|
|
|
|
giải đáp
|
Chiếc thuyền ngoài xa?
|
|
|
|
Đáp án đây em! Thông điệp nghệ thuật được tác giả gửi gắm thông qua cuộc hành trình đi tìm kiếm cái đẹp, tìm kiếm giá trị nghệ thuật chân chính của nhân vật nghệ sĩ nhiếp ảnh - Phùng. Mục đích chuyến đi của Phùng là tìm những khoảnh khắc đẹp để sáng tạo nên những tác phẩm nghệ thuật tuyệt mĩ, nhằm thỏa mãn khát khao của cá nhân người nghệ sĩ và phục vụ công chúng. Trên cuộc hành trình ấy Phùng đã khám phá ra nhiều vấn đề của cuộc sống và thân phận con người - đó là những vấn đề mà không phải nghệ sĩ nào cũng dễ dang nhìn thấy được. Đằng sau cảnh tượng đẹp như bức tranh thủy mặc mà anh được chiêm ngưỡng, là cả một câu chuyện về một cuộc đời, một thân phận đầy khổ đau, bất hạnh. Và đằng sau những bất hạnh, khổ đau của người dàn bà hàng chài, lại có muôn vàn những câu chuyện trái khoáy và cảm động về cuộc sống con người. Như vậy có thể thấy thông điệp nghệ thuật mà tác giả gửi gắm đó là người nghệ sĩ không nên nhìn cuộc sống đơn giản, xuôi chiều, mà phải luôn luôn khám phá, phát hiện về đời sống. Nghệ thuật chân chính không được tô son, điểm phấn cho đời sống mà phải nhìn thẳng vào sự thực đời sống.
|
|
|
|
giải đáp
|
Chí làm trai trong "Xuất dương lưu biệt"
|
|
|
|
Bài tham khảo:Lưu biệt khi xuất dương” khẳng định chí làm trai và quyết tâm xuất dương, làm nên sự nghiệp lớn cứu nước cứu dân. Đó là sự quyết tâm cao độ và những ý tưởng mới mẻ của nhân vật trữ tình buổi đầu ra nước ngoài tìm đường cứu nước. Cái chí làm trai mà nhà thơ nói đến trong bài thơ trước hết là “phải lạ ở trên đời”. Đó là một lí tưởng sống, một khát vọng lớn lao. Đấng nam nhi phải làm được những việc lớn lao, phi thường, phải chủ động xoay chuyển trời đất, không để cho trời đất tự chuyển vần. Nhà thơ chuyển chữ ta thành chứ tớ . Tớ phản ánh được cái hăm hở, lạc quan, trẻ trung. Hai câu thơ trên dường như có chút ngông nghênh tự phụ nhưng thực ra là sự bộc lộ sâu sắc về cái tôi cá nhân tich cực. Cái tôi này chẳng những khảng đinh trách nhiệm đối với hiện tại, với vận mệnh hôm nay của đất nước mà còn khảng đingh nghĩa vụ với lịch sử. Đó là tư thế của người có chí khí lớn, muốn vươn tới những đỉnh cao của lịch sử. Cái chí làm trai mà cụ Phan nói trong bài thơ chắc chắn khiến chúng ta thấy cảm phục về những con người sống ý thức được vai trò, trách nhiệm của mình đối với lịch sử. Mỗi con người sống là phải gắn liền với đất nước, dân tộc, biết sống chết cùng dân tộc. Rõ ràng nhân vật trữ tình tuy đang nói về mình nhưng thực chất là tiếng nói đại diện cho cả một tầng lớp, một thế hệ và cao hơn là cả dân tộc. Cách nhìn nhận, suy nghĩ của tác giả là hướng về tương lai phía trước chứ không phải là lối sống hoài niệm. Đây cũng chính là một điểm rất tiến bộ mà thông qua bài thơ chúng ta không chỉ cảm nhận được ý nghĩa của chúng mà còn học tập được vào thực tế cuộc sống của mình. Lời thơ kết của bài thơ với hai câu tuyệt đẹp, đầy cảm hứng lãng mạn. Con đại bàng đã tung cánh bay ra biển khơi, bay vào thời đại “Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi”. Bằng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, bằng chữ Hán, với giọng thơ trang nghiêm hào hùng mạnh mẽ, lôi cuốn đã toát lên một chí lớn phi thường không cam tâm làm nô lệ, quyết đi tìm đường cứu nước. Đó không còn là lời nói mà đã biến thành hành động vượt bể Đông của ông. Bài thơ là một khúc anh hùng ca kêu gọi lên đường cứu nước mang giá trị khích lệ động viên, tuyên truyền cách mạng không chỉ đối với thế hệ thanh niên ở giai đoạn đó mà còn là lời nhắn nhủ chung đối với thanh niên các thế hệ sau. Phan Bội Châu (1867 – 1940) là lãnh tụ kiệt xuất của các phong trào Duy Tân, Đông *** Việt Nam quang phục hội đầu thế kiX. Ông là “bậc anh hùng, vị thiên sứ, được 25 triệu đồng bào tôn kính” (Nguyễn Ái Quốc). Cụ Huỳnh Thúc Kháng cũng hết lời ca ngoại Phan Bội Châu: “Miệng giọng cuốc vạch trời kêu giật một – giữa tầng không mù cuốn mây tan – tay ngòi lông vỗ án múa chầu ba – đầy mặt giấy mưa tuôn sấm nổ.” Năm 1905, mở đầu phong trào Đông *** Phan Bội Châu xuất dương sang Trung Quốc, Nhật Bản tìm đường cứu nước. Trong không khí chia tay với các đồng chí trong Hội Duy Tân, Phan Bội Châu sáng tác bài “Xuất dương lưu biệt” (Lời để lại khi chia tay để ra nước ngoài) bằng chữ Hán. Mở đầu bài thơ, tác giả nêu lên quan niệm về chí nam nhi: “Sinh vi nam tử yếu vi kì, Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di”. Tôn Quang Phiệt dịch là: “Làm trai phải lạ ở trên đời
Há để càn khôn tự chuyển dời”
Phan Bội Châu nêu lên quan niệm về chí làm trai mà các nhà nho trứ danh đều đồng tình. Nguyễn Công Trứ, trong bài thơ “Chí nam nhi” cũng từng nói: “Thông minh nhất nam tử, Yếu vi thiên hạ kì”. Làm đấng nam nhi trên đời này phải làm điều kì lạ, kì tích để giúp đời, giúp dân, giúp nước. Làm trai là phải tung hoành ngang dọc, dời non lấp bể: “Há để càn khôn tự chuyển dời”
Phải là bậc hào kiệt trên đời này thì mới phát ngôn nhu vậy. Nội lực mạnh mẽ phi thường. Con người muốn tham gia vào sự vận động của vũ trụ. “Há để còn khôn tự chuyển dời” là câu hỏi tu từ vừa khẳng định vừa muốn đối thoại với hết thảy các đấng mày râu trên đời này. Nhận thức về mối quan hệ giữa con người và vũ trụ về sự tác động của con người đối với vũ trụ như vậy thật là tích cực, thật là cách mạng. Câu thơ làm thức dậy nội lực của mỗi con người để họ tham gia cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội. Sau khi tỏ bày quan niệm về chí nam nhi, về mối quan hệ giữa con người và vũ trụ, tác giả nói về trách nhiệm của chính mình với thời đại của mình: “Ư bách niên trung tu hữu ngã, Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy”. Hai câu thơ đó được Tôn Quang Phiệt dịch là: “Trong khoảng trăm năm cần có tớ
Sau này muôn thuở há không ai?”
Trong một nền văn học phi ngã (tôi) mà hiện lên một chữ “ngã” sừng sững, phải nói là “kì” (lạ)! “Ư bách niên trung tu hữu ngã”
Nhận thức về sự hiện hữu của cái “tôi”, trách nhiệm của cái “tôi” đối với thời đại như vậy chẳng khác nào một ngọn lửa giữa đêm đông, một cây tùng giữa băng tuyết. Không phải là cái “tôi” hưởng lạc mà là cái “tôi” hành động, cái “tôi” tham gia vào sự “chuyển dời” của “càn khôn”. “Giữa cuộc sống tối tăm của đất nước lúc đó, có được một ý thức về cái “tôi” như thể, quả là cứng cỏi, là đẹp vô cùng, cũng như có được một ý thức lưu danh thiên cổ bằng sự cứu nước quả là cần thiết, là cao cả vô cùng” (Nguyễn Đình Chú). Còn mối quan hệ giữa con người với muôn thuở thì tác giả lại đặt ra câu hỏi “Khởi thiên tài hậu cánh vô thùy?” (Sau này muôn thuở há không ai?) Hỏi nhưng thật ra là để khẳng định. Tác giả có niềm tin vào chính mình, lại càng có niềm tin vào cộng đồng, vào dân tộc. Thơ Phan Bội Châu xói vào tâm can người ta, kích thích vào ý thức trách nhiệm của mỗi con người, giục giã con người hành động, chuyển dời tự nhiên, chuyển dời xã hội. Đấy chính là thơ của một nhà cách mạng. Sang hai câu luận, tác giả càng riết róng hơn về mối quan hệ giữa con người với non sông đất nước, giữa cuộc sống thực tại với sách vở của thánh hiền: “Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế
Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si”
(Non sông đã chết sống thêm nhục
Hiền thánh còn đâu học cũng hoài.)
Tác giả sử dụng thủ pháp nhân hóa “non sông đã chết” khiến ta cảm thấy “giang sơn” (non sông) như một sinh mệnh, thật đau lòng. “Non sông đã chết sống thêm nhục”
Nhiều nhà Nho thức thời cũng đã nói lên nỗi nhục mất nước, nhưng chưa có nhà Nho nào nói một cách triệt để, thống thiết như vậy. Đem sự sống chết của cá nhân mà gắn liền với sự vinh nhục của non sông đất nước thì không còn nghi ngờ gì nữa, Phan Bội Châu là nhà ái quốc vĩ đại. Sách vở của thánh hiền cũng chẳng rửa được vết nhơ nô lệ: “Hiền thánh còn đâu học cũng hoài”
Câu thơ nguyên tác trực cảm mãnh liệt hơn “Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si”, (Hiền thánh đã vắng thì có đọc sách cũng ngu thôi). Viết như vậy thì đúng như cụ Huỳnh Thúc Kháng nói “đầy mặt giấy mưa tuôn sấm nổ”. Không nên hiểu là cụ Phan phủ định sách của thánh hiền, mà nên hiểu cụ Phan đã hành cái đạo của thánh hiền một cách sáng suốt, cái sáng suốt của một nhà cách mạng. Mà có ông Khổng, ông Mạnh, ông Lão nào dạy các đệ tử ngồi “tụng” sách của quý vị trong khi nước mất dân nô lệ đâu? Tóm lại, từ quan niệm sống “ư bách niên trung tu hữu ngã”, trong hai câu luận, tác giả tự dồn mình vào cái thế phải xuất dương cứu nước. Hai câu kết, tác giả thể hiện trọn vẹn chủ đề “xuất dương lưu biệt” “Nguyện trục trường phong Đông hải khứ
Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi”,
(Muốn vượt biển Đông theo cánh gió
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi).
Hình ảnh đẹp, lãng mạn. “Muốn vượt biển Đông theo cánh gió”, không gian rộng lớn của biển Đông sánh với chí lớn của nhà cách mạng. Câu thơ dịch hay, xứng với tinh thần của nguyên tác. Nhưng câu kết “Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi” thì được cái tình của non nước đối với người ra đi, chứ không sát với nguyên tác. “Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi”
(Ngàn đợt sóng bạc cùng bay lên)
Hình tượng thơ làm hiển hiện trước mắt ta hàng ngàn đợt sóng sôi réo trắng xóa, lạ là không vỗ vào bở mà “nhất tề phi” (cũng bay lên). Hình tượng vừa kì vĩ vừa thơ mộng thể hiện được tinh thần phơi phới, nhiệt huyết, thăn hoa của nhà thơ mà cũng là nhà cách mạng. Muốn hiểu được nhà ái quốc vĩ đại Phan Bội Châu mà chưa đọc được hàng ngàn trang trước tác của cụ thì tốt hơn hết là đọc bài thơ “Xuất dương lưu biệt”. Một bài thơ nhỏ cũng cho ta thấy được chí nam nhi của người anh hùng, thấy được chí lớn muốn dời non lấp bể, thấy được ý thức trách nhiệm của cái “tôi” đối với lịch sử, với dân tộc, thấy được quan niệm sống chết, vinh nhục, thấy được hoài bão lớn lao của một nhà chi sĩ muốn cứu dân cứu nước. “Mượn Đông du thăm hỏi bạn đồng tâm, Hương Cảng, Hoành Tân, lỏi len đường mới. Ba tấc lưỡi mà gươm mà súng, nhà cầm quyền trông gió cũng gai ghê.
Một ngòi lông vừa trống vừa chiêng, cửa dân chủ khêu đèn thêm sáng chói.”
Đấy là mấy dòng Phan Bội Châu viết về Phan Châu Trinh, nhưng ta thấy hình ảnh của cả hai cụ Phan, hai tâm hồn yêu nước lừng danh trong lịch sử đấu tranh của dân tộc, giai đoạn đầu của thế kỉ này. Hoàn cảnh ra đời của bài thơ này là những năm đầu thế kỷ XX, đất nước ta đã mất chủ quyền, hoàn toàn lọt vào tay thực dân Pháp. Tiếng trống, tiếng mõ Cần Vương đã tắt, báo hiệu sự bế tắc của con đường cứu nước theo tư tưởng phong kiến do các sĩ phu lãnh đạo. Phan Bội Châu lúc này mới ba mươi tám tuổi, là hình ảnh tiêu biểu của một thế hệ cách mạng mới, quyết tâm vượt mình, bỏ qua mớ giáo lý đã quá lỗi thời của đạo Khổng để đón nhận tư tưởng tiên phong trong giai đoạn, mong tìm ra bước đi mới cho dân tộc, nhằm tự giải phóng mình. Phong trào Đông du được nhóm lên cùng với bao nhiêu hy vọng... Bài thơ đã thể hiện rất sinh động tư thế, ý nghĩ của Phan Bội Châu trong buổi xuất dương tìm đường cứu nước. Hai câu đề nói rõ nhận thức của nhà thơ về chí làm trai - một nhận thức làm cơ sở cho mọi hành động: Làm trai phải lạ ở trên đời Há để càn khôn tự chuyển dời.
Thực ra chí làm trai chẳng phải đến bây giờ mới được Phan Bội Châu khẳng định. Trước đó, trong thơ trung đại, ta vẫn thấy Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Công Trứ nhắc đến (ở các bài Thuật hoài, Chí nam nhi). Nhưng điều đó không có nghĩa là ở bài thơ của Phan Bội Châu, lý tưởng nhân sinh kia đã mất đi sự mới lạ, thôi thúc. Nó chính là điều nung nấu bao năm của tác giả bây giờ được nói ra, trước hết như lời tự vấn, tự nhủ, tự mình nâng cao tinh thần mình: đã làm trai là phải làm nên chuyện lạ, đó là trời đất không để "tự chuyển dời". Đây là một tư tưởng táo bạo, cách mạng đối với người xuất thân từ cửa Khổng sân Trình trong thời điểm ấy. Với hai câu thực, nhà thơ tiếp tục khẳng định tư thế của kẻ làm trai giữa vũ trụ và trong cuộc đời: Trong khoảng trăm năm cần có tớ, Sau này muôn thuở, há không ai ?
Ý thức về cái "tôi" đã hiện lên rõ ràng, không rụt rè, dè dặt. Đó là nhân vật trữ tình đang tự đứng giữa cuộc đời một cách can đảm, do ý thức được sứ mệnh của mình trong lịch sử và cũng do sự thôi thúc của khát vọng lập công danh. Hai câu luận nói về sự thực nhức nhối: Non sông đã chết sống thêm nhục, Hiền thánh còn đâu học cũng hoài.
Đến hai câu này, ta cũng thấy nổi lên ý chí làm trai với khát vọng lưu danh theo một nội dung mới, đó là ý thức về non sông đã mất chủ quyền, "hiền thánh" thần tượng một thuở giờ còn đâu nữa. Hai câu thơ nhận định thực trạng lịch sử bằng một cái nhìn dứt khoát. "Hiền thánh còn đâu học cũng hoài" - đây quả là một câu thơ thể hiện khí thế sục sôi của Phan Bội Châu, cho thấy cái nhìn tỉnh táo của ông về thời cuộc. Hai câu kết của bài thơ có cái khí thế gân guốc và ý thức được sự ra đi một cách sôi trào, đầy dũng khí: Muốn vượt biển Đông theo cánh gió, Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.
