viết văn về bác hồ

bị xóa vì không liên quan đến nội dung của site bởi Ruanyu Jian 07-07-16 09:54 PM

Câu hỏi này hoàn toàn không liên quan đến nội dung của site.

21 Đáp án

Cần trả +85,000vỏ sò để xem nội dung lời giải này

Cần trả +85,000vỏ sò để xem nội dung lời giải này

Cần trả +85,000vỏ sò để xem nội dung lời giải này

Cần trả +85,000vỏ sò để xem nội dung lời giải này

Cần trả +85,000vỏ sò để xem nội dung lời giải này

Cần trả +85,000vỏ sò để xem nội dung lời giải này

Cần trả +85,000vỏ sò để xem nội dung lời giải này

Cần trả +85,000vỏ sò để xem nội dung lời giải này

Cần trả +85,000vỏ sò để xem nội dung lời giải này

Cần trả +85,000vỏ sò để xem nội dung lời giải này

Cần trả +85,000vỏ sò để xem nội dung lời giải này

Cần trả +85,000vỏ sò để xem nội dung lời giải này

Cần trả +85,000vỏ sò để xem nội dung lời giải này

Cần trả +80,000vỏ sò để xem nội dung lời giải này

Ngay từ tháng 1 năm 1959, trong ngày đầu tiên khánh thành Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (nay là Bảo tàng Lịch sử Quốc gia), tấm ảnh Bác Hồ đang phát biểu tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp lần thứ XVIII họp ở Thành phố Tours tháng 12 năm 1920 đã được phóng to đặt trong một khung kính bày tại một vị trí trang trọng ở Phòng trưng bày về sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930.

Hơn 50 năm qua, tấm hình đó đã trở nên rất quen thuộc với đông đảo quần chúng nhân dân ta qua các thế hệ.

Năm 1920, Bác sống và hoạt động ở Paris. Người là Đảng viên Đảng Xã hội Pháp. Lúc đó trong nội bộ Đảng Xã hội Pháp đang diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt về chính trị: Tán thành Lênin, tán thành Quốc tế III để thành lập Đảng Cộng sản Pháp hay vẫn duy trì Đảng Xã hội Pháp đi theo Đệ nhị Quốc tế? Bác đã tham gia cuộc đấu tranh này từ Đại hội Đảng Xã hội Pháp lần thứ XVII họp ở Xtratbua (tháng 2-1920) đến Đại hội Đảng Xã hội Pháp lần thứ XVIII họp ở Thành phố Tours (tháng 12-1920). Tại Đại hội Tours, Bác đã cùng với Marcel Cachin, Paul Vaillant couturier và những người cánh tả Pháp bỏ phiếu tán thành việc thành lập Đảng Cộng sản đi theo Lênin, đi theo Quốc tế thứ III. Sự kiện thành Tours là một bước ngoặt quyết định rất quan trọng trong quá trình đi tìm đường cứu nước, cứu dân của Bác. Tấm ảnh Bác đang phát biểu tại Đại hội Tours là một dấu tích rất quí đối với chúng ta.

Hơn 50 năm qua, chúng ta đã quá quen với tấm hình này nên ít quan tâm đến chi tiết: Làm thế nào Việt Nam có được tấm ảnh đó? Chúng tôi xin cung cấp đến bạn đọc những thông tin tóm tắt về chi tiết này.

Năm 1953, Đại hội Liên hoan Thanh niên, Sinh viên thế giới lần thứ tư (Festival 4) được tổ chức tại Bucharest Thủ đô Rumani. Đoàn Đại biểu Thanh niên, Sinh viên Việt Nam đi dự Festival 4 có 39 người do đồng chí Vũ Quang làm Trưởng đoàn. Trong Đoàn có các đồng chí Nguyễn Khánh (sau này là Phó Thủ tướng Chính phủ nước ta), Ngô Long Minh (sau này là Đại tá, kỹ sư, Tổng Giám đốc Xí nghiệp Liên hiệp Ba Son), Huỳnh Văn Leo, Giáp Văn Khương…

Trong suốt thời gian Đại hội, Đoàn đại biểu Thanh niên, Sinh viên Pháp với Raymont Diel, Henri Martin, Hesleine… đã thường xuyên gặp gỡ Đoàn ta để bày tỏ tình hữu nghị đoàn kết, ủng hộ cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam. Những ngày đầu Festival, trong các buổi gặp đoàn ta, các bạn Pháp cho biết đang tổ chức sưu tầm cho bằng được tấm ảnh Bác Hồ tại Đại hội Tours năm 1920 để kịp chuyển đến Bucharest nhờ Đoàn Việt Nam mang về kính tặng Bác Hồ.

Mãi đến ngày Festival 4 sắp bế mạc, các bạn Pháp mới có được bức ảnh đó từ bên Pháp gửi sang.

Vào một buổi chiều ở Bucharest, tại trụ sở Đoàn Đại biểu Thanh niên, Sinh viên Việt Nam, chị Raymont Diel cùng một số bạn trẻ Pháp đến gặp Đoàn ta để trao tấm ảnh Bác Hồ – Người mà các anh, các chị vô cùng kính yêu nhờ Đoàn mang về nước kính tặng Bác. Đồng chí Nguyễn Khánh lúc đó phụ trách bộ phận Tuyên truyền Đối ngoại, quản lý tài liệu, giấy tờ, tặng phẩm của Đoàn đã giao cho Ngô Long Minh trực tiếp chịu trách nhiệm giữ gìn tấm ảnh này.

Festival 4 bế mạc, Đoàn rời Bucharest qua Hunggari, Tiệp Khắc đến Vacsava Thủ đô Ba Lan để dự Đại hội Sinh viên thế giới, rồi qua Liên Xô, Trung Quốc và về nước. Cuộc hành trình hàng vạn cây số của Đoàn đi bằng tàu hỏa. Suốt cuộc hành trình, tấm ảnh luôn bất ly thân với anh Ngô Long Minh.

