hết tài năng, trí tuệ giúp đời, cứu nước, cứu dân. Nhưng xã hội phong kiến mà ông cúc cung tận tụy lại quá bé nhỏ, thảm hại, ông Hi Văn luôn luôn cảm thấy bị ràng buộc, mất tự do, khác chi một con chim trong lồng! Thành ra những hành động chọc trời khuấy nước, tài thao lược của vị đại tướng để trả “nợ tang bồng” cũng chẳng qua là hành vi bay nhảy của con chim trong lồng. “Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng Lúc bình Tây, cờ đại tướng, Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên”.
Kể như thế cũng đã oanh liệt! Văn võ song toàn ở đỉnh cao. Ấy là tác giả chưa kể đến những công trạng khác mà ông đã sáng tạo và đóng góp cho dân cho nước. Nhưng như thế thì Nguyễn Công Trứ có gì khác với giới quan trường vào luồn ra cúi bấy giờ? Đây, “ông Hi Văn” đây rồi! “Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng”
“Ngất ngưởng” ngay trong những hoạt động chính thống! “Ngất ngưởng” ngay trên đỉnh cao danh vọng! Thật là hiếm thấy. Đấy không phải là bộ dạng, hành vi bên ngoài mà ngất ngưởng đã trở thành bản chất của Nguyễn Công Trứ. Là thái độ sống, cũng là cốt cách, là cá tính của “ông Hi Văn”. Làm quan cho một triều đại suy tàn của chế độ pk, giữa đám quan lại, mua bán tước, bên cạnh những “tiến sĩ giấy” oái oăm thay lại cùng trong một “lồng”, nên Nguyễn Công Trứ “ngất ngưởng” cao ngạo là phải. Xét về mặt nhân cách thì thái độ “ngất ngưởng” là “công trạng” lớn nhất của Nguyễn Công Trứ. Thái độ “ngất ngưởng” xuyên suốt của cuộc đời. Nguyễn Công Trứ, nhưng xét đến cùng thì “ngất ngưởng” giữa triều, “ngất ngưởng” trên đỉnh cao danh vọng là thái độ đáng kính nhất của “ông Hi Văn”. Ngông đã trở thành cốt tủy của Nguyễn Công Trứ. Trong tiểu triều “ngất ngưởng”, cáo quan về “ngất ngưởng”: “Đô môn giải tổ chi niên, Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng Kìa núi nọ phau phau mây trắng Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi. Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì, Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng…”
Năm cởi áo mũ, cáo quan về hưu, không thèm cưỡi ngựa mà cưỡi bò vàng có đeo lục lạc, “ông Hi Văn” thật là “ngất ngưởng”. Chưa hết, ông còn cột mo cau sau đuôi bò, nói với thiên hạ là để che miệng thế gian. Rồi bỗng xuất hiện dãy núi quen thuộc của quê nhà: “Kìa núi nọ phau phau mây trắng”. Núi Đại Nại trên quê hương của thi nhân đẹp một cách hư ảo. Người anh hùng chọc trời khuấy nước nay trở về lân la nơi cõi Phật. “Tay kiếm cung” ấy chỉ có làm đổ đình đổ chùa chứ sao “mà nên dạng từ bi”! “Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì”
Vào chùa mà dắt theo cả ả đào thì chỉ có Nguyễn Công Trứ, hay nói đúng hơn chỉ có Nguyễn Công Trứ là thành thật. Sự thành thật đã làm cho câu thơ trở nên xôn xao, có lẽ còn ở tài hoa nữa. Từ “đủng đỉnh” hay quá, đây là nhịp đi của các nàng ả đào vào chùa, cái nhịp “đủng đỉnh” của tiếng chuông mõ tịch diệt, chứ không phải là nhịp “tùng”, “cắc” dưới “xóm”. Nhưng không phải “đủng đỉnh” chốc lát trước sân chùa mà ả đào thành ni cô. Thì cũng như Nguyễn Công Trứ vào cửa từ bi mà đâu có diệt được lòng ham muốn. “Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng”