"Vượt biển Đông" là cách nói có vẻ khoa trương nhưng đó là hành động sắp diễn ra. Người ra đi trong niềm hứng khởi vô biên "muôn trùng sóng bạc" tiễn chân như một yếu tố kích thích. Đó chính là bạn đồng hành trong cuộc ra đi hùng tráng này. Xuất dương lưu biệt là một khúc hát lên đường. Đề tài có tính chất truyền thống, nhưng tư tưởng lại rất mới mẻ. Bài thơ mang âm hưởng lạc quan nên đã khiến cho cảm xúc thể hiện trong bài thơ có chiều sâu, có sức gợi cảm mạnh mẽ. Đây là tráng ca của một vị anh hùng mà suốt đời không hề biết mệt mỏi trong hành động cứu nước thương dân. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Soạn bài " Xuất dương lưu biệt"
|
|
|
|
Bài tham khảo:I. Kiến thức cơ bản1. Vài nét về tác giả- Phan Bội Châu tên thuở nhỏ là Phan Văn San (1867-1940), hiệu Sào Nam. Quê: Nam Đàn, Nghệ An. - Cuộc đời chia ba giai đoạn: + Trước 1905, Hoạt động ở trong nước. + Từ 1905-1925 hoạt độngcách mạng ở nước ngoài, lập hội Duy Tân, Phong trào Đông Du, Việt Nam quang phục hội. + Từ 1925-1940: Bị Thực dân Pháp giam lỏng ở Huế cho đến lúc mất. -Vừa là một lãnh tụ cách mạng, vừa là một nhà văn lớn. Thơ văn Phan Bội Châu là những lời tâm huyết chứa chan lòng yêu nước (Hải ngoại huyết thư), là vũ khí tuyên truyền vận động cách mạng sắc bén (Ngục trung thư, Trùng quan tâm sử…). 2. Hoàn cảnh sáng tác bài thơNăm 1905, sau khi vận động thành lập hội Duy Tân và để mở đầu phong trào Đông Du, Phan Bội Châu từ biệt các đồng chí ra nước ngoài. Bài thơ “Xuất dương lưu biệt” được sáng tác trong buổi chia tay này. II. Nội dung chính của bài thơ 1. Hai câu đề: Quan niệm về chí làm trai của Phan Bội Châu:-Thời phong kiến: nam tử sinh ra ở đời phải làm những công việc lớn lao có ích cho xã hội Lý tưởng nhân sinh. “ Đã mang tiếng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông” (Nguyễn Công Trứ)
Phan Bội Châu: đã làm trai phải làm nên chuyện lạ: xoay chuyển trời đất chí làm trai trong sự nghiệp cứu nước với một lý tưởng lớn lao và mãnh liệt. “ Làm trai phải lạ ở trên đời Há để càn khôn tự chuyển dời”
2. Hai câu thực: Ý thức tự khẳng định mình.- Khẳng định cái tôi trách nhiệm cống hiến cho đất nước trước lịch sử .Đó là một cái tôi cứng cỏi, đẹp đẽ, cần thiết và cao cả vô cùng. “Trong khoảng trăm năm cần có tớ Sau này muôn thuở há không ai?”
- Hình thức: + Câu 1: Khẳng định + Câu 2: Nghi vấn nhằm khẳng định lời giục giã của cái tôi trong buổi đầu xuất quân. 3. Hai câu luận: Quan niệm vinh nhục và thái độ đối với nền học vấn cũ:- Tác giả ý thức về nỗi nhục mất nước. “Non sông đã chết sống thêm nhục”
- Sách vở thành hiền không giúp gì cho thời buổi mất nước “Hiền thánh còn đâu học cũng hoài”
=>Quan niệm trên chứng tỏ tư tưởng tiến bộ, mới mẻ của Phân Bội Châu. 4. Hai câu kết: Khát vọng và tư thế của buổi lên đường- Khát vọng: Vượt bể đông Đây là một khát vọng hết sức lớn lao mạnh mẻ. -Tư thế: “thiên trùng bạch lũng nhất tề phi” khí thế trào lên sục sôi hăm hở =>Tư thế hăm hở ra đi tìm đường cứu nước. 5. Chủ đề: bài thơ thể hiện quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước của nhà cách mạng Phân Bội Châu.III. Tổng kết- Nội dung: Bài thơ nhỏ nhưng chứa đựng nội dung tư tưởng vừa phong phú vừa lớn lao: có chí làm trai, có khát vọng xoay chuyển vũ trụ, có ý thức cá nhân trách nhiệm cao cả, có hoài bảo lưu danh thiên cổ, có quan niệm vinh nhục ở đời, có thái độ mới mẻ và táo bạo về sách vở thánh hiền, có tư thế hăm hở ra đi tìm đường cứu nước. - Nghệ thuật: Bài thơ có một giọng điệu riêng đó chính là nét mạnh mẻ của lòng tâm huyết luôn sục sôi. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Đọc hiểu bài thơ "Xuất dương lưu biệt"
|
|
|
|
Bài tham khảo:
1. Hoàn cảnh sáng tác bài thơ
Năm 1905 Phan Bội Châu lên đường sang Nhật Bản>Khi chia tay bạn bè, đồng chí, Phan ứng khẩu đọc bài thơ này. Bối cảnh lịch sử, xã hội Virtj Nam lúc đó có những điểm đáng chú ý sau:
- Đất nước ta đang trong một hoàn cảnh chính trị rất đen tối, các cuộc đấu tranh vũ trang chống Pháp đã hầu như tan rã, thực dân Pháp đã làm chủ tình thế,ách đô hộ đã mặc nhiên quàng lên đầu lên cổ nhân dân. Nói như Phan Châu Trinh:
Vạn dân nô lệ cương quyền hạ, Bát cổ văn chương túy mộng trung. (Muôn dân nô lệ một đàn, Văn chương bát cổ nồng nàn giấc say.)
- Trong một bộ phận những người trí thức dân tộc, ý chí cứu nước không hề bị thui chột, nhưng vấn đề đặt ra cấp thiết là cứu nước bằng con đường nào? Và một ánh sáng mới đã bắt đầu loé lên. Người ta đón nhận những tư tưởng mới từ bên trời Âu truyền sang, người ta say sưa trước những thành tích duy tân của nước Nhật Bản, Trung Hoa. “Kì diều thay là sức quyến rũ của lí tưởng …thực tế càng ủ dột bao nhiêu thì cái viễn cảnh của tưởng tượng lại càng đẹp đẽ, thấm thía bấy nhiêu. Luồng máu nóng trong quả tim trai trẻ bị kích thíc đã bùng lên đến tột độ”(Đặng Thai Mai). Phan Bội Châu ra đi trong niềm say mê lí tưởng đó với một sứ mạng lịch sử đè nặng đôi vai: khôi phục lại đất nước, tái tạo giang sơn.
2. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là cảm hứng lãng mạn hào hùng sôi trào nhiệt huyết và cháy bỏng khát vọng ước mơ
- Chí làm trai:
Chí làm trai là một lí tưởng nhân sinh trong chế độ phong kiến, thể hiện tư tưởng nhập thế tích cực của đạo Nho. Chí làm trai đó thường gắn với cái mộng công danh:
Công danh nam tử còn vương nợ (Phạm Ngũ Lão) Không công danh thời nát với cỏ cây (Nguyễn Công Trứ)
hoặc để thoả cái chí "tang bồng hồ thỉ":
Chí làm trai nam, bắc, tây. đông, Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể (Nguyễn Công Trứ)
Và trong thực tế, không ít người đã lập nên công tích ở đời như Phạm Ngũ Lão từng “Múa giáo non sông trải mấy thu”, đánh đuổi giặc xâm lăng, giữ gìn đất nước; như Nguyễn Công Trứ từng khơi sông lấp biển, mang cuộc sống ấm no lại cho nhân dân…Phan Bội Châu cũng nói đến chí làm trai và cũng mong làm nên chuyện lạ ở đời:
Làm trai phải lạ ở trên đời,
Nhưng ở một nhà nho tân học, một nhà cách mạng nhiệt thành đang say mê hướng tới ánh sáng lí tưởng mới như Phan Bội Châu thì chuyện lạ đâu có phải là chuyện công danh, cũng đâu phải chỉ là phỉ sức vẫy vùng! Giữa lúc non sông chìm đắm, chí của Phan là chí xoay trời chuyển đất, lấp bể, vá trời chứ đâu chịu ngồi yên mà nhìn đất nước an bài theo ý muốn của bọn thực dân:
Há để càn khôn tự chuyển dời
Đó là lí tưởng sống mà vì nó Phan sẵn sàng hiến trọn cuộc đời mình, lí tưởng mà trước đó không lâu Phan đã nói rõ trong bài hát nói Chơi xuân:
Phùng xuân hội, may ra, ừ cũng dễ, Nắm địa cầu vừa một tí con con. Đạp toang hai cánh càn khôn Đenm xuân vẽ lại trong nnon nước nhà.
Với một lẽ sống như thế, tư thế con người trong vũ trụ là tư thế của một con người khổng lồ, con người làm chủ hoàn cảnh. Trong cảnh cá chậu chim ***g, giữa những tiếng tở dài bất lực ‘thời cơ đã lỡ rồi” của văn thơ Cần Vương cuói thế kỉ XIX, cái lẽ sống hào hùng, cái tư thế mạnh mẽ chủ động ấy có sức thu hút biết bao đối với cả một thế hệ thanh niên đương thời!
- Ý thức tự khẳng định mình giữa cuộc đời: Trong khoảng trăm năm cần có tớ,
Sau này muôn thuở há không ai?
Sự tự khẳng định này cũng là sụăt khẳng định của cái Tôi nhưng là một cái Tôi khác hẳn với cái Tôi cá nhân tư sản chỉ biết đòi hưởng thụ mà trốn tránh trách nhiệm với đời. Đây là một thái độ sống tích cực không buông trôi theo dòng đời mà cũng không thụ động chờ đợi . Cái Tôi ở đây là một cái Tôi trách nhiệm chủ động ghé vai gánh vác trọng trách ở đời. Lẽ sống anh hùng ấy gắn gắn liền với một nhân sinh quan thật cao cả, đẹp đẽ, nó vượt ra ngoài cái danh lợi tầm thường, tuy vẫn có ước vọng thật chính đáng là để lại tiếng thơm muôn đời. - Quan niệm về vinh nhục: Trong những tác phẩm văn học khác, có lúc Phan Bội Châu đã nói: “Bôi mặt thờ kẻ thù sẽ là một vật bẩn thỉu trong vũ trụ” (Việt Nam quốc sử khảo), “Sao bằng ngẩng đầu lên làm người lỗi lạc của Tổ quốc” (Hoà lệ cống ngôn). Đó là quan niệm về nỗi nhục và vinh trong trong câu thơ này: Non sông đã chết sống thêm nhục
Ở thời đại của Phan, không ít người thấm thía cái nỗi đau, nỗi nhục mất nước này, nhưng cách nói của Phan có cái gì đặc biệt, kích động tâm can con người. Một sự khẳng định thật dứt khoát, hàm chứa nỗi tức tối khôn nguôi “Giang sơn tử hĩ”(Non sông đã chết). Một sự phủ định cũng thật dứt khoát nhưng lại hàm chứa sự nóng bỏng sôi sục của con người không cam chịu cúi đầu; phủ định cuộc sống nhục nhã để tìm đến một lẽ sống vinh quang chứ không phải để chìm đắm trong đau buồn, thất vọng. Con người Phan là thế, lúc nào cũng sôi trào bầu nhiệt huyết. - Thái độ với những thần tượng cũ: Hiền thánh còn đâu học cũng hoài
Phan Bội Châu là một nhà nho, đã từng qua cửa Khổng, sân Trình, sách vở thánh hiền đã từng thấm sâu vào tim óc. Nhưng cùng với cả một thế hệ nhà nho tâm huyết lúc này, Phan đã được tận mắt thấy sự sụp đổcủa những thần tượng cũ trước làn sóng xâm lăng của thực dân, thấy sự bất lực của những tín điều xưa trước những vấn đề có liên quan đến sự mất còn của đất nước. Hơn thế nữa, ở thời đại “gió Âu, mưa Mĩ” này, một chân trời mới mẻ đã hé rạng trước mắt các nhà nho tiên tiến như Phan Bội Châu. Cái vốn sống, vốn tri thức ấy cộng với bầu nhiệt huyết sôi trào của một con người đang hăm hở tìm đường cứu nước đã giúp Phan Bội Châu có được một ý tưởng táo bạo và dứt khoát như thế với những cái gì đã cũ kĩ, lỗi thời, không đảm đương được trách nhiệm lịch sử đối với dân tộc nữa.
- Khát vọng và tư thế trong buổi lên đường:
Từ đầu bài thơ là những lời bộc bạch đầy hào khí, đến hai câu kết này, tác giả mượn một hình ảnh thơ thật đẹp, thật hùng tráng để bày tỏ lòng mình:
Muốn đuổi theo ngọn gió dài để đi ra biển Đông, Ngàn đợt sóng bạc cùng bay lên.
Phan Bội Châu ra đi lần này là để đi “tìm hình của nước”, để tiếp cận cái chân trời mơ ước đã mở ra từ những trang sách “tân thư”. Cho nên trong hành trang Phan Bội Châu mang theo không phải chỉ có cái chí “Đem xuân vẽ lại trong non nước nhà” của bản thân, mà còn cả biêt bao kì vọng của bạn bè, đồng chí, của nhân dân. Trách nhiệm đè nặng đôi vai, nhưng tâm hồn thì như đã rứt tung xièng xích, thả sức cho khát vọng ước mơ. Những ngọn gió dài (trường phong) và muôn trùng sóng bạc cùng một lúc bay lên (Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi) đã chắp cánh cho những khát vọng, ước mơ đó. Ta có cảm giác chính nhà cách mạng, nhà thơ này đã hoá thân thành những cánh chim bằng bay vút lên giữa sóng gió biển khơi, giữa cao rộng đất trời…Hình ảnh mang tính chất anh hùng ca này là kết tinh toàn bộ cái cảm hứng lãng mạn, hào hùng, cái tư thế khoẻ khoắn, hăm hở đầy nhiệt huyết, cái quyết tâm phi thường của nhân vật trữ tình là chính tác giả trong suốt bài lưu biệt này. Cùng với sự ra đi này của Phan Bội Châu, bài thơ Xuất dương lưu biệt có thể xem như mở đầu cho một loạt anh hùng ca của thời đại mới. Phân tích
Lưu biệt khi xuất dương được viết bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn bát cú Đường luật. Hình thức cổ điển nhưng tứ thơ, khí thơ và cảm hứng lại rất hiện đại, đó là sản phẩm tinh thần của một nhà nho tiến bộ. Bài thơ thể hiện một lí tưởng sống cao đẹp, đồng thời là một bài học về đạo làm người. Bài thơ là sự nối tiếp xuất sắc cảm hứng về chí làm trai của văn học truyền thống từ thời Phạm Ngũ Lão đến Nguyễn Công Trứ : Sinh vi nam tử yếu hi kì, Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di. (Làm trai phải lạ ở trên đời, Há để càn khôn tự chuyển dời.)
Hai câu thơ đã thể hiện một lí tưởng đẹp của con người. Con người phải làm chủ bước đi của lịch sử, phải tích cực tham gia vào sự vận động của thế sự. Mở rộng ra nghĩa là con người phải chủ động trước hoàn cảnh. "Làm trai" là khẳng định chí khí của thanh niên nói chung, chứ thực ra, Phan Bội Châu không phải là người có tư tưởng bảo thủ "trọng nam khinh nữ". Trong Trùng Quang tâm sử, ông đã thể hiện tư tưởng tiến bộ của mình qua việc xây dựng một số hình tượng người phụ nữ anh hùng, có chí khí như cô Chí (Tỏ mặt anh thư). Mở đầu bằng việc khẳng định lí tưởng truyền thống, tác giả đã tạo nên tâm thế để tiếp tục khẳng định : Ư bách niên trung tu hữu ngã, Khởi thiên tải hậu cánh vô thuỳ. (Trong khoảng trăm năm cần có tớ, Sau này muôn thuở, há không ai ?)
Một lời khẳng định dứt khoát, đầy khí phách về sức mạnh của con người trước càn khôn. ý thức về cái Tôi đã được tác giả tận dụng triệt để bằng cách tạo nên thế đứng đặc biệt : sự ngang hàng giữa "tớ" và “khoảng trăm năm". Đây không phải là sự đề cao cái Tôi một cách bi quan hay cực đoan như ở một số nhà thơ mới sau này mà là sự khẳng định trách nhiệm của mỗi người, nhất là thanh niên, đối với vận mệnh dân tộc. Câu thơ cũng là lời giục giã, đánh thức tinh thần đấu tranh của con người. Là lãnh tụ cách mạng đầy tâm huyết, Phan Bội Châu là người luôn có ý thức kêu gọi mọi người cùng góp sức tranh đấu. Để đánh thức tầng lớp thanh niên những năm đầu thế kỉ XX đang bị ru ngủ bởi những trò tiêu khiển được du nhập từ phương Tây, ông đã viết Bài ca chúc tết thanh niên (1927). Chính từ ảnh hưởng của bài thơ này mà đã có rất nhiều thanh niên ra đi tìm đường cứu nước. Sau khi khẳng định chí nam nhi, nhà thơ lại nói đến trách nhiệm đối với dân tộc của mỗi người. Tấm lòng và nhân cách cao đẹp của một nhà nho, một con người chân chính đã thể hiện ở đây : Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế, Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si ! (Non sông đã chết, sống thêm nhục, Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài !)