Tháng 10-1953, Đoàn về nước. Cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống Thực dân Pháp xâm lược đang đi vào giai đoạn cuối. Chiến sự diễn ra rất ác liệt. Một đêm cuối tháng 10-1953 tại Chiến khu Việt Bắc, thay mặt Đoàn Đại biểu Thanh niên, Sinh viên Việt Nam, Trưởng đoàn Vũ Quang đã trực tiếp gặp và báo cáo với Bác về chuyến đi và hoạt động của Đoàn, đồng thời kính chuyển Bác tấm ảnh của Thanh niên, Sinh viên Pháp gửi tặng Người.

Cuộc kháng chiến kết thúc thắng lợi. Tấm ảnh Bác tại Đại hội Tours năm 1920 được chuyển đến Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (nay là Bảo tàng Lịch sử quốc gia) để lưu giữ và trưng bày rộng rãi cho đông đảo công chúng đến tham quan./.

bác hồ tập võ
Bác Hồ luôn chú ý việc phát triển thanh niên nói riêng và con người Việt Nam nói chung một cách toàn diện. Bản thân Bác rất gương mẫu rèn luyện, trong đó có rèn luyện sức khỏe. Sinh thời, Bác bốn lần học võ…

Năm 1913, tại London

Anh quốc là quê hương của phong trào Hướng đạo thế giới (phong trào do Huân tước Baden Powell sáng lập năm 1907).

Trong thời gian ngắn ở Luân Đôn, nhận thấy tổ chức này có thể có ích về sau để tập hợp thanh thiếu niên vào tổ chức giáo dục, rèn luyện nhiều mặt, khơi dậy lòng yêu nước, yêu thiên nhiên, gắn bó trong cộng đồng bình đẳng…, Bác Hồ đã tham gia, là hướng đạo sinh đầu tiên của Việt Nam.

Ngày 31/5/1946, Người gửi thư nhận lời làm Chủ tịch danh dự của Hội Hướng đạo Việt Nam.

Cựu Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục đầu tiên của nước ta Vũ Đình Hòe trong hồi ký có kể năm 1948, một lần sau cuộc họp Hội đồng Chính phủ có đốt lửa trại. Trại trưởng Hoàng Đạo Thúy giới thiệu Chủ tịch danh dự khai lửa. Mọi người hết sức ngạc nhiên khi thấy Bác bước ra vừa đi vừa múa hát bài “Hướng đạo ca”: Anh là anh hùng xưa, nhớ hồi là hồi niên thiếu, dấy binh lấy lau làm cờ….

Ông Vũ Kỳ (1921 – 2005), Thư ký riêng của Bác, có lần nói vui:  “Bác Hồ có võ đấy! Võ Tây thì học từ năm 1913 ở bên Anh, võ Tàu năm 1925, còn võ ta thì…”.

Năm 1925, ở Quảng Châu

Sau nhiều lần đề nghị được về gần Tổ quốc để hoạt động gắn với phong trào trong nước, ngày 25/9/1924, Bác nhận được quyết định của Quốc tế Cộng sản cho phép rời Mátxcơva về Quảng Châu – Trung Quốc.

Trên danh nghĩa công khai, Người lấy tên Lý Thụy, là dân địa phương làm phiên dịch cho Trưởng phái bộ Liên Xô M.M. Bôrôđin, cố vấn chính trị bên cạnh Tổng thống Trung Sơn và là phóng viên của hãng Rosta Cục Thông tin Liên Xô. Trong tổ chức mang bí danh Đồng chí Vương.

Khoảng mươi năm trước đây có một bài báo Tết viết về Bác Hồ học võ. Cố Thiếu tướng Cục trưởng Cục Cảnh Vệ Bộ Công an Hoàng Hữu Kháng nhắc lời Bác: “Ngày trước ở nước ngoài Bác cũng tập võ để luyện sức khỏe…”.

Được hỏi, ông Vũ Kỳ cho biết, đây là thời gian thuận lợi nhất Bác đã tranh thủ nghiên cứu lịch sử, văn hóa Trung Quốc, học thêm tiếng Hoa, và học võ thuật rất bài bản. Điều này giải thích lý do sau này Bác tập võ rất nhanh và mọi động tác tiến thủ đều rất điêu luyện.

Đó là do Người hết sức tận dụng hoàn cảnh thuận lợi trong Trường Quân chính Hoàng Phố có các đồng chí sinh hoạt cùng chi bộ trong Đảng Pháp ở Paris từ năm 1921 như Chu Ân Lai, Bành Bái, rồi Trương Thái Lôi đi cùng chuyến từ Mátxcơva về đây với Bác, và các chuyên gia Liên Xô giúp đỡ, nhận người của ta vào học từ lớp đầu như Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn…Chính số anh em này đi học về dạy lại cho Bác.

Năm 1945, trên nóc Bắc Bộ Phủ

Tình hình tại Hà Nội từ sau ngày 9/9/1945 càng hết sức căng thẳng vì có thêm đội quân ô hợp của Trung Hoa Quốc dân đảng sang nước ta để giải giáp quân đội Nhật hoàng.

Chúng còn mưu đồ “Hoa quân nhập Việt cầm Hồ”, đem theo lũ Việt gian trong hai đảng Việt quốc, Việt cách nhằm lật đổ Chính phủ Hồ Chí Minh. Những vụ bắt cóc, ám sát cán bộ xảy ra ngày ngày.

Tòa Khâm sứ cũ, 12 Ngô Quyền là điểm ngắm số một của đủ loại gián điệp các nước. Việc bảo vệ tuyệt đối an toàn cho lãnh tụ được Trung ương đặc biệt chú ý…

Riêng Bác, đã lâu chỉ quen tập thể dục thể thao, để “quân tử phòng thân”, Người đề nghị anh Kháng, tức Lý, xem có bài quyền nào dễ hướng dẫn cho Bác cùng tập. Anh Lý lĩnh ý, Bác cháu sẽ tập bài Bát bộ liên hoa quyền.