Trong một xã hội mà cá nhân bị thủ tiêu, cá tính bị vo tròn, Nguyễn Công Trứ lại lồ lộ ra một cá nhân, hồn nhiên một cá tính. Với tinh thần nhân văn “ngất ngưởng”, nhà thơ Nguyễn Công Trứ đã đi trước thời đại hàng thế kỉ! Theo dõi bài ca từ đầu, ta thấy đã diễn ra ba giai điệu “ngất ngưởng”. “Gồm thao lược đã nên ngất ngưởng” là “ông Hi Văn” “ngất ngưởng” ở trong “lồng”. Đây là giai điệu kỳ tuyệt, thể hiện khí phách của Nguyễn Công Trứ. Nói một cách khác đây là chiến thắng oanh liệt của sự tự diệt (khi lên đỉnh cao danh vọng người ta không còn là mình nữa). “Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng” là giai điệu Nguyễn Công Trứ cáo quan về hưu “ngất ngưởng”. “Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng” là giai điệu tự hào của Nguyễn Công Trứ muốn “ngất ngưởng” thoát tục. Và đây là giai điệu cuối có giá trị tổng kết cuộc đời của một nhà nho trung nghĩa mà không đánh mất mình: “Được mất dương dương người tái thượng, Khen chê phơi phới ngọn đông phong Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng. Không Phật, không tiên, không vướng tục Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú. Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung Trong triều ai ngất ngưởng như ông!”
Đối với Nguyễn Công Trứ, “được mất dương dương người tái thượng”. Tác giả dùng điển tích “Tái ông thất mã”. Được chưa chắc là may, mất chưa hẳn là rùi. Trong cuộc sống bon chen đó, “được mất” một chút là người ta có thể làm thịt nhau, mà Nguyễn Công Trứ lại có thái độ bất biến trước sự được mất thì phải nói “ông Hi Văn” có bản lĩnh cao cường. Lại còn “khen chê” nữa, “khen chê phơi phới ngọn đông phong”. Khen thì vui “phơi phới” đã đành, chứ sao chê mà cũng “phơi phới ngọn đông phong” nghĩa là cũng vui như ngọn gió xuân? Là vì cái gọi là chuẩn mực chính thống không trùng khít với chuẩn mực của nhà thơ. Thì mới oai phong đại tướng “Nguyễn Công Trứ đó đã bị cách tuột xuống làm lính thú, có hề chi, vẫn “phơi phới ngọn đông phong”. Có thể mất chức đại tướng nhưng miễn còn Nguyễn Công Trứ! Những âm thanh này mới làm bận lòng con người yêu đời, ham sống đó: “Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng. Không Phật, không tiên, không vướng tục”
Các giác quan của nhà thơ mở về phía cuộc sống tự do, về phía cái đẹp, về phía hưởng lạc. Thơ, rượu, ca trù, hát ả đào mới là đam mê của Nguyễn Công Trứ. Câu thơ nhịp 2/2 réo rắt thật hay (khi ca/ khi tửu/ khi cắc/ khi tùng) làm sôi động cả khúc ca. Tác giả cũng không quên đánh giá lại công trạng của “ông Hi Văn” với triều đại mà ông phụng sự: “Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung”
Nguyễn Công Trứ tự liệt vào hàng danh tướng, công thần đời Hán, đời Tống của Trung Quốc như Trái (Trái Tuân), Nhạc (Nhạc Phi), Hàn (Hàn Kì), Phú (Phú Bật). Ông tự hào như vậy là chính đáng, vì lý tưởng anh hùng của ông cũng không ngoài lí tưởng trung quân ái quốc của đạo Nho và ông đã sống thủy chung trọn đạo vua tôi. Kể ra tìm một bậc danh sĩ văn võ song toàn như Nguyễn Công Trứ trong thời đại nào cũng hiếm, nhưng không phải là không có. Chứ còn “ông ngất ngưởng” thì tìm đâu ra? “Trong triều ai ngất ngưởng như ông?”