Hai câu luận vẫn tiếp tục được viết dưới hình thức đối ngẫu quen thuộc của thơ cổ điển, nó vừa khẳng định khí tiết vừa là quyết tâm của người chiến sĩ. Vào thời buổi đó của đất nước, ra đi tìm đường cứu nước là lí tưởng đúng đắn. Lúc này, khi dân tộc đã mất tự do, chủ quyền đất nước bị xâm hại, thì việc đầu tiên, cần thiết nhất không phải ngồi đó để học thứ văn chương cử tử nữa. Câu thơ không có ý chê bai hay bài xích chuyện học đạo thánh hiền mà chỉ có ý khuyên con người ta phải sống với thời cuộc. Nước mất thì nhà tan, thân nô lệ làm sao mà thực hiện được đạo thánh hiền. Câu thơ còn thể hiện nỗi xót xa của nhà thơ. Đất nước tao loạn, dân chúng lầm than, đói khổ, đạo đức xã hội suy đồi khiến những con người có trách nhiệm với dân tộc phải suy nghĩ mà đau lòng. Trên thực tế, khi thực dân Pháp vào xâm lược đất nước ta, văn hoá phương Tây vốn rất xa lạ với người phương Đông đã ồ ạt tràn vào Việt Nam, mang theo nhiều điều mới mẻ nhưng cũng không ít rác rưởi. Nó đã gây nên sự xáo trộn ghê gớm trong nền đạo đức, luân lí xã hội. Và trở thành nỗi đau đời của các nhà nho vốn coi trọng "tam cương ngũ thường". Non sông bị chà đạp, dân tộc mất tự do, nền luân lí, đạo đức xã hội bị đảo lộn đã khiến những người có trách nhiệm với dân tộc như Phan Bội Châu đau lòng. Những từ như tử (chết), nhuế (nhơ nhuốc), si (ngu) đã thể hiện thái độ khinh thường của tác giả đối với những kẻ tự ru ngủ mình bằng cách ngồi đọc sách thánh hiền trong lúc dân tộc đang lầm than, đồng thời khẳng định khí tiết hiên ngang, bất khuất của một nhân cách cao đẹp. Đến hai câu kết thì những nét bút kì vĩ cuối cùng đã hoàn thiện hành động kiệt xuất của một cuộc đời kiệt xuất: Nguyện trục trường phong Đông hải khứ, Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi. (Muốn vượt bể Đông theo cánh gió, Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.)
Khí thế ra đi thật hùng dũng và đầy quyết tâm, tràn trề sức mạnh. Câu thơ cuối cùng khẳng định bầu nhiệt huyết đang sục sôi của người ra đi. Hướng về phía đông (cụ thể là nước Nhật), người ra đi với một quyết tâm rất cao. Bản dịch chưa dịch hết được tinh thần của nguyên tác ở ba chữ nhất tề phi. Cái mạnh mẽ và hùng dũng, đầy nhiệt huyết và cũng tràn đầy hi vọng thể hiện ở câu thơ cuối cùng này. Hình ảnh kết thúc bài thơ hào hùng, lãng mạn, thể hiện được tư thế ra đi đầy khí phách của con người trong thời đại mới. Người ra đi đã gửi gắm bao nhiêu hi vọng vào con đường mình đã chọn. Vẫn tiếp tục thể hiện chí làm trai của văn học truyền thống nhưng Phan Bội Châu đã mang đến cho chí khí ấy một sắc màu, một khí thế mới, hiện đại hơn. Bài thơ không chỉ có ý nghĩa động viên khích lệ thế hệ thanh niên lúc đó mà còn thể hiện một lẽ sống đẹp, là bài học làm người cho thanh niên tầng lớp hùng hậu và mạnh mẽ nhất mọi thời đại. Nhân vật trữ tình trong bài thơ là hình tượng đẹp về một nhà nho tiến bộ đầu thế kỉ XX với lí tưởng cứu nước, khát vọng sống, chiến đấu vì dân tộc, lòng tin và ước mơ về một tương lai tươi sáng. Lời tạm biệt đầy nhiệt huyết, tâm thế ra đi đầy hào hứng và hiên ngang, bài thơ là khúc tráng ca của một thời đại đau thương nhưng đáng tự hào của dân tộc Việt Nam. Và là tấm gương sáng ngời muôn thủa để người đời sau soi mình. Đó là những giá trị bất hủ của Xuất dương lưu biệt. Bài thơ là lời mời gọi lên đường, gửi gắm một khát vọng hoài bão mãnh liệt, khẳng định tình yêu đất nước tha thiết và thôi thúc tin h thần chiến đấu và bảo vệ Tổ quốc của tác giả Giọng điệu bài thơ tâm huyết sâu lắng mà sôi sục, hào hùng, cùng với bút pháp khoa trương thể hiện niềm lạc quan, nhiệt tình hành động cùng những tư tưởng cách mạng của tác giả. Hình ảnh thơ kỳ vĩ, lớn lao kết hợp với những từ láy gây ấn tượng mạnh đã làm nổi bật được chí vá trời, lấp biển của nhà thơ Phan Bội Châu. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Phân tích bài thơ "Lưu biệt khi xuất dương"
|
|
|
|
Bài tham khảo:Tên tuổi ông gắn liền với các tổ chức yêu nước như Hội Duy Tân, phong trào Đông Du, Việt Nam Quang Phục hội…Tên tuổi Phan Bội Châu còn gắn liền với hàng trăm bài thơ, hàng chục cuốn sách, một số bài văn tế và vài ba vở tuồng chứa chan tinh thần yêu nước. Phan Bội Châu câu thơ dậy sóng (Tố Hữu). Năm 1900, Phan Bội Châu đậu giải nguyên khoa thi Hương Trường Nghệ. Năm 1904, ông sáng lập ra Hội Duy Tân, một tổ chức yêu nước. Năm 1905, ông dấy lên phong trào Đông Du. Trước lúc lên đường Đông Du, qua Trung Hoa, Nhật Bản để cầu ngoại viện với bao hoài bão tung hoành, ông đã để lại cho các đồng chí bài thơ Xuất dương lưu biệt. Có thể nói, bài thơ này như một mốc son chói lọi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và thơ văn Phan Bội Châu. Xuất dương lưu biệt được viết bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, là khúc tráng ca biểu lộ tư thế, quyết tâm hăm hở, và những ý nghĩ cao cả mới mẻ của chí sĩ Phan Bội Châu trong buổi đầu xuất dương cứu nước. Hai câu đề tuyên ngôn về chí hướng, về lẽ sống cao cả: Sinh nam tử yếu hi kì, Khẳng hứa càn khôn tự chuyển đi.
Tự hào mình là đấng nam nhi thì phải sống cho ra sống, mong muốn làm nên điều lạ (tử yếu hi kì). Suy rộng ra, là không thể sống tầm thường, không thể sống một cách thụ động để cho trời đất (càn khôn) tự chuyển dời một cách vô vị, nhạt nhẽo. Câu thơ thể hiện một tư thế, một tâm thế rất đẹp về chí nam nhi, tự tin ở đức độ, tài năng của mình, muốn làm nên sự nghiệp to lớn, xoay chuyển đất trời, như ông đã nói trong một bài thơ khác:
Dang tay ôm chặt bồ kinh tế, Mở miệng cười tan cuộc oán thù.
Gắn câu thơ với sự nghiệp cách mạng vô cùng sôi nổi của Phan Bội Châu ta mới cảm nhận được cái khẩu khí anh hùng của nhà chí sĩ vĩ đại. Đấng nam nhi muồn làm nên điều lạ ở trên đời, từng nung nấu và tâm niệm như trong một vần thơ cổ: Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch, Lập thân tối hạ thị văn chương. (Tùy biên thi thoại – Viên Mai)
(Bữa bữa những mong ghi sử sách, Lập thân xoáng nhất ấy văn chương)
Đấng nam nhi muốn làm nên điều lạ ở trên đời ấy có một bầu máu nóng sôi sục: Tôi được trời phú cho bầu máu nóng cũng không đến nỗi ít, lúc còn bé đọc sách của cha tôi, mỗi khi đến những chỗ nói người xưa chịu chết để thành đạo nhân, nước mắt dầm đìa rỏ xuống ướt đẫm cả giấy…(Ngục trung thư) Phần thực ý thơ được mở rộng, tác giả tự khẳng định vai trò của mình trong xã hội và trong lịch sử: Ư bách niên trung tu hữu ngã, Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy.
Ngã là ta; tu hữu ngã nghĩa là phải có ta trong cuộc đời một trăm năm (bách niên trung). Câu thơ khẳng định biểu lộ niềm tự hào lớn lao của kẻ sĩ yêu nước trong cảnh nước mất nhà tan. Thiên tải hậu là nghìn năm sau, là lịch sử của đất nước và dân tộc há lại không có ai (để lại tên tuổi) ư? Hai câu 3, 4 đối nhau, lấy cái phủ định để làm nổi bật điều khẳng định. Đó là ý thơ sâu sắc thể hiện vai trò cá nhân trong lịch sử: sẵn sàng gánh vác mọi trách nhiệm mà lịch sử giao phó. Ý tưởng đẹp này là sự kế thừa những tư tưởng vĩ đại của các vĩ nhân trong lịch sử: Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội có, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng (Trần Quốc Tuấn). - Nhân sinh tự cổ thùy vô tử, Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh (Văn Thiên Tường)
Lấy cái hữu hạn bách niên của một đời người đối với cái vô hạn thiên tải của lịch sử dân tộc, Phan Bội Châu đã tạo nên một giọng thơ đĩnh đạc, hào hùng biểu lộ quyết tâm và khát vọng trong buổi lên đường. Vì thế, trên bước đường cách mạng giải phóng dân tộc, trải qua muôn vàn thử thách và nguy hiểm, ông vẫn bất khuất, lạc quan:
Thân ấy hãy còn, còn sự nghiệp, Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu! (Cảm tác trong nhà ngục Quảng Đông)
Phần luận, tác giả nói về sự sống và cái chết, nói về đường công danh. Đây là một ý tưởng rất mới khi ta soi vào lịch sử dân tộc những năm dài đen tối dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Khi non sông đã chết, đã bị ngoại bang xâm chiếm, giày xéo thì thân phận dân ta chỉ là kiếp trâu ngựa, có sống cũng nhơ nhuốc nhục nhã. Trong hoàn cảnh ấy có nấu sử sôi kinh, có chúi đầu vào còn đường kinh sử cũng vô nghĩa. Sách vở của Thánh hiền liệu có ích gì trong sự nghiệp cứu nước cứu nhà: Non sông đã chết sống thêm nhục, Thánh hiền còn đâu học cũng hoài
Phan Bội Châu đã đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết. Ông nói bằng tất cả nhiệt huyết và chân thành. Ông nhắc nhở mọi người phải đoạn tuyệt với lối học cử tử, không thể đắm chìm trong vòng hư danh, mà phải hăm hở đi tìm lí tưởng cao cả. Trong Bài ca chúc tết thanh niên viết vào dịp Tết năm 1927, cụ thiết tha kêu gọi thanh niên: Ai hữu chí từ nay xin gắng gỏi Xếp bút nghiên mà tu dưỡng lấy tinh thần Đừng ham chơi, đừng ham mặc, đừng ham ăn Dụng gan óc lên đánh tan sắt lửa Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ…
Sống như thế nào là sống đẹp. Sống như thế mới mong làm nên điều lạ ở trên đời, mới tự khẳng định được: Trong khoảng trăm năm cần có tớ. Phần kết là sự kết tinh của một hồn thơ bay bổng đượm sắc màu lãng mạn: Nguyên trục trường phong Đông hải khứ, Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi
Thơ văn Phan Bội Châu là thơ văn tuyên truyền, cổ vũ lòng yêu nước, kêu gọi lòng căm thù giặc. Thơ văn Phan Bội Châu sở dĩ trở thành những bài ca ái quốc vì thấm đượm cảm xúc, sục sôi nhiệt huyết, có nhiều hình tượng đẹp nói về cảm hứng yêu nước và lí tưởng anh hùng. Hai câu kết này là một ví dụ: Trường phong – ngọn gió dài, Thiêu trùng bạch lãng – ngàn lớp sóng bạc, là hai hình tượng kì vĩ. Chí khí của người chiến sỹ cách mạng được diễn tả qua các vị ngữ: Nguyện trục (mong theo đuổi) và nhất tề phi (cùng bay lên). Cái không gian mênh mông mà nhà chí sĩ mong vượt qua là Đông hải. Nếu hai thanh trắc cuối câu 7 (Đông Hải khứ) làm cho âm điệu thắt lại, nén lại thì hai thanh bằng cuối câu 8 (nhất tề phi) lại làm cho âm điệu cất lên, bay lên. Âm hưởng trầm bổng ấy cũng góp phần thể hiện quyết tâm mạnh mẽ lên đường cứu nước cùa Phan Bội Châu. Ở đây nội lực, bản lĩnh chiến đấu và khẩu khí cùa người chiến sĩ có sự hòa hợp, gắn bó và thống nhất. Sự nghiệp cách mạng của Phan Bội Châu đã cho hậu thế biết rõ và cảm phục điều tiên sinh đã nói ở hai câu kết. Xuất dương lưu biệt là bai thơ tuyệt tác đầy tâm huyết. Bài thơ là tiếng nói tự hào của nhà chí sĩ giàu lòng yêu nước thương dân, dám xả thân vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Một giọng thơ đĩnh đạc hào hùng, tráng lệ nhất là ở hai câu kết. Bài thơ thể hiện một cách sâu sắc nhất cảm hứng yêu nước và lí tưởng anh hùng của nhà chí sĩ vĩ đại Phan Bội Châu. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Vẻ đẹp bi tráng của người nghĩa sĩ Cần Giuộc
|
|
|
|
Bài tham khảo:Người nông dân Việt Nam yêu nước chống ngoại xâm đã xuất hiện từ rất lâu, ít nhất cũng trên mười mấy thế kỷ nay. Nhưng trong văn học, hình ảnh người nông dân ấy chỉ thực sự xuất hiện vào nửa cuối thế kỷ XIX với bài văn “ Tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu đã tạo nên bức tượng đài nghệ thuật đầu tiên về người nông dân – nghĩa sĩ Việt Nam. Đó là hình tượng rất đẹp, rất chân thực đầy tính bi tráng, bi thương mà hào hung như cuộc chiến đấu bi tráng mà nhân dân Việt Nam đã tiến hành suốt nửa sau thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX, vì cuộc sống, vì độc lập, tự chủ của Tổ quốc mình. Nguyễn Đình Chiểu đã rất có lý, rất sâu sắc khi mở đầu khúc bi ca của mình: Hỡi ôi! Súng giặc đất rền: lòng dân trời tỏ.
Quả là, qua cuộc đấu tranh này, qua cái thử thách khắc nghiệt này, bản chất tốt đẹp, tấm lòng yêu nước của những nông dân bình thường này, vẻ đẹp thực sự của tâm hồn họ được bộc lộ một cách trọn vẹn. Họ vẫn có đấy, vẫn sống đấy, nhưng sống trong thầm lặng của sự quên lãng. Nguyễn Đình Chiểu, với sự cảm thông cao độ, nhận ra rằng cuộc sống của họ đã từng vất vả xiết bao: Nhớ linh xưa: Côi cút làm ăn, toan lo nghèo khó.
Bao nhiêu lượng thông tin chứa đựng trong tám tiếng ngắn ngủi ấy đã nói với chúng ta rất đầy đủ về tình cảnh của người nông dân Cần Giuộc, người nông dân lục tỉnh, cũng là người nông dân Việt Nam ngày đó. Bóng dáng của họ, nhỏ bé và cô đơn trong cuộc sống, sự khắc nghiệt và những tai họa trong thiên nhiên, từ xã hội, như hiện lên rõ mồn một qua từng chữ. Tưởng như, chỉ chừng ấy lo toan vất vả cũng quá đủ đối với họ, tưởng như họ, những người nông dân vất vả ấy, chẳng còn có thể nghĩ gì thêm, lo toan gì thêm ngoài những “ toan lo nghèo khó” vốn đã quá lớn lao ấy. Thế mà không, quân xâm lược đã xâm chiếm đất nước, đã đến tận xóm làng, đã đến tận ngôi nhà của họ. Và, những con người đang cúi xuống ấy bỗng đứng phắt dậy vươn vai, và họ chợt trở thành người khổng lồ như chú bé làng Gióng mấy nghìn năm xưa khi chợt nghe lời truyền của sứ giả. Nhưng có một điều cơ bản rất khác xưa là tiếng rao truyền cứu nước không phải phát đi từ cung điện nhà vua mà đã được phát đi từ chính trái tim của những người nông dân Cần Giuộc. Nó chính là lòng căm thù sôi sục vì hành động cướp nước: Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ. Bữa thấy bòng bong che trắng lốp: muốn tới ăn gan: ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.