Anh nghĩ tuổi Bác đã 55, tập nhanh cũng phải mất một tuần. Nhưng không ngờ, Bác cháu trên sân thượng, sáng từ 5 giờ, tối lúc trăng lên, chỉ 3 ngày Bác đã lắp ráp, lướt những đường quyền mềm mại, nhanh nhẹn, rồi lại đột nhiên trụ vững các thế: Thái Sơn áp đỉnh, Độc cước phi thân…

Những năm trên Chiến khu Việt Bắc, sáng, tối, sau bài tập thể dục, Bác vẫn luyện các bài quyền, và động viên, hướng dẫn cả các vị bộ, thứ trưởng cùng tập. Khó có ai không tập theo lời Bác.

Năm 1955, trong Phủ Chủ tịch

Ở Hà Nội điều kiện đã tốt hơn nhưng tuổi Bác đã 65. Trung ương đề nghị Bác, mời một chuyên gia Trung Quốc sang hướng dẫn môn tập hiện đại, phù hợp.

Vậy là tối tối, 8 giờ, trong Phủ Chủ tịch, trên bãi cỏ khuất sau vườn cây, Giáo sư Cố Lưu Hinh từ ngoài phố Phan Đình Phùng đi vào đã thấy có mặt Bác. Người trong bộ đồ lụa nâu đứng chắp tay chào sư phụ đúng luật nhà võ.

Bác học rất nhanh, chỉ nhìn thầy hướng dẫn một lượt là tập theo chuẩn xác. Cố giáo sư hết lời khen ngợi: Hiếm thấy!, Hiếm thấy!…

Hôm chia tay sư phụ, Bác mời cơm cảm tạ. Trước khi vào bữa, Bác chủ động đề nghị được “biểu diễn thu hoạch” đợt học để sư phụ phê bình. Giáo sư cúi đầu, chắp tay: Không dám! Không dám! Chỉ xin Chủ tịch, nếu được, cho xem bài Thái cực quyền do chính Người tự biên cho phù hợp với mình.

Bác đi bài quyền nhẹ nhàng, uyển chuyển hết sức điêu luyện. Khi vào thế kết thúc thu thân vái chào, vị giáo sư vội đứng lên chắp tay: Hấn hảo! Chuẩy hảo! Chinh phục Chủ xị! (Rất tốt! Cực tốt! Kính phục Chủ tịch!)…

Ông Vũ Kỳ cho biết, khi làm bất cứ việc gì, dù nhỏ hay lớn, Bác đều có kế hoạch và chủ trương 1- biện pháp 10. Như tập võ, Bác luôn nhớ các động tác rồi vẽ ra, dán lên chỗ dễ thấy, càng thuộc nhanh và nhớ lâu.

Ông còn “tiết lộ”: Chỉ các vị công phụ tập luyện các môn pháp ở trình độ cao mới biết các thế võ điêu luyện thể hiện cái thần của từng tư thế chính là sự nhuần nhuyễn của pháp thiền động trong bất kỳ trường phái dưỡng sinh hay võ thuật nào mà Bác Hồ đã đạt tới trình độ đó do Người kiên trì rèn tập lâu năm phối hợp giữa luyện Khí – Tâm – Hình – Thở theo thuyết lý Thiên Địa Nhân nhất thể của phương Đông.

Vì vậy, Bác mới được tổ chức Khoa học Giáo dục và Văn hóa thế giới UNESCO tôn vinh là Nhà văn hóa kiệt xuất của nhân loại – một vĩ nhân uyên thâm văn hóa Đông Tây kim cổ./.



Lịch sử cách mạng Việt Nam hiện đại đã khẳng định con đường dân chủ mà Bác lựa chọn cho dân tộc ta từ những năm 20 của thế kỷ trước là đúng đắn. Mô hình dân chủ do Bác Hồ và Đảng ta thiết kế đã từng bước tỏ rõ sức sống và triển vọng phát triển của nó trên Tổ quốc thân yêu của chúng ta, nhất là trong 25 năm đổi mới. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là con đường thuận lòng dân, hợp thời đại và đúng quy luật phát triển của lịch sử nhân loại nói chung và lịch sử dân chủ nói riêng.

1. Sức hấp dẫn của những giá trị dân chủ tư sản…

Đau xót chứng kiến nỗi thống khổ, cảnh lầm than của nhân dân dưới ách thống trị của thực dân Pháp, cũng như nhiều sĩ phu và thanh niên trí thức yêu nước lúc bấy giờ, Nguyễn Tất Thành đã sớm có ý chí đuổi Pháp, giải phóng đồng bào. Rất khâm phục các sĩ phu dũng cảm tìm đường đấu tranh cứu dân, cứu nước nhưng người thanh niên Nguyễn Tất Thành cũng sớm nhận ra những hạn chế trong con đường của các vị ấy… Cụ Phan Chu Trinh yêu cầu thực dân Pháp thực hiện cải lương, việc này “chẳng khác nào xin giặc rủ lòng thương”. Cụ Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp ta đuổi Pháp cũng chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”. Cụ Hoàng Hoa Thám thực tế hơn, đã trực tiếp đấu tranh chống Pháp, nhưng còn nặng cốt cách phong kiến(1), mà con đường theo lập trường phong kiến thì đã hết thời…