Đây cũng là giai điệu cuối cùng của “Bài ca ngất ngưởng”. Tác giả đã chọn giai điệu “ngất ngưởng” đích đáng để kết thúc bài ca. “Ngất ngưởng” ngay trong triều, “ngất ngưởng” trên đỉnh núi cao danh vọng, đó là nhân cách, là khí phách của Nguyễn Công Trứ. Nếu được chọn một tác phẩm tiêu biểu cho toàn bộ trước tác của Nguyễn Công Trứ thì đó là “Bài ca ngất ngưởng”. Con người, tài năng, khí phách, tinh hoa của Nguyễn Công Trứ thể hiện sinh động trong tác phẩm trác tuyệt này. Thể hát nói đã thành thơ, thơ hay, vừa triết lí, vừa trữ tình, vừa trào lộng. Có một Nguyễn Công Trứ ngoài “lồng” cười một “ông Hi Văn” trong “lồng”, có một Nguyễn Công Trứ ngoại đạo cười một “ông Hi Văn” trong chung. Bốn giai điệu “ngất ngưởng” đã ghi lại cả cuộc đời hoạt động phong phú của một danh sĩ tài tình, trung nghĩa mà không đánh mất mình. Trong một xã hội mà cá nhân không được coi trọng, cá tính bị thủ tiêu thì thái độ “ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ chẳng những là khí phách của ông mà còn là một giá trị nhân văn vượt thời đại. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Ý nghĩa nhan đề "Những đứa con trong gia đình"
|
|
|
|
Một vài ý tham khảo: - Nhan đề truyện "Những đứa con trong gia đình" nhằm nhấn mạnh đến nội dung phản ánh trong truyện, đó là truyền thống yêu nước của một gia đình người dân Nam và rộng hơn là hình ảnh cả miền Nam thời kì chống Mĩ. - Trong gia đình ấy, cứ thế hệ sau tiếp nối thế hệ đi trước, lập nên những chiến công ngày một hiển hách. Truyền thống gia đình tuy đau thương nhưng đầy anh dũng và tự hào. - Thế hệ hiện tại của gia đình chính là những đứa con: Chiến và Việt. Cả hai thành viên này tuy còn nhỏ những đã thấm nhuần truyền thống gia đình, sớm ý thức được trách nhiệm với gia đình, đất nước và dũng cảm gánh vác trách nhiệm đó. Đây là một thế hệ trẻ, đầy sức chiến đấu và lòng nhiệt huyết. - Nhan đề câu chuyện còn nhấn mạnh mối quan hệ mật thiết giữa tình yêu gia đình và tình yêu quê hương đất nước.
|
|
|
|
giải đáp
|
Thầy cô cho em hỏi về Tuyên ngôn độc lập? (em cảm ơn a!)
|
|
|
|
Gợi ý:
1. Bản Tuyên ngôn Độc lập ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử trọng đại
và phức tạp. Mục đích của áng văn không chỉ là tuyên bố quyền độc lập
của người Việt Nam trước toàn dân tộc và nhân dân thế giới, mà còn nhằm
hướng tới các nước Đồng minh để bác bỏ luận điệu xảo trá của thực dân
Pháp đang lăm le tái chiếm Việt Nam. 2. Vì vậy, mở đầu áng văn, tác giả trích dẫn hai bản tuyên ngôn nổi tiếng của thế giwois: Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ (1776) và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp (1791). Việc trích dẫn trên nhằm:
- Tạo được một cơ sở pháp lí vững chắc cho bản tuyên ngôn để khẳng định
quyền dân tộc là "một lẽ phải không ai chối cãi được". - Dùng chiến thuật "gậy ông đập lưng ông" để ràng buộc các nước Đồng minh.
- Thể hiện thái độ trân trọng kế thừa tinh hoa văn hóa nhân loại, đề
cao truyền thống bình đẳng, nhân đạo, tư tưởng dân chủ tiến bộ của nhân
dân hai nước Mĩ và Pháp lúc bấy giờ, tranh thủ được sự ủng hộ của nhân
dân thế giới. - Đặt cả ba bản tuyên ngôn ngang bằng nhau, bộc lộ sâu sắc niềm tự hào dân tộc
|
|