Như một phản ứng hạt nhân tất yếu, lòng căm thù giặc cao độ đã làm nảy sinh một khát vọng cao độ: khát vọng đánh giặc. Đó là ước muốn hoàn toàn tự nhiên và hoàn toàn tự nguyện: Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình: Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc rat ay bộ hộ.
Người nông dân của Nguyễn Đình Chiểu thật đã khác hoàn toàn với người nông dân chỉ trước đó không bao lâu.” Bước chân xuống thuyền, nước mắt như mưa” khi phải sung làm lính đi biên thú phương xa để bảo vệ cương thổ của nhà vua. Tự nguyện chiến đấu, ấy là nét bản chất nhất trong hành động của người nghĩa sĩ thực sự. Phải chăng đó là sự tiếp tục giữa nghĩa sĩ Cần Giuộc đánh ngoại xâm với chàng tráng sĩ Lục Vân Tiên đánh cướp mà động cơ duy nhất: Nhớ câu kiến ngãi bất vi Làm người thế ấy cũng phi anh hùng.
Trong việc nghĩa, không có việc nào lớn hơn việc cứu nước. Thấy việc nghĩa thì phải làm, làm một cách vô tư, không vụ lợi, không chần chừ, không cần đợi có đủ điều kiện mới làm. Đó là chỗ bi kịch của người nông dân Cần Giuộc, đó cũng là chỗ hùng ca của người nghĩa sĩ Cần Giuộc. Bi kịch vì: Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin qua như trời hạn trông mưa.
Họ bắt đầu cuộc chiến đấu vào lúc lẽ ra triều đình phong kiến cùng quan quân của họ đã phải tiến hành cuộc chiến đấu ấy từ lâu nhưng lại “ án binh bất động” một cách khó hiểu. Bi kịch còn cho họ là những người: Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung, chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.
Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm: tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó. Bước vào chỗ sống chết của chiến trường mà những con người ấy chỉ mang theo những trang thiết bị chỉ đủ để làm những người cày ruộng. Trước giặc dữ là những tên lính nhà nghề có đủ “ tàu sắt tàu đồng”, đạn to, đạn nhỏ, họ chỉ là những người nông dân không có kiến thức gì về trận mạc, chỉ có “ một manh áo vải”, “ một ngọn tầm vông”, chỉ có “ lưỡi dao phay”. Cuộc chiến đấu mới chênh lệch làm sao! Kết cục cuộc chiến đấu ấy như thế nào thì đã rõ rang rồi. Đó là tấn bi kịch của những người nghĩa sĩ Cần Giuộc, cũng là tấn bi kịch của cuộc sống nước ta vào thời kỳ nghiệt ngã ấy, tấn bi kịch đã đưa đến cái họa mất nước kéo dài cả thế kỷ. Nhưng chính trong cái bi kịch ấy, bản hùng ca của cuộc sống đã cất lên. Hùng ca trước hết là sự ngoan cường của những con người quyết chiến thắng, vượt lên trên nỗi lo thất bại để chiến thắng, lấy tinh thần xả thân vì nghĩa để bù đắp hết mọi sự thiếu hụt, chênh lệch của mình so với kẻ thù: Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không, nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có, Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ.
Thật là phấn chấn, thật là hào hùng, thật là hả dạ. Đúng là họ đã chiến đấu như những người lính tuyệt vời dũng cảm. Ở đây, sức mạnh tinh thần đã phát huy đến mức tối đa và trong một chừng nào đó, đã tỏ rõ hiệu quả của nó trước sức mạnh của chiến thuật, của vũ khí, trang bị: Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia: gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rơi đầu quan hai nọ. …Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh…
Trong văn chương Việt Nam, cho đến Nguyễn Đình Chiểu, quả chưa hề có một bức tranh hào hùng như thế về tư thế chiến đấu của người lính áo vải. Hình ảnh người nông dân ở đây là sự kết tinh và thăng hoa ở mức độ cao nhất những gì vốn là bản chất của họ. Trong những giây phút tuyệt vời ấy, người nông dân Cần Giuộc đã đi vào vĩnh cửu. Quả Nguyễn Đình Chiểu đã tạc nên một bức tượng đài của người nông dân – nghĩa sĩ Cần Giuộc. Nhưng đây không phải là tượng đài của một người, mà của nhiều người, của một tập thể anh hùng. Không có cái tập thể ấy, không làm sao có được sự hòa hợp tuyệt đẹp, cái khí thế bừng bừng áp đảo hiểm nghèo, áp đảo cái chết, với những “ đạp rào lướt tới”, “ xô cửa xông vào”, với những “ kẻ đâm ngang người chém ngược”, bọn hè trước, lũ ó sau như thế được. Bức tượng đài của Nguyễn Đình Chiểu chỉ có một tên gọi chung là “ nghĩa sĩ Cần Giuộc”, còn mỗi người nghĩa sĩ trên đó đều vô danh. Họ không hề tìm cho mình một điều gì riêng mình khi chiến đấu. Cái duy nhất họ gửi lại cho đời, điều mà Nguyễn Đình Chiểu nêu lên như là một tiêu chí chung bên dưới bức tượng đài của họ, ấy là triết lý sống. Chết vinh hơn sống nhục. Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh: hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ. Hoàn thành bức tượng của mình, Nguyễn Đình Chiểu đã để một phần cuối cho những lời ca ngợi, thương tiếc và thắp những nén hương kính trọng:
Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân: cây hương nghĩa sĩ thấp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.
Cuộc tấn công của mấy chục nghĩa quân vào đồn Cần Giuộc của thực dân Pháp năm 1863 là cuộc tấn công đầu tiên của quân dân Việt Nam mở đầu cho cuộc kháng chiến chống Pháp. Số lượng thiệt hại mà quả thực họ tạo nên cho cuộc kháng chiến, cho lịch sử dân tộc, bằng lòng yêu nước thiết tha vô tư của họ, thì to lớn vô cùng. Họ sứng đáng được tạc thành tượng đài để đi vào bất tử. Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ của người nghệ sĩ nhân dân tạc nên bức tượng đài ấy. Năm 1859, giặc Pháp đánh chiếm Gia Định, Pháp đánh úp Cần Giuộc, một thị trấn cách Gia Định 23 km về phía Tây Nam. Ngày 16 tháng 12 năm 1861, nghĩa quân tập kích đồn giặc, hy sinh vài mươi người. Nguyễn Đình Chiểu dùng ngòi bút của của mình truy điệu những nghĩa quân hy sinh. Qua bài tế văn này, lần đầu tiên hình ảnh người nông dân Việt Nam đi vào văn học thành văn với tất cả vẻ đẹp và tầm vóc lịch sử vốn có của mình. Ta hãy cùng phân tích hình tượng người nông dân nghĩa sĩ qua bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu – một hình tượng nông dân bình thường mà vĩ đại, vì nước hy sinh, rực rỡ nét sử thi, làm rung động tâm hồn người đọc mọi thế hệ. Những người nghĩa sĩ ấy xuất thân là nông dân nghèo khó. Câu văn mở đầu giới thiệu cuộc đời họ là cui cút, khép lại là nghèo khó. Cui cút làm ăn., toan lo nghèo khó.
Trọn vẹn trong đó là hình ảnh những người làm ăn cần mẫn với những lo toan nhọc nhằn. Họ cũng chất phác, thật thà. Chưa quen cùng ngựa, đâu tới trường nhung, chỉ biết ruộng trân, ở trong làng bộ. Những con người ấy suốt cuộc đời tầm mắt chưa nhìn qua khỏi lũy tre làng, quanh năm cặm cụi với ruộng đồng, con trâu lưỡi cày. Câu kế tiếp liệt kê những công viêc nặng nhọc phủ vây con người lam lũ này: Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm:
Họ không biết chút gì về chiến trận: Tập khiên, tập sung, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.
Tuy nhiên, khi giặc Pháp đánh chiếm quê hương Nam Bộ, những người nông dân hiền lành, tăm tối ấy, dù hoàn toàn xa lạ với trận chiến binh đao, bỗng chốc trở thành người chiến sĩ anh hùng đánh Tây. Đó là sự phi thường với bản thân họ, nhưng cũng là lẽ bình thường khi chứng kiến cảnh nước mất nhà tan. Thực dân Pháp tiến công Nam Bộ đã hơn muoi tháng. Người dân mong chờ triều đình đánh giặc, nhưng trông tin qua như trời hạn trông mưa. Lúc đầu nghe thấy kẻ thù hôi tanh, mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, nên họ ghét thói xâm lăng mọi rợ đó như nhà nông ghét cỏ, thấy cỏ ở ruộng lúa là phải nhổ cho sạch. Khi kẻ thù hiện hình cụ thể trước mắt, toàn màu gay gắt, các lều trại của chúng che trắng lốp, những tàu thuyền của chúng nhả khói đen xì, lòng căm ghét chuyển thành căm thù, nên họ muốn tới ăn gan, muốn ra cắn cổ. Những động từ mạnh mẽ “ muốn ăn” muốn cắn” diễn tả mức độ căm thù lên đến tột đỉnh. Bữa thấy bong bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan, ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ, muốn tới ăn gan: ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.
Bên cạnh sự căm thù của tình cảm là sự căm thù của lý trí. Giặc Pháp lộ nguyên hình là những kẻ mượn chiêu bài truyền đạo, khai hóa ở nước ta nhưng thực chất là xâm lược, là một lũ dê bán chó. Đất nước văn hiến của ta không phải là vùng đất vô chủ mà chúng giành giật, mặc tình chém rắn đuổi hươu, cho nên dân ta há để chúng yên, thiên lý chói lòa đâu dung tha bọn xâm lược. Cả tình cảm lẫn lý trí đều nỗi giận, và do ý thức trách nhiệm, người nông dân tự nguyện đứng lên đánh giặc. Họ ra sức, ra tay với khí thế hào hùng, đoạn kinh, bộ hổ: Trong trận tập kích đồn Cần Giuộc này, họ là những người dũng sĩ công đồn. Họ không đợi tập rèn mười tám ban võ nghệ, cũng không chờ bày bố chin chục trận binh thư. Những người nông dân ấy cũng không chuẩn bị quân trang, nào đợi mang bao tấu bầu ngòi, chi nài sắm dao tu nón gõ. Vũ khí chỉ là ngọn tầm vông vạt nhọn, con cúi làm mồi lửa, lưỡi dao phay, vốn là những vật dụngntrong sinh hoạt hàng ngày: nhưng khi ở trong tay người chiến sĩ, tất cả đều trở thành vũ khí vô cùng lợi hại, đốt xong nhà dạy đạo kia, chem. Rơi đầu quan hai nọ. Biện pháp đối lập ( giặc thì đạn nhỏ, đạn to, tàu sắt, tàu đồng, còn ta thì ngọn tầm vông, lưỡi dao phay) đã cực tả quyết tâm chiến đấu của người nông dân nghĩa sĩ, dù kẻ thù có sức mạnh quan sự hơn ta gấp nhiều lần. Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không, nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xôngvào liều như mình chẳng có .
Kẻ đâm ngang người chém ngược, làm chi mã tà, ma ní kinh hồn, bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng sung nổ.
Nhiều cụm động từ diễn tả những động tác liên tục chống đỡ, công thủ mọi hướng, đạp rào lướt tới, xô của xông vào, đâm ngang, chém ngược, hè trước, ó sau. Từng vế câu đối nhau chan chat, quyết liệt. Hình ảnh những người nghĩa quân trong giờ phút căng thẳng cao độ của trận đánh được mô tả cực kỳ sinh động, thể hiện lòng dũng cảm tuyệt vời, sự hy sinh gan dạ của người nghĩa sĩ. Sự hy sinh của họ là một bi kịch, và tác giả vô cùng cảm kích: Những lăm lòng nghĩa lâu dùng: đâu biết xác phàm vội bỏ!.
Nhưng đây là một bi kịch cao cả thiêng liêng của những người chiến sĩ da ngựa bọc thây, những anh hùng vô danh nào đợi gươm hùm treo mộ. Cái chết của nghĩa quân gieo khắp không gian một vẻ u sầu, nơi người người một nỗi tiếc thương đau xót. Biện pháp ẩn dụ này cỏ ây mấy dặm sầu giăng và hình ảnh tả thực già trẻ hai hàng lụy nhỏ đã nói lên tình cảm bi thương đó. Càng thương hơn khi người ta hiểu được động cơ hy sinh vô cùng cao quý của nghĩa quân. Vì nghĩ tới tấc đất ngọn rau của quên hương, hạt cơm manh áo của nhân dân, không chịu làm nô lện, nên quyết tâm đánh giặc, dù phải hy sinh. Thà thác mà đặng câu định khái, về theo tổ phụ cũng vinh.