Vào tuổi mười ba, nhận thấy sức hấp dẫn của những từ Tự do, Bình đẳng, Bác ái… mà người Pháp đã tuyên truyền, Người muốn tìm hiểu xem cái gì ẩn dấu đằng sau những từ ngữ mỹ miều ấy… Sức hấp dẫn của các giá trị văn minh dân chủ phương Tây đã khiến không ít người nghĩ rằng Anh có thể giúp ta, có người lại cho rằng có thể cậy nhờ nước Mỹ… Nguyễn Tất Thành thấy, cần phải ra nước ngoài xem cho rõ. Người đã nung nấu ý chí ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác làm ăn ra sao, nhất là xem họ “tổ chức và cai trị như thế nào”(2) rồi sẽ về giúp dân, giúp nước. Độc lập cho Tổ quốc, tự do, dân chủ và hạnh phúc cho nhân dân, đó là mục đích, “ham muốn tột bậc” của Người. Với mục đích và ý chí đó, Người đã rời Sài Gòn đi ra nước ngoài vào ngày 5 tháng 6 năm 1911. Như vậy, sức hấp dẫn trong buổi đầu tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành không phải lá cờ của Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu… mà chính là lá cờ cách mạng dân chủ tư sản ở phương Tây.

2. Dân chủ tư sản, từ những điều mắt thấy…

Nguyễn Tất Thành đã đi nhiều nước, đến nhiều nơi, tiếp xúc nhiều nền văn hóa, chính trị và đã dần hiểu rõ thực chất của nền văn minh tư sản, nền dân chủ tư sản dưới các hình thức khác nhau của nó. Đến Pháp, Người nhận thấy, hóa ra cũng có những người Pháp tốt và ở Pháp cũng có những người nghèo như ở Việt Nam. Người Pháp ở Pháp tốt và lễ phép hơn người Pháp ở Đông Dương. Ở Pháp, những sinh hoạt dân chủ như lập hội, mít-tinh, tranh luận trong các hội thảo, các câu lạc bộ chính trị, nghệ thuật… là chuyện của các gia đình, của đàn ông, phụ nữ, người trẻ, người già, nhưng những ai dám vạch tội ác của thực dân, dám đấu tranh cho quyền độc lập dân tộc, thì sẽ bị cảnh sát mua chuộc, dụ dỗ, dọa dẫm và cấm đoán. Đến các thuộc địa của Pháp, Người thấy rằng, những người Pháp thực dân thì rất hung ác và vô nhân đạo. Người thấy nhiều người Pháp hết sức căm phẫn và thấy nhục nhã khi biết những tội ác của thực dân Pháp ở các thuộc địa. Người nhận ra rằng, trong cuộc chiến đấu để giải phóng đồng bào, giành độc lập cho Tổ quốc, chúng ta không cô độc, bên cạnh chúng ta còn có những người bạn Pháp dân chủ, chân chính… Đến Mỹ, quê hương của bản Tuyên ngôn độc lập nổi tiếng, thăm tượng nữ thần tự do, Nguyễn Tất Thành đã viết: “Ánh sáng trên đầu thần Tự Do tỏa rộng khắp trời xanh, còn dưới chân Tượng thần Tự Do thì người da đen đang bị chà đạp. Bao giờ người da đen được bình đẳng với người da trắng? Bao giờ có sự bình đẳng giữa các dân tộc? Và bao giờ người phụ nữ được bình đẳng với nam giới?”(3). Đến Ý, Thụy Sỹ, Người thấy Thụy Sỹ là một nước nhỏ, đường phố sạch sẽ, nhân dân có trình độ văn hóa khá cao; nước Ý có nhiều thành phố đẹp, nhiều lâu đài nguy nga, nhưng ở đây người thường dân thì cực khổ vì giá sinh hoạt đắt đỏ và thuế khóa nặng nề. Nói chung, ở các nước tư sản, ở trong nền dân chủ tư sản, tầng lớp trên sống một đời hết sức xa hoa và nhân dân thì sống một đời nheo nhóc(4)…

Vậy là, từ ách thống trị dã man, tàn bạo của thực dân Pháp ở Đông Dương, từ nỗi thống khổ của đồng bào, từ những điều tận mắt trông thấy mà đau lòng ở những thuộc địa, nơi Người đã đặt chân tới, cũng như nếm trải, thấm thía những sự thật ở Pháp và các nước tư bản khác, Nguyễn Tất Thành đã phát hiện ra những mặt trái của nền dân chủ và văn minh phương Tây. Sau sự kiện yêu sách 8 điểm gửi Hội nghị Véc-xây đòi những điều sơ giản nhất về dân chủ cho nhân dân Việt Nam của Người bị chính những kẻ nhân danh dân chủ từ chối thì những nhận xét của Người đối với nền dân chủ tư sản càng rõ rệt hơn. Người nhận rõ thực chất của nền dân chủ tư sản là “dùng chữ tự do, bình đẳng, đồng bào để lừa dân, xúi dân đánh đổ phong kiến. Khi đánh đổ phong kiến rồi thì nó lại thay phong kiến mà áp bức dân”, “tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”(5).

Nghiên cứu lịch sử cách mạng và “cách cai trị” của nhiều nước phương Tây, nhất là của nước Pháp, nước Mỹ, nước Anh, Nguyễn Ái Quốc đã nhận rõ sự “không đến nơi” của cách mạng tư sản, “sự giả dối” của các tuyên ngôn dân chủ, nhân quyền tư sản. Cho dù, cách mạng tư sản, “cách cai trị” của tư sản, nhất là cách mạng Pháp và cách mạng Mỹ có ý nghĩa nhất định đối với cách mạng Việt Nam nhưng con đường ấy, mẫu hình ấy không thể đem lại độc lập thật sự cho dân tộc và tự do, dân chủ, hạnh phúc thật sự cho dân chúng số nhiều. Vì thế, Nguyễn Ái Quốc chính thức đoạn tuyệt với học thuyết dân chủ tư sản, từ chối nền dân chủ tư sản dưới các hình thức của nó. Người chỉ rõ, cách mạng Mỹ và cách mạng Pháp đã dạy chúng ta rằng, làm cách mạng thì không nên sợ phải hy sinh, và đã hy sinh làm cách mạng thì nên làm cách mạng cho “đến nơi”, nghĩa là làm cách mệnh rồi thì chớ để chính quyền trong tay số ít, chính quyền phải thuộc về dân chúng số đông.