Cũng cần phân tích rõ trách nhiệm về cái chết của nghĩa quân. Dĩ nhiên là do giặc xâm lược, mắc mớ chi ông cha nó, nhưng cũng do triều đình hèn nhát, do bọn người theo dân tả đạo, ở lính Mã tà…Người nghĩa sĩ hy sinh thì bớt được mối hờn được trả, tấm lòng son sang mãi như ánh trăng rằm và phận bạc của họ cũng sẽ phôi pha, trôi theo ding nước đổ. Nhà thơ còn nghĩ đến số phận của quê hương Nam Bộ mà nhỏ lệ đau thương. Tiếng khóc của tác giả có bi thương nhưng không bi lụy.Đây là dòng nước mắt khóc người anh hùng như đang long lanh hình ảnh những con người nghìn năm tiết rỡ. Và sống đánh giặc thác cũng đánh giặc nên hồn thiêng nghĩa sĩ hay theo giúp cơ binh để đánh đuổi giặc thù ra khỏi bờ cõi. Lời khấn nguyện như đang thôi thúc những người đang sống hãy tiếp tục đứng lên chiến đấu diệt thù. Binh tướng nó hãy đóng song Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen, ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứ đặng một phường con đỏ. Tóm lại, qua bài văn tế này, người nông dân đã trở thành người anh hùng chân đất làm nên lịch sử. Một mặt họ vẫn lam lũ bé nhỏ, côi cút làm ăn, nhưng mặt khác, họ rất anh hùng. Anh hùng vì họ dám đánh giặc, dù chỉ với ngọn tầm vông, lưỡi dao phay, manh áo vải. Họ còn anh hùng hơn nếu so với thái độ sợ giặc, hàng giặc của triều đình. Quả thật người nông dân nghĩa sĩ đã gánh trên vai cả gánh nặng lịch sử “ một thời khổ nhục nhưng vĩ đại”. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Hình tượng người nghĩa sĩ
|
|
|
|
Bài tham khảo:Trên bầu trời văn chương Việt Nam, Nguyễn Đình Chiểu như một ngôi sao sáng, càng nhìn càng sáng. Văn chương của ông sáng ngời đạo lý dân tộc và tư tưởng yêu nước. Ông đã đễ lại cho hậu thế những tác phẩm bất hủ như: Lục Vân Tiên, Ngư tiều y thuật vấn đáp, nhiều bài thơ, bài văn tế…Nổi tiếng và gây xúc động nhất là Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. Ở bài văn này, lần đầu tiên, hình ảnh người nông dân nghĩa sĩ được coi như “ một phát hiện mới thơ dành cho họ vị trí chưa từng có trong tác phẩm., họ trở thành nhân vật chính – anh hùng thời đại. Không phải ngẫu nhiên Nguyễn Đình Chiểu dùng một bài văn tế theo thể luật, gọi đúng là thể phú Đường luật ( phú cận thể) một thể loại dùng trong tang ma phúng điếu với nội dung chủ yếu là ca ngợi công đức người được tế… để nói về những người nghĩa sĩ. Có lẽ, nhân vật nghĩa sĩ hy sinh vì nước có tầm vóc lớn lao, đáng kính phục…thích hợp với một hình thức diễn đạt như vậy? Khoan hãy bàn đến vấn đề này. Ta cần xem xét một cách toàn diện về nhân vật mà Nguyễn Đình Chiễu đã dựng nên trong tác phẩm. Ở phần mở đầu, Nguyễn Đình Chiểu đã nói về thời cuộc, khái quát về cuộc đời nhân vật. Trong câu mở đầu Súng giặc đất rền – lòng dân trời tỏ… Lời và ý đối nhau một cách hoàn chỉnh, diễn đạt hai nội dung của thời đại rất cụ thể, giặc xâm lược, có vũ khí hiện đại – dân ta chống xâm lược, chỉ bằng lòng yêu nước. Người nghĩa sĩ trong bài văn buộc phải tỏ lòng yêu nước của mình trong bối cảnh như thế. Câu văn như báo trước sự hy sinh của nhân vật là tất yếu. Cho nên “ mười lăm công vỡ ruộng”, ít ai biết đến họ. Thế mà chỉ “ một trận nghĩa đánh Tây – tuy là mất”, là chết – danh tiếng họ đã “ vang như mõ”. Từ những con người bình thường sống sau lũy tre, rặng dừa, mái nhà… họ vụt trở thành anh hùng, vì nghĩa lớn mà hy sinh. Và họ trở thành đối tượng của sự chú ý, trở thành nhân vật để nhà văn ca ngợi. Lời ca ngợi họ, bắt đầu từ cuộc sống lao động lặng thầm, cực khổ đến một đời chiến đấu anh dũng, vẻ vang. Cuộc sống lao động vất vả trong cuộc đời họ được nhà văn thâu tóm trong hai câu thích thực khá trọn vẹn Côi cút làm ăn – toan lo nghèo khó. Hai nét bản chất ấy được triển khai làm rõ hơn ở những chi tiết giản dị, cụ thể, mộc mạc nhưng tiêu biểu, chọn lọc. "Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung: chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ. Việc cuốc, việc cày,việc bừa, việc cấy…tay vốn làm quen: tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ..mắt chưa từng ngó”. Ở đây có hai loại chi tiết: những cái họ biết, họ quen ( ở làng bộ, cây cuốc, bừa) và những cái họ chưa từng quen, chưa từng ngó ( cung, ngựa, trường nhung, khiên, mác, cờ..) Với hai loại chi tiết đối lập này, có thể kết luận rằng: họ chỉ là những nông dân nghèo khổ, cần cù, gắn bó với những làng quê thanh bình, chưa hề biết việc binh đao. Cho nên, khi giặc Pháp kéo tới với tàu sắt, tàu đồng, họ đã phải trải qua tâm trạng lo âu, phấp phỏng. Họ “ trông tin quan như trời hạn trông mưa”. Và họ đã thất vọng vì đã “ hơn mươi tháng”, triều đình vẫn không thực hiện trách nhiệm cứu dân, cứu nước vốn là nghĩa vụ của vua, quan. Họ đã bị bỏ rơi!. Sống trong một vùng giặc chiếm đóng mùi tinh chiến vấy vá đã ba năm, họ căm, ghét“ thói mọi” một cách cảm tính, tự nhiên như nhà nông ghét cỏ. Nỗi căm ghét ngày một lớn lên trước sự nghênh ngang khiêu khích của những” bong bong che trắng lốp”, những “ ống khói chạy đen sì” trông đến nhức mắt. Họ đã muốn “ tới ăn gan”, muốn “ ra cắn cổ”, giết và xóa sạch chúng đi. Bị triều đình bỏ rơi trong vùng đất giặc chiếm đóng, họ đã ý thức được vao trò của cá nhân và ý thức được trách nhiệm đối với nền độc lập của Tổ quốc. Tổ quốc ( một mối xa thư đồ sộ) và chân lý độc lập đã được khẳng định ( hai vầng nhật nguyệt chói lòa), không thể bị xâm phạm như một chốn không người. Họ “ há để ai chém rắn đuổi hươu”. Họ “ đâu dung lũ treo dê bán chó”. Triều đình không đánh giặc thì họ phải nhận lấy trách nhiệm thiêng liêng này. Việc đầu binh trở thành việc tự nguyện hoàn toàn. “ Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này ra sức đoạn kình” Chẳng them trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ”
Những từ” xin ra sức, dốc ra tay” diễn tả thật sinh động và chính xác ý thức tự nguyện của họ. Thời cuộc vá hoàn cảnh sống cụ thể, nỗi nhức nhối về cái nhục mất nước, ý thức về dân tộc và đất nước đã biến những người nông dân hiền lành thành những người chiến đấu vì đại nghĩa. Họ đã trở thành người nghĩa binh tự nguyện gánh vác việc đánh giặc cứu nước. Trở thành “ quân chiêu mộ”, họ vẫn là “ dân ấp, dân lân”, chưa hề được “ tập rèn võ nghệ”, không hề biết đến binh thư. Họ chỉ có một tấm lòng “ mến nghĩa”, vì đại nghĩa - trang bị thay cho những điều cơ bản của việc binh đao! Cuộc đời nghèo khó của họ thế nào thì họ xuất hiện trên chiến trường như vậy. Họ chỉ có “ một manh áo vải, trong tay cầm một ngọn tầm vông” , hay “ rơm con cúi, lưỡi dao phay”… Đó không phải là vũ khí mà những vật dụng thường ngày trong sinh hoạt và lao động. So sánh với những đạn nhỏ,đạn to, tàu sắt tàu đồng của quân thù, ta không khỏi kinh ngạc và ngậm ngùi bởi cuộc chiến không cân sức. Lòng dân trời tỏ là ở chỗ này chăng? Với những câu văn đối nhau bị ngắn vụn tơi tả, với hàng loạt động từ nhanh và mạnh, với những chi tiết dồn dập… Nguyễn Đình Chiểu đã khắc họa được khoảnh khắc hào hùng của người chiến sĩ trên chiến trận. Chi nhọc quan quản giống trống kỳ, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không, nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho lũ mã ta ma ní kinh hồn, bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt, tàu đồng sung nổ. Hai câu văn tế vừa khắc họa dũng khí, sự can đảm đến liều lĩnh của người nghĩa sĩ khiến quân thù khiếp sợ, vừa diễn tả cách đâm ngang, chém ngược, của những người nông dân chưa thạo chiến trận. Và tất yếu, tuy tỏ được lòng mình nhưng họ đã hy sinh! Ngậm ngùi thay, cảnh mẹ già ngồi khóc trẻ, vợ yếu chạy tìm chồng…khiến ta đau xót và thấu hiểu sâu sắc hơn sự hy sinh của họ vì đại nghĩa lớn đến chừng nào? Tóm lại, hình ảnh người chiến sĩ phần lớn được thể hiện ở phần thích thực của bài văn tế. Ở phần này, cuộc đời của nhân vật đã được kể lại khá rõ như đã nói ở trên. Tuy nhiên, ở những phần khác của bài văn, qua lời than tiếc ( ai điếu) và lời vĩnh biệt ( ai vãn) của tác giả…hình bóng họ vẫn thấp thoáng ẩn hiện trong lòng người, trong lòng non song đất nước. Họ ra đi nhưng họ còn để lại sau mình mẹ già, vợ yếu ( gánh nặng gia đình), để lại Bến Nghé, Đồng Nai còn bốn phía mây đen ( trách nhiệm đối với đất nước). Tuy vậy, họ vẫn là những con người sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen…Họ đã trở thành nhân vật bất tử. Qua những điều vừa phân tích nêu trên, có thể nói trong văn chương Việt Nam, lần đầu tiên nhân vật người nông dân vì nghĩa được khắc họa sâu đậm và toàn diện. Trước Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Trãi đã nói tới dân: dân đen, con đỏ, kẻ cấy cày, nhân dân bốn cõi… nhưng hình bong của họ là bong dáng chung, chưa cụ thể nhưng là người dân ấp, dân lân vì nghĩa này. Qua những người lính cứ ba xuất đinh thì họ chọn lấy một người ở Nghệ An do Quang Trung tuyển, cũng được xếp vào trung quân trong hàng ngũ chỉnh tề của cuộc hành quân chỉ huy chặt chẽ: tiền, hậu, tả, hữu…( Hoàng Lê nhất thống chí – Ngô Gia Văn Phái).Nhưng trong tác phẩm này, người nghĩa binh lại chưa quen cùng ngựa, đánh giặc chỉ bằng dao phay, rơm con cúi… Vai trò của dân trong các tác phẩm tiến bộ trước đó là cùng giai cấp phong kiến lám ra lịch sử. Ở đây, người nông dân đơn phương đánh giặc, hy sinh vì nước khi họ bị triều đình bỏ rơi. Họ góp vào trang sử dân tộc những trang máu lửa của sự tạm thời thất bại trước một kẻ thù mạnh hơn mình gấp bội. Họ như tro than ủ mồi lửa yêu nước cho các thế hệ sau…Quả vậy, sau này, trong văn chương Đỗ Chiểu và văn chương của nhiều tác giả khác, hình ảnh người sĩ phu, trí thức, nông dân chống Pháp, lại một lần nữa tỏa sang trong các bài. Văn tế Trương Định, Điếu Phan Tòng, Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh, Hịch đánh Tây… Bằng một bài văn tế điển hình, đạt tới trình độ nghệ thuật cao. Nguyễn Đình Chiểu đã hết lòng ca ngợi người nghĩa sĩ hy sinh vì nước trong những ngày đầu chống Pháp. Tình cảm mà ông dành cho họ nói lên lòng yêu nước, quan điểm chống Pháp mà ông đã theo đuổi đến trọn đời. Nhân vật và cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu đã trở thành tấm gương sang vì nước quên mình cho các thế hệ sau noi theo. Nhân vật và chính ông thật xứng đáng với nhận xét là “ những ngôi sao càng nhìn càng sáng” ( Phạm Văn Đồng). Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Phân tích hình ảnh người nghĩa sĩ trong bài "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc"
|
|
|
|
Bài tham khảo:Trên bầu trời văn chương Việt Nam, Nguyễn Đình Chiểu như ngôi sao sáng càng nhìn càng sáng. Văn chương ông sáng ngời đạo lí ở đời và lấp lánh ánh sáng của tư tưởng yêu nước. Ông đã để lại cho hậu thế những tác phẩm bất hủ như: "Lục Vân Tiên", "Ngư tiều vấn đáp y thuật", nhiều bài thơ, bài văn tế… Nổi tiếng và gây xúc động nhất là "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc". ở bài văn này, lần đầu tiên, hình ảnh người nông dân nghĩa sĩ được coi như "một phát hiện mới, nhà thơ dành cho họ vị trí chưa từng có trong văn chương"; họ trở thành nhân vật chính - anh hùng của thời đại. Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Đình Chiểu sáng tác bài văn tế theo thể phú Đường luật (phú cận thể), một thể loại dùng trong tang ma phúng điếu với nội dung chủ yếu là ngợi ca công đức những người nông dân nghĩa sĩ đánh Pháp cuối thể kỉ XIX. Có lẽ, nhân vật người nghĩa sĩ hi sinh vì nước có tầm cỡ lớn lao, đáng kính phục… thích hợp với một hình thức diễn đạt tiếc thương và trang trọng như vậy? ở phần lung khởi (phần mở đầu). Nguyễn Đình Chiểu đã nói về thời cuộc, khái quát về cuộc đời nhân vật. Trong câu mở đầu "Súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ" đối nhau một cách hoàn chỉnh, diễn tả hai nội dung của thời đại rất cụ thể: giặc xâm lược, có vũ khí hiện đại, dân ta chống xâm lược, chỉ bằng lòng yêu nước. Người nghĩa sĩ đã thể hiện lòng yêu nước và căm thù giặc trong bối cảnh như thế. Câu văn như báo trước số phận éo le, báo trước sự hi sinh của nhân vật là tất yếu. Cho nên "Mười năm công vỡ ruộng", ít ai biết đến họ. thế mà chỉ "một trận nghĩa đánh Tây" - "tuy là mất", là chết - danh tiếng họ đã "vang như mõ". Từ những con người bình thường sống sau luỹ tre, rặng dừa, mái lá…, họ vụt trở thành nổi tiếng, vì nghĩa lớn mà hi sinh. Và họ đã trở thành những anh hùng nghĩa sĩ của thời đại đau thương và anh dũng. Lời ca ngợi họ, bắt đầu từ một cuộc sống lao động lặng thầm, cực khổ đến một cuộc đời chiến đấu anh dũng, vẻ vang. Cuộc sống lao động vất vả trong đời họ, được nhà văn thâu tóm trong hai câu thích thực mở đầu khá trọn vẹn: "Côi cút làm ăn - Toan lo nghèo khó". Hai nét bản chất ấy được triển khai làm rõ hơn ở những chi tiết giản dị, cụ thể, mộc mạc nhưng tiêu biểu, chọn lọc: Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;
Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.
Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;
Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cơ mắt chưa từng ngó.
ở đây có hai chi tiết: những cái họ biết, họ quen và những cái họ chưa quen, chưng từng ngó. Với hai loại chi tiết này, có thể kết luận rằng: họ chỉ là những người nông dân nghèo khổ, cần cù, gắn bó với làng quê thanh bình, chưa hề biết việc đao binh, chiến trận. Cho nên, khi giặc Pháp kéo tới với "tàu chiếc, tàu đồng", họ đã phải trải qua một tâm trạng lo âu, phấp phỏng. Họ "trông tin quan như trời hạn trông mưa". Và họ đã thất vọng vì đã "hơn mươi tháng", triều đình vẫn không thực hiện trách nhiệm cứu dân cứu nước vốn là trách nhiệm của vua, quan. Họ đã bị bỏ rơi! Sống trong vùng đất giặc chiếm đóng "mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm", họ căm ghét "thói mọi" một cách cảm tính, tự nhiên "như nhà nông ghét cỏ". Nỗi căm ghét ngày một lớn lên trước sự nghênh ngang khiêu khích của những "bòng bong che trắng lốp", những "ống khói chạy đen xì" trông đến nhức mắt. Họ đã muốn "tới ăn gan", muốn "ra cắn cổ", giết và xóa sạch lũ giặc Lang Sa. Bị triều đình bỏ rơi trong vùng đất giặc chiếm đóng, họ đã ý thức được vai trò của cá nhân mình và ý thức được trách nhiệm đối với nền độc lập của Tổ quốc. Tổ quốc (một mối xa thư đồ sộ) và chân lí độc lập đã được khẳng định (hai vầng nhật nguyệt chói lòa) không thể bị xâm phạm như một chốn không người. Họ "há để ai chém rắn đuổi hươu". Họ "đâu dung lũ treo dê bán chó". Triều đình không đánh giặc thì họ phải nhận lấy nghĩa vụ thiêng liêng này. Ra trận đánh giặc đối với họ là việc tự nguyện hoàn toàn. Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình;
Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.
Những từ "xin ra sức", "dốc ra tay" diễn tả thật sinh động và chính xác ý thức tự nguyện của họ. Thời cuộc và hoàn cảnh sống cụ thể, nỗi nhức nhối và tủi nhục mất nước, ý thức về dân tộc và đất nước đã biến những người nông dân hiền lành thành những nghĩa quân chiến đấu vì đại nghĩa. Họ đã trở thành người nghĩa sĩ tự nguyện gánh vác việc đánh giặc, cứu nước, cứu nhà. Trở thành "quân chiêu mộ", họ vẫn là "dân ấp dân lân" chưa hề "tập rèn" "võ luyện", không hề biết đến "binh thư". Họ chỉ có một tấm lòng "mến nghĩa", vì đại nghĩa - trang bị thay cho những điều cơ bản của việc binh đao! Cuộc đời nghèo khó của họ thế nào thì họ xuất hiện trên chiến trường như vậy. Họ chỉ có "một manh áo vải", "trong tay cầm một ngọn tầm vông", hay "rơm con cúi", "lưỡi dao phay"… Đó không phải là vũ khí mà là những vật dụng thường ngày dùng trong sinh hoạt và lao động. So sánh với những "đạn nhỏ đạn to", "tàu thiếc tàu đồng" của quân thù, ta không khỏi kinh ngạc và ngậm ngùi bởi một cuộc chiến không cân sức. "Lòng dân trời tỏ" là ở chỗ này chăng? Với những câu văn gối hạc bị ngắt thành ba vế, với hàng loạt động từ nhanh và mạnh, với những chi tiết dồn dập…, Nguyễn Đình Chiểu đã khắc họa được khoảnh khắc hào hùng của người nghĩa sĩ trong chiến trận: Chi nhọc quan quản giống trống kì, trống giục, đạp rào lướt tới,
coi giặc cũng như không;
Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào
liều mình như chẳng có.
Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà, ma ní hồn kinh;
Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc tàu đồng súng nổ.
Hai câu văn tế vừa khắc họa dũng khí, sự can đảm đến liều mình của người nghĩa sĩ khiến quân thù phải khiếp sợ, vừa diễn tả cách đánh "đâm ngang", "chém ngược" của những người nông dân chưa thạo chiến trận. Và tất yếu, tuy tỏ được lòng mình nhưng họ đã hi sinh! Ngậm ngùi thay! Cảnh: "Mẹ già ngồi khóc trẻ", "vợ yếu chạy tìm chồng"… khiến ta đau xót và thấu hiểu sâu sắc hơn sự hi sinh của họ vì đại nghĩa lớn đến chừng nào? Tóm lại, hình ảnh người nghĩa sĩ đã được Nguyễn Đình Chiểu khắc họa trong bài văn tế là hình ảnh những người nông dân hiền lành, chất phác, nghèo khổ: vì đại nghĩa mà trở thành nghĩa binh; chiến đấu dũng cảm, quên mình, hy sinh vì nước. Hình ảnh người nghĩa sĩ phần lớn được thể hiện ở phần thích thực của bài văn tế. ở phần này, cuộc đời của nhân vật đã được kể lại khá rõ như đã nói ở trên. Tuy nhiên, ở những phần khác của bài văn, qua lời than tiếc (ai điếu) và lời vĩnh biệt (ai vãn) của tác giả… hình bóng họ vẫn thấp thoáng ẩn hiẹn trong lòng người, trong lòng non sông đất nước. Họ ra đi nhưng còn để lại "mẹ già", "vợ yếu", để lại "Bến Nghé", "Đồng Nai" còn "bốn phía mây đen". Tuy vậy, họ vẫn là những con người "sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc", "danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen"… Họ đã trở thành những anh hùng bất tử! Có thể nói trong văn chương Việt Nam, lần đầu tiên nhân vật người nông dân vị nghĩa được khắc họa sâu đậm và toàn diện. Trước Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Trãi đã nói tới "dân": "dân đen", "con đỏ", "kẻ cấy cày", "nhân dân bốn cõi"… nhưng bóng đáng của họ là bóng dáng chung, chưa cụ thể như là những người "dân ấp dân lân" vị nghĩa này. Nghĩa sĩ Cần Giuộc là những người nông dân Nam Bộ trong thế kỉ XIX "chưa quen cung ngựa", đánh giặc bằng "dao phay", "rơm con cúi", nhưng đã "chém rớt đầu quan hai nọ"… Hình ảnh những sĩ phu, trí thức, nông dân chống Pháp còn được khắc hoạ trong nhiều tác phẩm của Đồ Chiểu như: Văn tế Trương Định, Điếu Phan Tòng, Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh, Hịch đánh Tây… Qua "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc", Nguyễn Đình Chiểu đã nhiệt liệt ca ngợi người nghĩa sĩ hi sinh vì nước trong những ngày đầu chống Pháp. Tình cảm mà ông dành cho họ nói lên lòng yêu nước, quan điểm chống Pháp mà ông thực hiện đến trọn đời. Tên tuổi, cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu mãi mãi là tấm gương sáng vì nước quên mình cho các thế hệ sau noi theo. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Phân tích "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc"
|
|
|
|
Bài tham khảo:Trong văn học, phải đến thế kỉ XIX khi Nguyễn Đình Chiểu - một nhà nho yêu nước dùng con mắt yêu thương và kính phục để viết nên “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” thì hình ảnh người nông dân mới thực sự xuất hiện. Đó là hình tượng đẹp, rất đỗi chân thực và đầy chất bi tráng, vừa hào hùng, vừa đau thương trong cuộc chiến đấu giành độc lập, tự do của đất nước. Những người nông dân ấy, họ sinh ra đâu phải để làm chàng Gióng Phù Đổng, Lê Lợi, Quang Trung… Họ chỉ là những con người quanh năm khoác trên mình màu áo nâu của đất, bình dị và lam lũ. Nhưng họ xuất hiện trong khung cảnh bão táp của thời đại: Hỡi ôi! Súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ
Họ đâu đã quen nghi tiếng súng. Âm thanh ấy đã phá tan cuộc sống bình lặng của họ. Một cuộc sống từ sáng đến tối bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, một cuộc sống chật vật với những lo toan nghèo khó. Cái nghèo đã làm họ thật nhỏ bé suốt ngày “cui cút làm ăn”.. Chỉ một câu văn, cụ Đồ Chiểu đã vẽ nên vòng đời luẩn quẩn không lối thoát của người dân Việt, người “dân ấp dân lân” Nam Bộ, bắt đầu với cui cút, vật lộn làm ăn để cuối cùng vẫn kết thúc trong nghèo khó. Đằng sau luỹ tre làng ấy, họ biết sao được những “cung ngựa”, “trường nhung”.. trong cái nhìn của họ chỉ có “con trâu là đầu cơ nghiệp”. Đến việc cuốc, việc cày, bừa, khiên đã quá quen thuộc thì giờ tập khiên, tập súng.. thật lạ lẫm. Những tưởng họ mãi cam chịu như thế. Nhưng không, khi quân xâm lược đã xâm chiếm đất nước, chúng đang giày xéo lên từng mảnh ruống, từng đám đất quê hương ruột thịt của họ. Giờ đây, trong những “lo toan” không chỉ có đói nghèo mà còn là những thấp thỏm, lo âu: “Tiếng phong hạc phập phồng hơn mười tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa…” Thấy “mùi tinh chiên vấy vá” không thể chống mắt đứng nhìn, không thể ngồi yên mà đợi. Triều đình đã “bỏ rơi” họ, nhưng làm sao ngăn được tình yêu đất nước nồng nàn ở họ. Bọn xâm lăng kia đã cướp đi những gì máu thịt của họ, chúng phá vỡ giấc bình yêu nơi thôn quê, làm sao không căm cho được. Nỗi uất hận đển tột cùng ấy đã biến những con người nhỏ bé tầm thường thành chàng Gióng khổng lồ trong cổ tích. Khi Tổ quốc lầm than, họ không ngần ngại chung vai góp sức. Lòng yêu nước đã biến thành lòng căm thù giặc đến sôi sục: “Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan. Ngày xem ống khói chạy đen sì muốn ra cắn cổ Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắng đuổi hươu Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó”
Lòng yêu Tổ quốc tha thiết xuất phát từ trái tim đã khiên họ trở nên đẹp đẽ, lấp lánh… Dòng máu Lạc Hồng cuộn chảy trong người cùng với cơn giận của lòng yêu nước mạnh hơn yếu hèn, mạnh hơn cái chết. Khát vọng đánh giặc, khát vọng chiến đấu, khát vọng bảo vệ mảnh đất quê hương đã thôi thúc họ, mặc việc “đợi tập rèn”, “ban võ nghệ”, “bày bố binh thư”, không màng tới trên mình chỉ có “một manh áo vải”. Các chàng Gióng của thế kỉ XIX đã đến, “đạp rào lướt tới”, coi giặc cũng như không. Hỡi ôi, “một manh áo vải”, “một ngọn tầm vông”, chỉ có “lưỡi dao phay”, “rơm con cúi”, liệu có thể thắng được “tàu chiến tàu đồng”,” đạn nhỏ đạn to”. Đó là bi kịch của nghĩa sĩ Cần Giuộc hay chăng là tấn bi kịch của thời kì nghiệt ngã ấy. Họ là nông dân nhưng lại làm kinh ngạc cả chiến trường. Phải chăng cũng vì lẽ đó mà bản hùng ca đã cất lên trong tiếng nấc lòng. Có thể trận mạc đã vĩnh viễn cướp đi cuộc sống của họ, nhưng tinh thần xả thân vì nghĩa đã bù đắp cho sự thiếu hụt về lực lường, chênh lệch với kẻ thù “Chi nhọc quan quản Gióng trống kì trống giục…. súng nổ”
Hình tượng của người nghĩa sĩ áo vải được khắc nổi trên cảnh u ám khói bom ấy: những âm thanh vang động (hè trước, ó sau…) những động tác quyết liệt (đốt, chém…). Những người nghĩa sĩ áo vải đã trở thành đấng anh hùng của một thời kì đáng nhớ. Trong tư thế quật cường ấy , lấp lánh chân dung của những con người gánh trên vai vận mệnh của non sông. Họ biết rằng mình chỉ là vô danh trong dân tộc anh hùng nhưng điều cao cả nhất họ để lại là triết lí sống phù hợp đến muôn đời: “Thà thác mà đặng câu định khái, về theo tổ phụ cũng vinh, hơn còn mà c chịu chữ đầu Tây ở với man di rất khổ” Tinh thần ấy, ý chí ấy vẫn chói lòa trong mỗi người dân Cần Giuộc. Sống để chịu nô lệ, tay sai của Tây thì thà một lần chiến đấu hết mình mà đem vinh quang cho dân tộc. “Ôi thôi thôi!”
Một tiếng khóc đầy ai oán, tiếng khóc đến quặn lòng, tiếng khóc để tiễn biệt những người con Cần Giuộc mãi mãi nằm lại trên mảnh đất quê hương. Họ ngã xuống nới chiến trường khói lửa. Vẫn còn đó nghiệp nước chưa thành, thấp thoáng nơi đây bóng mẹ già với ngọn đèn le lói trong đêm “Đau đơn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều! Vợ yếu chạy tìm chống, cơn bóng xế dật dờ trứơc ngõ” Người tử sĩ đã về chốn thiên cổ để lại giữa trần gian mẹ già, vợ yếu, con thơ… Mai đây họ sẽ ra sao khi cái nghèo vẫn còn đeo đuổi, khi mà nợ nước trả chưa xong.. “Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo thương vì hai chữ thiên dân, cây hương nghĩa sĩ thắp đèn thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ” Nguyễn Đình Chiểu đã bằng tấm lòng đồng cảm để nhìn thấy, nghe thấy và dựng nên một tượng đài hoành tráng mà mộc mạc, yêu thương. Xuyên suốt trong nền văn học nước nhà hình ảnh người nông dân đã được đề cập khá nhiều lần. Nhưng trước Đồ Chiều thì chưa một ai công khai vẽ lên và ngợi ca hình ảnh người anh hùng “chẳng qua là dân ấp dân lân mến nghĩa làm quân chiêu mộ”. Hơn thế nữa, việc thổi vào văn chương chất dân gian đã khiến “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của cụ trở thành áng văn vừa hào hùng, bi tráng mà cũng rất gần gũi, giản dị. Cụ Đồ Chiểu chỉ là nhà thơ mù - “người hát rong của nhân dân”. Nhưng hình ảnh người nông dân khởi nghĩa trong bài văn tế đã cho ta cái nhìn về cả một thời đại. Tự hào thay những con người nhỏ bé nhưng vẫn hiên ngang trước thế lực bạo tàn. Tự hào thay những người dân, người lính, nghĩa sĩ vô danh trùng trùng điệp điệp ngã xuống để bảo vệ sự toàn vẹn cho non sống. Họ là bức tượng đài bất tử, lưu mãi tới muôn đời. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Soạn bài "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc"
|
|
|
|
Bài tham khảo:A. TÁC GIẢI. CUỘC ĐỜI- Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888), sinh tại quê mẹ ở tỉnh Gia Định xưa trong một gia đình nhà nho. - 1843, đỗ tú tài. - 1846, ông ra Huế chuẩn bị thi tiếp thì hay tin mẹ mất "bỏ thi, về quê" bị mù. - Về Gia Định mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân và làm thơ. - Giặc Pháp dụ dỗ, mua chuộc nhưng ông vẫn giữ trọn tấm lòng thủy chung son sắt với đất nước và nhân dân. II. SỰ NGHIỆP THƠ - VĂN1. Những tác phẩm chính- Trước khi thực dân Pháp xâm lược: "Truyện Lục Vân Tiên", "Dương Từ – Hà Mậu " truyền bá đạo lí làm người. - Sau khi thực dân Pháp xâm lược: "Chạy giặc", "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc", "Văn tế Trương Định…" yêu nước chống Pháp. 2. Nội dung thơ văn- Lí tưởng đạo đức, nhân nghĩa: với những con người sống nhân hậu, thủy chung, biết giữ gìn nhân cách ngay thẳng, cao cả, dám đấu tranh và có đủ sức mạnh để chiến thắng những thế lực bạo tàn, cứu nhân độ thế. - Lòng yêu nước, thương dân: khích lệ lòng căm thù giặc và ý chí cứu nước của nhân dân ta; biểu dương những anh hùng nghĩa sĩ đã chiến đấu, hy sinh vì Tổ quốc. 3. Nghệ thuật thơ văn- Thơ văn đậm đà sắc thái Nam Bộ. - Thơ văn trữ tình đạo đức có đóng góp quan trọng trong nền văn học Việt Nam. - Lối thơ mang màu sắc diễn xướng trong văn học dân gian. B. TÁC PHẨMI. Tìm hiểu chung
1. Hoàn cảnh sáng tác (Cần Giuộc thuộc tỉnh Long An. Trận Cần Giuộc là một trận đánh lớn của quân ta diễn ra đêm 14/ 12/ 1861, hơn 20 nghĩa quân đã hi sinh anh dũng). Theo yêu cầu của tuần phủ Gia Định là Đỗ Quang, Nguyễn Đình Chiểu viết bài văn tế này đọc trong lễ truy điệu các nghĩa sĩ. Bài văn là tiếng khóc từ đáy lòng của tác giả và là tiếng khóc lớn của nhân dân trước sự hi sinh của những người anh hùng. 2. Vị trí Bài văn tế nằm trong giai đoạn thứ 2 thuộc bộ phận văn thơ yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu. Là tác phẩm có giá trị đặc biệt và độc đáo trong văn học dân tộc. Lần đầu tiên trong lịch sử văn học tác giả đã dựng một tượng đài nghệ thuật về hình ảnh những người nông dân chống thực dân Pháp tương xứng với phẩm chất vốn có của họ ở ngoài đời. 3. Thể loại và bố cục - Văn tế là một thể văn dùng để tế người chết (đôi khi cũng để tế người sống) - Nội dung : kể về tính tình công đức của người mất và tỏ lòng kính trọng thương tiếc của mình. - Bố cục: 4 phần. + Lung khởi: khái quát bối cảnh của thời đại và khẳng định ý nghĩa cái chết bất tử của người nông dân. + Thích thực: Hồi tưởng lại hình ảnh và công đức người nông dân - nghĩa sĩ. + Ai vãn: Bày tỏ lòng thương tiếc, sự cảm phục của tác giả đối với người nghĩa sĩ. + Khốc tận (Kết): Ca ngợi linh hồn bất tử của các nghĩa sĩ. II. Đọc hiểu văn bản1. Giới thiệu khái quát về thời cuộc và nhân vật người nông dân nghĩa sĩ - Với hình thức ngắn gọn, câu văn đã dựng nên khung cảnh bão táp của thời đại: + “Súng giặc đất rền“ → giặc xâm lược bằng vũ khí tối tân + “Lòng dân trời tỏ” → ta đánh giặc bằng tấm lòng yêu quê hương đất nước. - Nghệ thuật đối lập nhằm thể hiện khung cảnh bão táp của thời đại, những biến cố chính trị lớn lao. Tuy thất bại những người nghĩa sĩ hi sinh nhưng tiếng thơm còn lưu truyền mãi. 2. Hình ảnh người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộca. Nguồn gốc xuất thân- Từ nông dân nghèo cần cù lao động “cui cút làm ăn “ - Nghệ thuật tương phản “chưa quen ó chỉ biết, vốn quen <=> chưa biết. => Tác giả nhấn mạnh việc quen và chưa quen của người nông dân để tạo ra sự đối lập về tầm vóc của người anh hùng. b. Lòng yêu nước nồng nàn- Khi thực dân Pháp xâm lược người nông dân cảm thấy lo sợ → trông chờ → ghét → căm thù → đứng lên chống lại. → Diễn biến tâm trạng người nông dân. c. Tinh thần chiến đấu hi sinh của người nông dân- Quân trang, quân bi rất thô sơ chỉ có: một manh áo vải, ngọn tầm vông, lưỡi dao phay, rơm con cúi đã đi vào lịch sử. - Lập được những chiến công ấy: “đốt xong nhà dạy đạo“ “chém rớt đầu quan hai nọ” - Tác giả sử dụng những động từ chỉ hành động mạnh mẽ với mật độ cao nhịp độ khẩn trương sôi nổi: “đạp rào, lướt, xông vào” đặc biệt là những động từ chỉ hành động dứt khoát “đốt xong, chém rớt đầu” Sử dụng các động từ chéo “đâm ngang, chém ngược” → làm tăng thêm sự quyết liệt của trận đánh. => Nguyễn Đình Chiểu đã tạt một tượng đài nghệ thuật sừng sững về người nông dân nghĩa sĩ đánh giặc cứu nước. 3. Ai vãn: sự tiếc thương và cảm phục của tác giả trươc sự hi sinh của người nghĩa sĩ- Hình ảnh gia đình tang tóc, cô đơn, chia lìa, gợi không khí đau thương, buồn bã sau cuộc chiến. - Tiếng khóc giọt lệ xót thương đau đớn của tác giả, gia đình thân quyến người anh hùng, nhân dân Nam Bộ, nhân dân cả nước khóc thương những người ra đi, khóc thương cho thân phận những người nô lệ. => Tiếng khóc lớn, tiếng khóc mang tầm vóc lịch sử - Bút pháp trữ tình thắm thiết. - Giọng điệu đa thanh giàu cung bậc tạo nên những câu văn thật vật vã, đớn đau. - Nhịp câu trầm lắng, gợi không khí lạnh lẽo, hiu hắt sau cái chết của nghĩa quân. 4. Phần kết : ca ngợi linh hồn bất tử của người nghĩa sĩ- Tác giả đề cao quan niệm : Chết vinh còn hơn sống nhục. Nêu cao tinh thần chiến đấu, xả thân vì nghĩa lớn của nghĩa quân. Họ ra trận không cần công danh bổng lộc mà chỉ vì một điều rất giản đơn là yêu nước. - Đây là cái tang chung của mọi người, của cả thời đại, là khúc bi tráng về người anh hùng thất thế. => khẳng định sự bất tử của những người nghĩa sĩ. 5. Nghệ thuật- Chất trữ tình. - Thủ pháp tương phản và cấu trúc của thể văn biền ngẫu. - Ngô ngữ vừa trân trọng vừa dân dã, mang đậm sắc thái Nam Bộ. III. Tổng kết- Vẻ đẹp bi tráng của hình tượng người nghĩa sĩ nông dân. - Lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, người nông dân có một vị trí trung tâm và hiện ra với tất cả vẻ đẹp của họ. Sưu tầm
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Người đàn bà hàng chài
|
|
|
|
Dàn ý tham khảo:
Dàn ý: 1. MB - Giới thiệu tác giả Nguyễn Minh Châu và truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” - Hình ảnh người đàn bà hàng chài thể hiện cái nhìn khám phá của nhà văn về về con người và cuốc sống 2. TB a. Là người đàn bà có một cuộc đời, một số phận bất hạnh - Xuất hiện trong khung cảnh buổi sáng ở vùng biên, người đàn bà bước ra từ chiếc thuyền sau một đêm lao động cực nhọc. Ngoại hình được khắc họa với những nét lam lũ, mệt mỏi. - Với những gì Phùng được chứng kiến và câu chuyện chị ta kể ở tòa án huyện cho thấy cuộc đời người đàn bà này có nhiều bất hạnh đắng cay: Kém nhan sắc, cuộc sống cơ cực, đông con và gánh nặng mưu sinh khiến chị trở thành nạn nhân của nạn bạo hành gia đình. Cuộc đời của người đàn bà ấy có thể còn là câu chuyện của nhiều cuộc đời, nhiều số phận nhỏ bé, khuất lấp giữa cuộc sống đời thường. b. Một người phụ nữ biết nhẫn nhịn, vị tha, giàu đức hi sinh, sâu sắc lẽ đời - Mặc du bị chồng đánh đập, hành hạ, nhưng chị ta vẫn lặng lẽ cam chịu một mình, không chậy trống, không kêu la, cũng không chấp nhận li hôn bởi sự thấu trải của một đời người, chị biết cần phải có một người đàn ông để gánh vác gia đình dù ngươi đan ông đó có cục cằn, thô lỗ. Sự nhẫn nhịn, hi sinh của chị là vì con cái, vì sự tồn tại của gia đình. Bị chồng thường xuyên đánh đập nhưng chị không lên án hay oán hận những hành động vũ phu đó, bởi chị hiểu và cảm thông với chồng. Chị thương con, luôn lo lắng cho con. Sợ thằng Phác và cha nó xảy ra xung đột, chị phải gửi nó lên rừng ở với ông ngoại. Niềm vui và hạnh phúc đời thường của chị là được nhìn thấy đàn con được ăn no. Như vậy đằng sau vẻ ù lì, tăm tối nhẫn nhục, người đàn bà hàng chài còn là con người từng trải, sâu sắc, hiểu đời. Câu chuyện của chị khiến Phùng và Đẩu hiểu ra nhiều điều. c. Đây là nhân vật gửi gắm những phát hiện, khám phá của nhà văn về đời sống. - Qua nhân vật này Nguyễn Minh Châu cũng thể hiện một khuynh hướng mới: quan tâm đến những vấn đề cá nhân, những số phận nhỏ bé, khuất lấp giữa đời thương. - Nhân vật này còn thể hiện cái nhìn khám phá của nhà văn: Không thể nhìn cuộc đời và con người một cách giản đơn mà phải là cái nhìn khám phá, đa diện, nhiều chiều mới thấy những bất ngờ, những uẩn khúc,, khuất lấp ở bên trong... 3. KB Khẳng định vai tro của nhân vật trong tác phẩm (thể hiện chủ đề, tư tưởng), từ đó thấy được tấm lòng của nhà văn với con người và cuộc sống.