3. V.I.Lênin và con đường giải phóng …

Đứng trong hàng ngũ đấu tranh của công nhân Pháp, dưới ảnh hưởng mạnh mẽ của Cách mạng Tháng Mười, Nguyễn Ái Quốc tham gia Đảng Xã hội Pháp và tham gia các hoạt động công nhân ủng hộ nước Nga Xô-viết. Lúc đầu, “về cảm tính” Người thấy mình có mối tình đoàn kết với cuộc cách mạng Nga và người lãnh đạo cuộc cách mạng ấy, nhưng Người biết rất ít về V.I.Lênin và Cách mạng Tháng Mười. Tháng 7-1920, Người đọc Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I.Lênin. Trong văn kiện này, V.I.Lênin phê phán mọi luận điểm sai lầm của những người cầm đầu Quốc tế II về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, lên án mạnh mẽ tư tưởng sô vanh, tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ích kỷ, đồng thời nhấn mạnh nhiệm vụ của các Đảng Cộng sản là phải giúp đỡ thật sự phong trào cách mạng của các nước thuộc địa và phụ thuộc, nhấn mạnh sự đoàn kết giữa giai cấp vô sản các nước tư bản với quần chúng cần lao của tất cả các dân tộc để chống kẻ thù chung là đế quốc và phong kiến.

Tác phẩm của V.I.Lênin đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc con đường giành độc lập cho dân tộc và tự do thật sự cho đồng bào. Sau này, khi kể lại sự kiện quan trọng đó, Người đã nói: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”(6). Như một lẽ tự nhiên, rất đơn giản và rõ ràng, sau khi đọc Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I.Lênin, Người đã bỏ phiếu tán thành Quốc tế III, tin theo V.I.Lênin và quyết định lựa chọn con đường Cách mạng Tháng Mười. Thời điểm đánh dấu bước ngoặt quan trọng này là tháng 12 năm 1920. Từ đây, Nguyễn Ái Quốc trở thành người cộng sản, một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và Nguyễn Ái Quốc đồng thời cũng là người cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Vậy là, từ hành trình khảo sát, nghiên cứu thực tiễn chính trị và lý luận hằng chục năm ở nhiều nước, Nguyễn Ái Quốc đã đi đến kết luận dứt khoát. “Cách mạng có nhiều thứ”, “chủ nghĩa”, “học thuyết” cũng có nhiều nhưng chỉ có Cách mạng Tháng Mười Nga là thành công “đến nơi” và Chủ nghĩa Mác-Lênin là “chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất”(7).

Vậy là, trong thời đại ngày nay, muốn cứu nước, giải phóng dân tộc, muốn nước độc lập, dân được tự do, ấm no, hạnh phúc không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản. Muốn có dân chủ hoàn bị, triệt để thì Tổ quốc phải độc lập và phải tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đất nước không có độc lập, thống nhất thì mọi thứ dân chủ chỉ là giả dối, chỉ là trò bịp bợm. Nước được độc lập mà nhân dân không được hưởng ấm no, tự do, hạnh phúc, sung sướng thì độc lập ấy không có ý nghĩa gì. Chỉ có con đường cách mạng vô sản, chỉ có chủ nghĩa xã hội mới có thể đem lại ấm no, tự do, hạnh phúc thật sự, dân chủ thật sự, dân chủ rộng rãi, dân chủ đến nơi. Nhưng để đi đến mục tiêu ấy thì mỗi nước tùy theo điều kiện của mình mà có thể có những bước đi khác nhau. Người khẳng định, “tính chất thuộc địa và phong kiến của xã hội cũ Việt Nam khiến cách mạng Việt Nam phải chia làm hai bước. Bước thứ nhất là đánh đổ đế quốc, đánh đổ phong kiến, thực hiện “người cày có ruộng”, xây dựng chính trị và kinh tế dân chủ mới… Bước thứ hai là tiến lên chủ nghĩa xã hội, tức là giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản”(8).

4. Nền dân chủ vô sản non trẻ đầy sức sống ở Nga…

Được Luận cương của V.I.Lênin soi sáng, Nguyễn Ái Quốc tích cực hoạt động truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin về nước, chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của chính đảng cách mạng ở Việt Nam. Người tích cực nghiên cứu xây dựng đường lối cách mạng và từng bước phác thảo về một chế độ dân chủ ở Việt Nam sau khi cách mạng thắng lợi.

Nước Nga đã làm cách mang thành công, nước Nga được nhiều người yêu nhưng cũng nhiều kẻ ghét. Có kẻ cho nước Nga là địa ngục, có người bảo nước Nga là một thiên đường. Cuối năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đến Nga hoạt động trong Quốc tế Cộng sản và trực tiếp quan sát, nghiên cứu việc xây dựng nền dân chủ mới – dân chủ vô sản. Không gặp được V.I.Lênin, V.I.Lênin đã mất, nhưng Nguyễn Ái Quốc nhận thấy nhân dân và đất nước Nga đã hồi sinh. Nước Nga là một đất nước đang xây dựng có nhiều ưu điểm nhưng chưa kịp sửa chữa hết những khuyết điểm. Nước Nga còn thiếu thốn mọi thứ, vết thương chiến tranh còn nhiều nhưng những vết thương đang được hàn gắn nhanh chóng và khắp nơi nhân dân phấn khởi, hăng hái làm việc. Do đó, đối với Người, nước Nga chưa phải là thiên đường nhưng nhất định không phải là địa ngục!