|
|
|
|
giải đáp
|
Phân tích "Lẽ ghét thương"
|
|
|
|
Bài tham khảo:Hai câu mở đầu: “ Quán rắng: Ghét việc tầm phào, Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm.”
Là cách khái quát đến cao độ thái độ tình cảm của ông Quán mà cũng là của quần chúng nhân dân trước những điều xấu xa ở đời “ ghét việc tầm phào”.” Việc tầm phào” là những việc vớ vẩn, bậy bạ, vô nghĩa. Đặc biệt là ông ghét với tinh thần không chút khoan nhượng, ghét tới mực độ mãnh liệt nhất, triệt để nhất “ Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm”. Chỉ trong hai dòng thơ lục bát, từ ghét xuất hiện tới bốn lần. Cùng với cách dùng điệp từ vừa nói, nhà thơ lại dùng lối diễn đạt bồi thấn tăng cấp nhằm thể hiện rõ nét mức độ tột cùng thái độ căm ghét của ông Quán. Tiếp đó là tám câu thơ triển khai một cách cụ thể ý khái quát đã nêu ở hai câu đầu. Nhà thơi chỉ rõ ông Quán ghét những người nào và vì ai mà ghét những người đó. Ghét đời Kiệt, Trụ mê dâm, Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang. Ghét đời U, Lệ đa đoan, Khiến dân luốn chịu lầm than muôn phần. Ghét đời Ngũ bá phân vân, Chuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn. Ghét đời thúc quý phân băng, Sớm đầu tối đánh lằng nhằng rối dân.
Mỗi cặp lục bát là một trích truyện dẫn từ thời xa xưa, đời nhà Hạ, nhà Thương, nhà Chân bên Trung Quốc. Phải hiểu dụng ý sâu sắc của nhà thơ khi dùng những điển cố, điển tích ở đây là ý tại ngôn ngoại ( ý ở ngoài lời). Đó là cách nói thông thường của các nhà thơ cổ điển. Phải hiểu là cụ Đồ đang nói chuyện về con người và cuộc đời lúc đó. Nhà thơ nhắc đi nhắc lại một điệp khúc dân, các tích truyện đều xoay quanh một chữ dân: …Để dân đến nỗi sa hầm, sẩy hang. …Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần … Làm dân nhọc nhằn …Lằng nhằng rối dân.
Đúng là “ tiêu chuẩn ghét” ở đây đều nhất loạt xuất phát từ quyền lợi của nhân dân. Tất cả đểu vì dân mà ghét, ghét những kẻ làm hại dân, nhũng nhiễu dân. Mượn điển tích xưa, cụ Đồ Chiểu nói chuyện đương thời. Thời Thiệu Trị, Tự Đức ( các vua nhà Nguyễn), trị vì, triều đình chuyên chế tàn bạo, vua chúa ăn chơi xa xỉ, đổ tiền rừng bạc biển vào việc xây dựng lăng tẩm đền đài, quan lại tham nhũng, loạn lạc liên mien, cảnh tượng đúng như bài vè “ Là cái thời Tự Đức” khắc họa “ Trời ảm đạm u sầu. Cảnh hoang tàn đói rét. Dân nghèo cùng kiệt”. Mười bốn câu thơ tiếp theo nêu rõ những việc, những người mà ông Quán thương: Thương là thương đức thánh nhân, Khi nơi Tống, Vệ lúc Trần, lúc Khuông, Thương thầy Nhan Tử dở dang, Ba mươi mốt tuổi tách đàng công danh. Thương ông Gia Cát tài lành, Gặp cơn Hán mạt đã đành phui pha. Thương thầy Đồng Tử cao xa, Chí thời có chí, ngôi mà không ngôi. Thương người Nguyên Lượng ngùi ngùi, Lỡ bề giúp nước lại lui về cày. Thương ông Hàn Dũ chẳng may, Sớm dâng lời biểu, tối đày đi xa. Thương thầy Liêm, Lạc đã ra, Bị lời xua đuổi về nhà giáo dân.
Đây cũng đều là những người xưa, những người có tài năng đức hạnh lớn, dốc long phò vua giúp nước mà không toại chí nguyện vì thời thế không thuận lợi và nhất là vì hiền thần không gặp được minh quân. Mỗi người một cảnh ngộ, nhưng đều là những số phận long đong bất đắc chí ( Khổng Tử thì lận đận, Nhan Uyên chết yểu, Gia Cát không gặp thời. Đổng Trọng Thư bế tắc, Đào Tiềm không chịu được nhục phải từ quan, Hàn Dũ can vua bị tội) Cách lựa chọn chi tiết điển hình, cách diễn đạt biến hóa sinh động của nhà thơ đã gây được ấn tượng đối với người đọc. Nói Lẽ ghét thương ở đây tuy là nói thương ghét qua sử sách: “ Xem qua kinh xử mấy lần, Nửa phần lại ghét, nửa phần lại thương”, nhưng ngẫm kỹ ra ít nhiều đều phù hợp với hiện thực đất nước và nỗi long của cụ Đồ trước thời thế bấy giờ. Về mặt nghệ thuật, bao trùm cả đoạn thơ là lối dùng điệp từ: từ ghét, từ thương đều được lặp lại tới tám lần mà không hề gây nhàm chán, trái lại cứ tăng tiến dần theo mỗi câu thơ tưởng như cả tam huyết của tác giả sôi trào nơi đầu ngọn bút. Rõ rang ở đây không phải là chuyện đạo lý, kinh sử khô khan thuần túy. Đoạn thơ thấm đượm sắc thái trữ tình đầy cảm xúc với ngôn ngữ bình dị thông thường, với bút pháp ước lệ nhưng nhờ sự chân thành nên vẫn thật có hồn. Nguồn cảm xúc tràn đầy, sôi nổi trong tâm hồn nhà thơ, đã làm nên giọng thơ, nhịp điệu thơ riêng, dồn dập mãnh liệt một cách tâm huyết chắc nịch, có sức chinh phục lòng người. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Cái đẹp trong thơ Nguyễn Đình Chiểu
|
|
|
|
Tư liệu tham khảo:Năm nay chúng ta kỷ niệm 172 năm ngày sinh của Nguyễn Đình Chiểu với tất cà sự ngưỡng mộ và tấm lòng tôn kính tài năng đặc đã và sự cống hiển to lớn của nhà thơ cho sự phát triển nền văn hóa nước nhà trong suốt mấy thập kỷ kể từ giữa thế kỷ XIX Nguyễn Đình Chiểu có được sự ngưỡng mộ và tôn kính ấy của bao nhiêu thế hệ kể cả thể hệ ngày nay và thế hệ đã qua là do di sản thơ văn của ông để lại cho đời sau và những giá trị tinh thần tỏa ra từ những áng thơ văn đó. Chính những giá trị cao đẹp ấy là kết quả của cả một cuộc đời lao động trí óc nghiêm túc, say mê, tràn đầy nghi lực và không biết mỏi của Nguyễn Đình Chiểu. Không có một cuộc đời lao động như vậy, thì không thể nói gì đến những thành công trên địa hạt văn học và tư tưởng. Nhưng một trong những bí quyết tạo nên những thành công của Nguyễn Đình Chiểu, một nguồn gốc chủ yếu của những giá trị cao đẹp trong di sản thơ văn của ông, chính là lòng thương dân vô hạn và sự gắn bó suốt đời với nhân dân của Nguyễn Đình Chiểu, nhất là quan điểm và lập trường của nhân dân khi ông xem xét và giải quyết mọi vấn đề. Nhân dân đã đùm bọc, cưu mang giúp đỡ ông lúc hoạn nạn, đồng thời đã tạo ra những điều kiện và môi trường thích hợp cho tài nàng và trí tuệ của ông nảy nở. Đối với ông, nhân dân lao động như một bà mẹ thần kỳ, chẳng những đem lại cho ông một cuộc sống mãnh liệt, hữu ích và đầy ý nghĩa, mà cỏn chắp cho ông đôi cánh đủ sức bay tới những đỉnh cao của trí thức và nghệ thuật. Đó là một sự thật hiển nhiên mà ta có thể dễ dàng nhận thấy qua mấy biểu hiện sau đây trong tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu: I.Từ truyện thơ Lục Vân TiênTrong truyện Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu đã dựng lên cả một xã hội trong đó những nhân vật chính diện tiêu biểu là Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga đã tượng trưng cho tài năng, trí tuệ, nhân phẩm của con người. Đó là những con người học rộng, tài cao. Tuy mỗi người mỗi vẻ, mỗi nét mặt khác nhau, nhưng họ đều là những người "cương trực", "khẳng khái", "vị tha" và “trọng nghĩa hiệp". Họ sẵn sàng cứu giúp người khác không sợ khó khăn nguy hiểm và nêu cao cái nghĩa khí “giữa đường gặp sự bất bình chẳng tha". Họ kiên trì đứng về lẽ phải mà suy nghĩ và hành động. Những đặc tính cao đẹp đó cững chính là những đức tính cơ bản của con người Việt Nam nói chung và của nhân dân Nam Bộ nói riêng. Những đặc tính đó đã hình thành và củng cố trên trường kỳ lịch sử nhất là trong quá trình dân tộc ta khai phá và mở mang mảnh đất miền Nam của Tổ quốc, cho nên nó đặc biệt thể hiện rõ nét ở nhân dân Nam Bộ. Những đặc tính đó không những đã được phản ánh trong văn học dân gian mà còn được khẳng định trong sử sách. Ở những nhân vật chính diện của truyện Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu đã miêu tả phẩm chất đẹp đẽ của con người biểu hiện trong các mối quan hệ cha con, vợ chồng, bè bạn, thầy trò... Họ đã ăn ở, giao tiếp và đối xử với nhau thật là trọn tình vẹn nghĩa, thủy chung. Tinh nghĩa và lòng thủy chung đó chính là tình cảm đạo đức hồn nhiên trong sáng và lành mạnh vốn nảy sinh từ trong cuộc sống giản dị của nhân dân lao động. Hơn nữa trong cuộc đời thực, quần chúng lao động còn có một cách nhìn lạc quan ở tương lai, một niềm tin vào sự thắng lợi của lẽ phải, của tài năng và nhân phẩm con người. Lẽ dĩ nhiên dưới chế độ phong kiến, quân chúng lao động không tránh khỏi những giới hạn của lịch sử, cho nên cái nhìn lạc quan và niềm tin của họ thường gần với quan niệm ác giả ác báo, thiện giả thiện báo. Do bị áp bức và bóc lột, họ rất mong muốn được giải phóng, mong muốn mọi người ở hiền gặp lành và chính nghĩa nhất định sẽ thắng, đồng thời những kẻ bạc ác cuối cùng phải đền tội. Tiến trình phát triển của sự việc và của những tình tiết trong truyện Lục Vân Tiên đã diễn ra theo đúng như cái nhìn lạc quan và niềm tin như vậy của quần chúng. Hai nhân vật chính là Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga gặp bao nhiêu tai nạn và trắc trở trên đường đời, nhưng cuối cùng họ đã vượt qua tất cả để đi đến hạnh phúc. Tóm lại, nhân dân lao động được phản ánh trong truyện Lục Vân Tiên với tất cả đặc tính và phẩm chất, sức mạnh và niềm tin của họ. Đó chính là một thành công tuyệt mỹ trong lịch sử văn học nước ta. Bởi vì trước Nguyễn Đình Chiểu, ở nước ta chưa có một nhà văn nhà thơ nào, kể từ đại thi hào Nguyễn Du cho đến các tác giả của những truyện nôm bình dân và truyện nôm bác học, lại miêu tả được sâu sắc, đa dạng tính cách của quần chúng nhân dân như truyện thơ Lục Vân Tiên. Nếu trước Nguyễn Đình Chiểu, hình ảnh và tính cách của quần chúng lao động mới xuất hiện một cách lẻ loi thưa thớt, thì với tác phẩm Lục Vân Tiên quần chúng lao động được miêu tả một cách tập trung trên nhiều khía cạnh. Những đặc tính và phẩm chất của họ không chỉ biểu hiện ở một hoặc hai nhân vật mà ở một loạt các nhân vật như Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, Hớn Minh, Vương Tử Trực, ông Ngư, ông Triều, ông Quán, Tiểu đồng... Điều đó chứng tỏ rằng, nhân dân lao động kể cả những người trí thức gắn bó với họ đã từ cuộc đời thực bước vào truyện thơ của Nguyễn Đình Chiểu như một lực lượng xã hội đông đảo, hùng hậu. Chính lực lượng xã hội này đã báo trước tinh thần kháng chiến anh dũng của nhân dân miền Nam khi thực dân Pháp đặt chân tới. Nhìn thấy sức mạnh của lực lượng xã hội này, đó chính là một cống hiến vô cùng quý giá của Nguyễn Đình Chiểu vào kho tàng văn hóa của dân tộc. Với một nội dung có tính nhân dân sâu sắc như vậy, với một hình thức giản dị phù hợp với nếp suy nghĩ của quần chúng và với một ngôn ngữ trong sáng được nâng cao từ tiếng nói thân thuộc hàng ngày của họ, truyện Lục Vân Tiên đã được đông đảo quần chúng say mê ưa thích. Họ vô cùng sung sướng và xúc động khi tìm thấy ở trong truyện những hình ảnh, những tính cách giống vởi bản thân mình. Do đó mà các nhân vật trong truyện sống mải trong tâm trí của đông đảo nhân dân qua bao nhiêu thế hệ. Giá tri tuyệt vời của truyện Lục Vân Tiên chính là ở chỗ đó. Sở dĩ truyện Lục Vân Tiên có những giá trị tuyệt vời ấy và Nguyễn Đình Chiểu thành công khi viết tác phẩm này, là vì ông có một sự hiểu biết sâu rộng và nhiều mặt về đời sống của nhân dân nhất là đời sống của người nông dân miền Đồng Nai, Gia Định. Ông không những thấy rõ nét mặt, dáng điệu, cử chỉ, hành vi của họ mà còn hiểu được tâm tư, nguyện vọng thầm kín của họ, hơn nữa có một lối nhìn và giải quyết vấn đề bắt nguồn từ tâm lý và niềm tin của họ. Nhưng không phải là ngẫu nhiên mà Nguyễn Đình Chiểu lại có được vốn hiểu biết về nhân dân cũng như có một trái tim và lập trường đồng diệu với nhân dân như thế. Chính cuộc sống của ông đã đưa lại cho ông tất cả những thứ qúy giá ấy. Đó là một cuộc sống của nhân dân. Cuộc sống của Nguyễn Đình Chiểu bắt đầu từ một gia đình nhà nho nghèo mà cha mẹ của ông có nhiều liên hệ và gắn bó thân thiết với nhân dân. Qua sự giáo dục của người cha ngay thẳng và nhất là của người mẹ dịu hiền, ông đã trực tiếp nhận được dòng sữa tinh thần của nhân dân để mở mang đần trí óc của mình từ những ngày thơ bé. Khi tật đui mù và bao nhiêu tai họa liên tiếp đến với ông, thì trong hoàn cảnh éo le và đau xót này, nhân dân lao động như một bà mẹ hiền nâng ông dậy và dang rộng cánh tay ra đón nhận người con bất hạnh của mình. Từ đây cả cuộc đời của Nguyễn Đình Chiểu, từ việc ăn ở cho đến việc lấy vợ sinh con, từ công việc làm thuốc, dạy học cho đến việc sáng tác thơ ca, đều điều hành trong sự giúp đỡ, cứu mang, đùm bọc và trìu mến của nhân dân. Nghề dạy học và bốc thuốc giúp ông sinh sống nhưng cũng lại tăng thêm sự giao tiếp của ông với các từng lớp người trong xã hội. Nhờ đó mà tri thức của ông được nhân lên gấp bội và ông có đầy đủ những vốn liếng cần thiết để sáng tạo nên những hình tượng bất hủ trong truyện Lục Vân Tiên. II. Nguồn gốc của sự nhận thức về cuộc kháng chiến cứu nước và vai trò của nhân dân trong cuộc kháng chiến đó.Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, Nguyễn Đình Chiểu bước vào cuộc kháng chiến cứu nước, cũng với cách nhìn nhận sự việc lành mạnh và dứt khoát như ông đã thể hiện trong truyện thơ Lục Vân Tiên. Trong những giờ phút thứ thách này của lịch sử, nhận thức và lập trường của ông đã đứng vững, phát triển và vươn tới đỉnh cao của thời đại. Trước hết sự nhìn nhận của ông về cuộc kháng chiến cứu nước thấm đượm một chủ nghĩa yêu nước thiết tha sôi nổi. Đó là chủ nghĩa yêu nước được xây dựng trên nền tảng của lòng thương dân vô hạn, một lòng thương dân đã hình thành trong suốt cuộc đời gần gũi và gắn bó của ông với nhân dân. Đây không phải là lòng thương dân của những người trí thức qúy tộc có thiện ý nghiêng mình xuống thông cảm với quần chúng nghèo khổ ở phía dưới, mà thực sự là lòng thương dân của một người trí thức cùng cảnh ngộ, cùng lập trường và quan điểm với nhân dân. Càng thương dân, Nguyễn Đình Chiểu càng yêu nước da diết, càng đau xót khi giặc Pháp dày xéo lên mảnh đất quê hương, tàn phá xóm làng và gây ra bao cảnh đau thương tang tóc cho nhân dân: Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây Một bàn cờ thế phút sa tay Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy Mất ổ bày chim dáo dát bay Bến Nghé cửa tiền tan bọt nước Đồng Nai tranh ngói nhuộm mầu mây