Ở đất nước của V.I.Lênin, Nguyễn Ái Quốc không chỉ nghiên cứu lịch sử cách mạng, con đường, phương pháp và những kinh nghiệm cách mạng trong giai đoạn “giành chính quyền” mà Người còn rất chú ý tìm hiểu cách thức, kinh nghiệm tổ chức xây dựng chế độ dân chủ mới. Người nhận thấy, ở nước Nga mọi người đều ra sức học tập, nghiên cứu để tiến bộ. Chính phủ giúp đỡ, khuyến khích nhân dân học tập. Ruộng đất thuộc sở hữu Nhà nước nhưng thực tế do nông dân sử dụng. Mọi người làm chung và phân phối theo lao động. Những người ốm đau được chăm sóc không mất tiền. Trẻ em, phụ nữ được Nhà nước, xã hội, nhà máy chăm sóc chu đáo. Trẻ em được ưu ái trong nuôi dưỡng, học hành. Những gì tốt nhất đều để dành cho trẻ em… Do đó, nếu nước Nga chưa phải là thiên đường cho tất cả mọi người thì nước Nga đã là một thiên đường cho trẻ em(9)… Đó là kết quả vận dụng lý thuyết dân chủ xã hội chủ nghĩa vào điều kiện nước Nga. Đó là những ưu việt của một nền dân chủ mới dưới ánh sáng khoa học của học thuyết dân chủ cách mạng Mác-Lênin. Dân chủ đã trở thành hiện thực sinh động, nhân dân Nga đã sáng tạo nên một nền dân chủ mới đầy sức sống và bước đầu thụ hưởng những giá trị dân chủ đích thực của chính mình. Những thành công “đến nơi” của cách mạng Nga, những ưu việt thực chất của nền dân chủ mới ở Nga đã trở thành mẫu hình quan trọng đầy tính gợi mở để Nguyễn Ái Quốc từng bước xây dựng mô hình dân chủ cho cách mạng Việt Nam.

5. Thiết kế mô hình và nguyên tắc vận hành của nền dân chủ ở Việt Nam…

Thiết kế xây dựng mô hình và nguyên tắc vận hành của nền dân chủ mới là một trong những vấn đề cơ bản của cách mạng nên đây cũng là một quan tâm lớn đặc biệt của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Điều này đã được Bác thể hiện trong rất nhiều bài viết, bài nói, trong các giai đoạn khác nhau, trong các văn kiện chính thức của Đảng, Nhà nước cũng như trong những chỉ đạo thực tiễn, khi Bác ở nước ngoài cũng như khi Người về nước, trong quá trình vận động chuẩn bị thành lập Đảng, chuẩn bị giành chính quyền cũng như trong quá trình xây dựng, vận hành chính quyền mới, nền dân chủ mới. Theo Bác, nền dân chủ ở nước ta cần phải được xây dựng trên những nội dung cơ bản sau:

– Cơ sở lý luận, nền tảng tư tưởng của nền dân chủ: Chủ nghĩa Mác-Lênin, vì đây là “chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất”.

– Mục tiêu của nền dân chủ: Nước được độc lập, nhân dân được hưởng ấm no, tự do, hạnh phúc, sung sướng. Ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, ốm đau có thuốc… “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”(10).

– Mô hình dân chủ cộng hòa, trong đó,

+ Nhân dân là chủ thể mọi quyền lực. Theo Hồ Chí Minh, dân chủ nghĩa là “dân là chủ”(11), “dân làm chủ”(12), “quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Nền dân chủ xây dựng ở Việt Nam là nền dân chủ “tất cả mọi quyền lực đều là của nhân dân”. Hồ Chí Minh viết: Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến chính phủ do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(13). Dân và nhân dân ở đây được hiểu với nội dung rất cụ thể và rộng lớn: gồm cả cộng đồng người, nhân dân, đồng bào, quần chúng nhân dân, công nhân, nông dân, trí thức, phụ nữ, thanh thiếu niên, thiếu nhi, học sinh, sinh viên, các bậc phụ lão, đồng bào các dân tộc, tôn giáo, kiều bào ta ở nước ngoài. Những bọn tay sai cho đế quốc, thực dân, bọn phản bội lợi ích của Tổ quốc thì không thuộc nhân dân, đó là bọn phản nhân dân.

+ Nền dân chủ toàn diện, cụ thể, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nền dân chủ phải là: Về chính trị, “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”(14); xây dựng Nhà nước dân chủ pháp quyền của dân, do dân, vì dân; xây dựng Đảng và các tổ chức chính trị xã hội trong sạch, vững mạnh, bảo đảm quyền làm chủ của nhân  dân. Về kinh tế, xuất phát từ “chỗ bắt đầu đi của chúng ta” là “nước nông nghiệp lạc hậu”, nên dân chủ trên lĩnh vực kinh tế cần: tôn trọng, bảo đảm phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu, “công tư đều được chiếu cố, chủ và thợ đều có lợi”(15); trong đó, “kinh tế quốc doanh lãnh đạo nền kinh tế quốc dân và Nhà nước phải bảo đảm cho nó phát triển ưu tiên để tạo nền tảng vật chất cho chủ nghĩa xã hội và thúc đẩy việc cải tạo xã hội chủ nghĩa”(16); dưới các hình thức, người lao động làm chủ tư liệu sản xuất, làm chủ trong quản lý kinh tế, làm chủ việc phân phối sản phẩm lao động”(17), “làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng – những người già yếu, tàn tật sẽ được nhà nước giúp đỡ chăm nom”. Về văn hóa – xã hội, xây dựng một nền văn hóa “dân tộc, khoa học, đại chúng”, mọi người Việt Nam đều hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, có kiến thức để xây dựng đất nước; xây dựng đời sống mới trên tất cả các lĩnh vực trong cả nước đến hoạt động sống hằng ngày ở gia đình và cộng đồng dân cư; xây dựng đạo đức công dân, yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học và bảo vệ của công…

– Nguyên tắc xây dựng và hoạt động của nền dân chủ:

+ “Đảng lãnh đạo… công nông liên minh, nhân dân lao động làm chủ nước nhà, xây dựng nhân dân dân chủ chuyên chính…”(18), nghĩa là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Nhà nước, đoàn thể đối với dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại đến dân phải hết sức tránh. Dựa vào dân, đem tài dân, sức dân để làm lợi cho dân, mưu cầu hạnh phúc cho dân. Nhân dân đối với đoàn thể và Chính phủ của mình thì phải giúp đỡ, theo đúng kỷ luật, làm đúng chính sách, đôn đốc, kiểm soát, phê bình để Chính phủ và đoàn thể làm tròn phận sự mà nhân dân giao phó.