Ở Nguyễn Đình Chiểu lòng yêu nước thương dân luôn luôn gắn liền với lòng căm thù địch sâu sắc và thái độ kiên quyết đánh giặc. Là người trí thức thông cảm với mọi nỗi đau khổ của nhân dân trong chiến tranh, Nguyễn Đình Chiểu càng thấy rô những tội ác "trời không dung đất không tha" của bọn thực dân Pháp. Có thể nói, ngay từ khi chúng đặt bàn chán xâm lược lên miền Nam của đất nước ta, thì những hành động khủng bố dã man, cướp bóc trắng trợn, đầu độc thâm hiểm của chúng đã bị Nguyễn Đình Chiểu lên án một cách nghiêm khắc, quyết liệt. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, một kẻ thù mới mẻ của dân tộc ta bị tố cáo với những bằng chứng xác thực. Chỉ riêng điểm đó cững đủ chứng tỏ nhận thức của Nguyễn Đình Chiểu vượt xa các sĩ phu đương thời, nhất là các sĩ phu nắm quyền trong triều Nguyễn. Đối với ông, không thể có một sự chung sống yên ổn hoặc một sự nghị hòa vô nguyên tắc nào giữa bọn giặc nước và nhân dân ta đang lâm vào cảnh nước mất nhà tan. Ông nhấn mạnh rằng: Trời Đông mà gió Tây qua Hai hơi ấm mát chẳng hòa đau dân.
Đứng trước mối mâu thuẫn gay gắt ấy, thái độ của Nguyễn Đình Chiểu là kiên quyết đứng về phía nhân dân, đứng trên lập trường bảo vệ độc lập của tổ quốc để chống lại bọn thực dân xâm lược. Theo ông, việc nhân dân cầm vũ khí chống giặc để bảo vệ quê hương, làng xóm là một điều tất nhiên hợp với đạo lý. Bởi vì trước mắt người dân mất nước chỉ còn một con đường sống là nắm chắc "cây thương phá Lỗ" và "giáo tre ngàn dặm đánh Tây". Là người biểu dương đường lối võ trang chiến đấu ấy, Nguyễn Đình Chiểu đã tán thành chủ trương nghịch mệnh triều đình và đi với nhân dân để chống giặc của Trương Định. Ông nhận thấy rằng, trong cuộc kháng chiến này, lòng dân, ý chí chiến đấu cho độc lập dân tộc của nhân dân là tiếng gọi thiêng liêng nhất đối với người chiến sĩ ngoài mặt trận kể cả những thủ lĩnh của họ. Đó là lập trường đúng đắn của Nguyễn Đình Chiểu về cuộc kháng chiến cứu nước. Lập trường ấy của ông không hề dao động, mặc dù trong chiến đấu có thể gặp nhiều tổn thất, thậm chí phải hy sinh cả tính mệnh. Nguyễn Đình Chiểu tin tưởng một cách sâu sắc rằng sự nghiệp kháng chiến cứu nước của dân tộc ta là một sự nghiệp “chí nhân đại nghĩa" hoàn toàn phù hợp với lẽ phải và lương tầm của con người, cho nên cuối cùng sẽ giành được thắng lợi. Vì thế ông khao khát trông đợi ngày giải phóng nhân dân khỏi nanh vuốt của quân thù như "hoa cỏ ngùi ngùi ngóng gió Đông". Và ngay trong những ngày đen tối nhất của lịch sử, khi mà quân thù đã chiếm cứ nhiều vùng đất đai của tổ quốc, ông vẫn còn thiết tha hy vọng: "Ngày nào trời đất an ngôi cũ Mừng thấy non sông bắt gió Tây
Niềm tin và hy vọng của Nguyễn Đình Chiểu ở đây tuy chưa phản ánh được quy luật khách quan của cuộc chiến tranh chống đế quốc nhằm bảo vệ độc lập dân tộc của nước ta hồi cuối thế kỷ XIX, nhưng rõ ràng đó là niềm chân thành và lành mạnh của quần chúng. Nó có tác dụng cổ vũ tinh thần chiến đấu của nhân dân ta lúc đương thời. Nhưng điểm thành công nhất trong sự nhận thức của Nguyễn Đình Chiểu chính là ở chỗ ông đá nhìn thấy sức mạnh của nhân dân trong cuộc kháng chiến cứu nước. Ông đã giành những áng thơ văn hùng hồn sôi nổi và chói lọi nhất để nói về những chiến sĩ vốn là những người nghèo khổ lam lũ xuất thân từ "dân ấp dân lân". Ông diễn tả và ngợi ca một cách đầy nhiệt tình tinh thần anh dũng và tư thế lẫm liệt của họ trên chiến trường. Dưới con mắt của ông, những nông dân nghèo khổ ấy không phải chỉ là những người đáng yêu, những người ủng hộ và tham gia kháng chiến, mà còn là động lực chủ yếu của công cuộc cứu nước và là những chiến sĩ kiên cường nhất trong chiến đấu. Có thể nói, quan điểm nhân dân, nhất là quan điểm về vai trò của nhân dân trong chiến tranh cứu nước ở Nguyễn Đình Chiểu đã đạt tới một đỉnh cao. Bởi vì các thế hệ trước và đương thời nhiều lắm cũng mới chỉ nhận thấy nhân dân là lực lượng hậu thuẫn và là một thành phần tham gia vào cuộc chiến tranh đó. Tóm lại, sự nhìn nhận của Nguyễn Đình Chiểu về cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc ta hồi cuối thế kỷ XIX, tuy không tránh khỏi những hạn chế của lịch sử, nhưng đó là một sự nhìn nhận tiến bộ. Nó đã thực cự góp phần thúc đẩy và nâng cao sự nhận thức của người đương thời về những vấn đề cấp bách của sự nghiệp cứu nước. Sự nhìn nhận đó của Nguyễn Đình Chiểu cững là sự tiếp tục và phát triển thêm một bước những nhận thức của ông đã thể hiện trong tác phẩm Lục Vân Tiên về những quan hệ xã hội và nhân cách của con người, cũng như về sức mạnh và phẩm chất cao đẹp của nhân dân. Nhưng khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, với quan điểm lập trường nhân dân và với lòng yêu nước thương dân vô hạn, ông đã nêu lên được những kiến giải tích cực về ý nghĩa và mục tiêu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Nhất là ông cũng thấy rõ vai trò quan trọng và khí phách anh hùng của nhân dân trong cơn thử thách ác liệt của chiến tranh. Chỉnh trong cơn thử thách này của lịch sử, quan điểm và lập trường nhân dân của Nguyễn Đình Chiểu được củng cố. Ông càng gắn bó với nhân dân, càng chung vai sát cánh với nhân dân trong cuộc chiến đấu chống Pháp. Ông đã cùng nhân dân chạy giặc cùng nhân dân kháng chiến. Ông không những chống giặc bằng ngòi bút mà còn liên lạc với đốc binh Là, với Trương Định và tham gia vào những hoạt động trong chiến đấu của nhân dân. Nỗi thống khổ của nhân dân trong cơn binh lửa, cũng như bước tiến quân và tiếng kèn xung trận của nghĩa quân luôn luôn vang động trong trái tim và khối óc của Nguyễn Đình Chiểu. Cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân dân đã đem vào trong tư tưởng của ông có khi thế mạnh mẽ, cái sức sống quật cường của một dân tộc trong lúc hiểm nghèo. Như vậy là do gắn mình với cuộc chiến đấu của nhân dân và kiên định lập trường nhân dân mà Nguyễn Đình Chiểu đã tự xác định cho mình một thái độ đúng đắn, một tình cảm trong sắng, một nhận thức tương đối chính xác về cuộc đấu tranh chống xâm lược ở nước ta lúc đương thời. III. Quan điểm và lập trường vận dụng các khái niệm của Nho giáo.Nguyễn Đình Chiểu xuất thân từ một gia đình nhà Nho và được đào tạo dưới môi trường Nho học. Ông lại sống dưới chế độ phong kiến triều Nguyẫn, một triều đại tôn sùng Nho giáo đến tột mức. Trong tình hình ấy, Nguyễn Đình Chiểu không thể tránh khỏi sự ràng buộc của hệ tư tưởng Nho giáo, càng không thể không vận dụng các khái niệm của Nho giáo để diễn đạt tư tưởng của mình. Nhưng điều đáng lưu ý là ông đã đưa một nội dung đầy tính nhân dân và dân tộc vào trong các khái niệm của Nho giáo. Vì thế mà ở ông những khái niệm đó mất dần những yếu tố tiêu cực và hấp thụ được thêm nhiều yếu tố tích cực có ích cho nhân dân trong cuộc sống lao động và chiến đấu bào vệ tổ quốc. Đối với Nguyễn Đình Chiểu, khái niệm nhân nghĩa biểu thị một lòng thương người mênh mông sâu thẳm như đại dương. Mà lòng thương người của Nguyễn Đình Chiểu trước hết là thương dân, nhất là dân nghèo khổ, là thương những người dân lương thiện mà lại bất hạnh và bị chà đạp. Đến những người ăn mày là những người cùng cực nhất của xã hội không ở ngoài lòng nhân ái của ông: Đứa ăn mày cũng trời sinh Bệnh còn cứu đặng thuốc dành cho không
Nguyễn Đình Chiểu còn đặc biệt dành một tình thương sâu sắc cho những người có tài đức, có khi tiết trong sạch nhưng lại không được triều đình trọng dụng, hoặc bị oan uổng hay gặp tai nạn. Đó là trường hợp của các nhân vật lịch sử như Nguyên Lượng, Nhan Uyên, Hàn Dũ... hoặc những nhân vật mà ông sáng tạo ra trong truyện thơ của mình như Vân Tiên, Nguyệt Nga, Kỳ Nhân Sư... Còn khái niệm "nghĩa" của nho giáo khi được Nguyễn Đình Chiểu vận dụng lại càng có những thay đổi lớn về mặt nội dung, càng thể hiện những giá trị đạo đức đầy sức sống trong quan hệ phong phú giữa nhân dân lao động. Các nhân vật chính diện của Nguyễn Đình Chiểu từ Nguyệt Nga, Vân Tiên đến Hớn Minh, Tiểu đồng... đều là những con người hành động vì nghĩa một cách tự giác và đầy nhiệt tình. Nhìn một cách tổng quát, khái niệm nhân nghĩa do Nguyễn Đình Chiểu vận dụng vì gắn liền với những yêu cầu của nhân dân và của thời đại, cho nên nó đặc biệt được ông nhấn mạnh trên hai ý nghĩa cơ bản: một là nhân nghĩa phải biểu hiện thành việc làm điều thiện nhằm cứu giúp người khác ra khỏi khó khăn, hoặc bảo vệ hạnh phúc của người khác trong cơn nguy biến. Hai là nhân nghĩa phải góp phần duy trì sự hòa thuận êm đẹp trong gia đình và bảo vệ cuộc sống yên vui trong độc lập và tự do của đất nước, trước hết là bảo vệ tổ quốc khi có giặc ngoại xâm. Cho nên: Mến nghĩa bao đành làm phản nước Có nhân nào nỡ phụ tình nhà
Ngoài khái niệm nhân nghĩa, Nguyễn Đình Chiểu còn đề cập đến nhiều khái niệm khác của Nho giáo như “trung hiếu”, “tiết hạnh”. Ông quan niệm rằng đạo trung quân là cần thiết cho mọi người. Nhưng ông đòi hỏi một ông vua được mọi người tôn thờ phải là ông vua hiền tài thương dân yêu nước. Ông vua ấy phải tượng trưng cho hạnh phúc của nhân dân và nền độc lập tự chủ của đất nước. Ở Nguyễn Đình Chiểu, khái niệm trung thường gắn với khái niệm hiếu. Nhưng qua sự vận dụng của ông, khái niệm hiếu của Nho giáo cũng do ông nhắc và trở nên gần gũi với nhân dân hơn. Hiếu ở ông là lòng biết ơn, tốn kính cha mẹ, là trách nhiệm trông nom săn sóc cha mẹ với tất cả tình cảm sâu nặng của người con. Sự vận dụng mấy khái niệm Nho giáo trên đây ở Nguyễn Đình Chiểu cũng đủ chứng minh rằng, ngay khi Nho giáo đã lỗi thời, một người trí thức đứng trên quan điểm và lập trường nhân dân vẫn có khả năng đưa vào những khái niệm của Nho giáo những giá trị cao đẹp vốn nảy sinh trong cuộc sống của đông đảo quần chúng lao động. Ngày nay, đọc lại những tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu, chúng ta hết sức trân trọng những thành công mà ông đã đạt được nhưng cũng cảm thấy một cách thấm thía rằng, chính những thành cũng đó, chính những giá trị cao đẹp trong thơ văn của ông có liên hệ mật thiết với quan điểm lập trường nhân dân và lòng yêu nước thương dân vô hạn của ông, nhất là có liên hệ cuộc đời gắn bó với nhân dân của ông. Mối liên hệ đó là một bài học vô cùng quý giá về sự thành công của người trí thức, mọt bài học đến bây giờ vẫn còn nóng hổi và có ý nghĩa thời sự. Sưu tầm
|
|