+ Để có dân chủ thật sự, “tư tưởng phải được tự do”.  Tự do tư tưởng là, “đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý”, “khi tìm ra chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý”. Và cần lưu ý rằng, “chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân”, “ra sức phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, tức là phục tùng chân lý”(19).

+ “Chế độ ta là chế độ dân chủ nhân dân; chúng ta cần mở rộng dân chủ đối với nhân dân, đồng thời cần tăng cường chuyên chính với kẻ địch của nhân dân. Có tăng cường chuyên chính với kẻ địch thì mới bảo vệ được tự do và dân chủ của nhân dân ta”(20).

+ “Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân”, để xây dựng nền dân chủ thì phải phát huy dân chủ, thực hành dân chủ rộng rãi. Dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực của phát triển. “Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được đông đảo lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên”(21). “Thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”(22). Trong đó, trước hết cần đặc biệt chú ý thực hành dân chủ, phát huy dân chủ trong Đảng và dân chủ ở cơ sở, ở nông thôn…

Tóm lại, với Bác Hồ, yêu nước gắn với yêu thương và kính trọng nhân dân. Ngày 5-6-1911, rời Tổ quốc đi ra nước ngoài, với Người, mục đích rất cụ thể: tìm đường cứu nước, cứu dân, tìm kiếm con đường để nước được độc lập, dân được tự do, ấm no, hạnh phúc, sung sướng. Đây là mục đích và cũng là “tiêu chí” để Người tìm kiếm, khảo sát, phân tích, đánh giá các lý thuyết giải phóng, các chế độ chính trị, các cuộc cách mạng, các nền dân chủ trên thế giới. Nghiên cứu lịch sử cách mạng và “cách cai trị”của nhiều nước trên thế giới, Bác nhận rõ cách mạng tư sản là “không đến nơi”. Trong thế giới bấy giờ chỉ có cách mạng Nga do đảng của V.I.Lênin lãnh đạo là thành công “đến nơi”. Do đó, để đi tới độc lập cho Tổ quốc, ấm no, tự do và hạnh phúc cho đồng bào, cách mạng Việt Nam phải đi theo con đường Chủ nghĩa Mác-Lênin và tấm gương Cách mạng Tháng Mười. Đó là con đường xây dựng, phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, con đường độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội.

Lịch sử cách mạng Việt Nam hiện đại đã khẳng định con đường dân chủ mà Bác chính thức lựa chọn cho dân tộc ta từ những năm 20 của thế kỷ trước là đúng đắn. Mô hình dân chủ do Bác Hồ và Đảng ta thiết kế đã từng bước tỏ rõ sức sống và triển vọng phát triển của nó trên Tổ quốc thân yêu của chúng ta, nhất là trong 25 năm đổi mới. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là con đường thuận lòng dân, hợp thời đại và đúng quy luật phát triển của lịch sử nhân loại nói chung và lịch sử dân chủ nói riêng.

Chính vì vậy, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực…”(23). Đảng ta coi đây vừa là mục tiêu, động lực, vừa là con đường, giải pháp cơ bản để từng bước thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đây là sự tiếp tục con đường dân chủ theo Tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới.
————–


Là người lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, mặc dù bận trăm công, nghìn việc, nhưng từ trong sâu thẳm trái tim mình, Bác Hồ vẫn dành tình cảm sâu nặng đối với tỉnh nhà Nghệ An.

Sau hàng chục năm xa cách, ngày 14/6/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm quê hương. Người xúc động nói: “Quê hương nghĩa trọng tình cao/Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình”.

Nghe tin Bác về thăm quê, không riêng dân làng Sen quê nội, Hoàng Trù quê ngoại mà nhân dân huyện Nam Đàn nói riêng, tỉnh Nghệ An nói chung đều náo nức mong chờ.

Gặp lại đồng bào quê hương, nét mặt Bác rất xúc động, Người bắt tay, vẫy chào bà con. Vẫn giữ cho mình giọng Nghệ nằng nặng, trầm ấm, vang vọng, Bác trải lòng với nhân dân quê nhà: “Người ta về thăm quê thì mừng mừng tủi tủi. Tôi về thăm quê thì chỉ thấy mừng mừng!”, “Là vì: bây giờ nước ta được độc lập tự do, nhân dân được sống cuộc sống hạnh phúc, ai cũng có cơm ăn áo mặc, các cháu được học hành”.

Về thăm quê, Người không quên lối đi nhỏ vào nhà ngày xưa, cây bưởi trước nhà, cây mít, hàng cau phía sau, chiếc võng tuổi thơ, chiếc rương gỗ nhỏ, khung cửi của mẹ, chiếc phản gỗ và mấy pho sách của cha, những câu chuyện kể của bà…

Ở những nơi Bác đến thăm, Bác khen ngợi những thành tích mà nhân dân quê nhà đã đạt được và nhắc nhở đồng bào và cán bộ phải ra sức phát triển nông nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp, các ngành nghề khác.

Nói chuyện với Hội nghị cán bộ toàn tỉnh Nghệ An, Người lưu ý, tỉnh nhà phải “cần, kiệm, liêm, chính”, thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm; phải đoàn kết chặt chẽ hơn nữa. Người nêu rõ: Tiền đồ của mỗi người, nhất là người cách mạng, là nằm trong tiền đồ của dân tộc, nằm trong tiền đồ của giai cấp, không thể tách riêng được. Nhiệm vụ chúng ta phải ra sức củng cố chính quyền nhân dân và củng cố những tổ chức của nhân dân ở các địa phương và quan tâm đến đời sống của nhân dân.

Người mong muốn Nghệ An chuyển biến tốt về mọi mặt, nhất là chính trị và kinh tế. Người khẳng định: “Tỉnh Nghệ An có truyền thống cách mạng. Vậy các cô các chú có quyết tâm làm cho tỉnh Nghệ An thành một tỉnh gương mẫu không? Quyết tâm không? Làm được không? – Được! Rất tốt. Cuối cùng Bác nhờ các cô các chú về địa phương chuyển lời Bác hỏi thăm đảng viên, cán bộ và đồng bào địa phương”.

Bốn năm sau, ngày 8/12/1961, Bác Hồ về thăm quê lần thứ hai. Đây là chuyến thăm mà Người đã hứa với Đảng bộ và nhân dân quê nhà trong chuyến thăm lần thứ nhất là: nếu Đảng bộ và nhân dân làm tốt khâu sản xuất và xây dựng Đảng thì Bác sẽ về thăm lần nữa.

Buổi chiều, sau khi làm việc với Ban Chấp hành Tỉnh uỷ, Bác đến thăm nhà ăn tập thể của cơ quan. Bác nâng từng chiếc lồng bàn lên để thấy lượng và chất của mỗi khẩu phần. Sau đó các đồng chí lãnh đạo tỉnh mời Bác ăn cơm tối, Bác nhận lời. Bữa cơm thết Bác cũng chỉ có mấy món đơn giản. Khi mọi người đã ngồi vào bàn ăn, Bác bảo một cán bộ đi cùng mang gói cơm độn ngô đỏ ra. Cơm gói của Bác được chia đều cho mọi người cùng ăn vui vẻ, ngon lành.

Tấm lòng của Bác đối với Nghệ An thật là sâu nặng. Trước đây, do bận công việc nước nhà, chưa về thăm quê được, nhưng Người luôn viết thư thăm hỏi động viên tỉnh nhà, xã nhà. Khi các đồng chí lãnh đạo tỉnh, cán bộ ở quê ra Hà Nội công tác, nếu có điều kiện Bác đều gặp gỡ, ân cần hỏi thăm về quê hương. 28 bức thư, các bài viết, bài nói chuyện hay những bức điện của Bác gửi về cho quê nhà Nghệ An đã nói lên tấm lòng của Người đối với quê hương.

Trong bức thư cuối cùng ngày 21/7/1969 gửi Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhà Nghệ An, Bác đã căn dặn cán bộ, đảng viên cần khuyến khích nhân dân góp phần xây dựng Đảng, góp ý kiến về việc chọn người vào Đảng, tuyển chọn cán bộ lãnh đạo, để mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân ngày càng thêm mật thiết. Nghệ An cần tăng cường khôi phục và phát triển kinh tế; hết sức chăm lo đời sống nhân dân.

Cuối thư, Người viết: Nghệ An là một tỉnh rộng lớn, có tài nguyên phong phú, nhân dân cần cù lao động và rất cách mạng. Bác mong đồng bào và đồng chí tỉnh nhà ra sức phấn đấu làm cho Nghệ An mau trở thành một trong những tỉnh khá nhất miền Bắc.

Khắc ghi và thực hiện lời căn dặn của Người, sau gần 30 năm đổi mới, Nghệ An đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về phát triển kinh tế – xã hội. Đây cũng là một trong những địa phương tổ chức tốt và triển khai có hiệu quả thiết thực Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Hiện nay, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ An đang nỗ lực phấn đấu xây dựng Nghệ An thành một trong những tỉnh khá nhất như Bác hằng mong muốn.

Bác Hồ – Người đã dành trọn cuộc đời, tâm huyết của mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Người đã mãi đi xa, nhưng hình ảnh về một lãnh tụ vĩ đại, đáng kính, được nhân loại biết đến và kính nể thì mãi vĩnh hằng trong trái tim mỗi thế hệ người Việt Nam chúng ta và bạn bè quốc tế. Bác Hồ – một con người giản dị, nhưng toát lên linh hồn của cả một dân tộc.

Bác Hồ – Tên gọi thật thân thương

Thế hệ trẻ chúng ta không ai may mắn được gặp Bác Hồ, nói chuyện với Bác, nhưng hình ảnh về Bác thì thật gần gũi, gần gũi như chính những người ruột thịt, những người máu mủ của chúng ta vậy. Khi nhỏ, đến trường chúng ta biết đến Năm điều Bác Hồ dạy, vào Đội, lớn lên chúng ta phấn đấu được vào Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, rồi cao hơn nữa là được đứng trong hàng ngũ của Đảng. Bất cứ khi nào, thời điểm nào, tên gọi Bác Hồ, hình ảnh về một vị lãnh tụ, người đã mở đường cho chúng ta đi, vẫn mãi sát cánh bên chúng ta, dìu dắt, động viên và răn bảo chúng ta.

Một con người – Một cuộc đời – Một dân tộc

Nói đến Việt Nam, bè bạn quốc tế đều biết đến Chủ tịch Hồ Chí Mình, nói về Người bằng tình cảm tôn trọng và khâm phục. Từ lâu hình ảnh của Người trong con mắt họ đã là hình ảnh của một Việt Nam thu nhỏ – một dân tộc anh hùng, mà ở đó con người thật hiền hoà, chịu thương chịu khó trong lao động sản xuất, nhưng cũng vô cũng dũng cảm, kiên gan trong đấu tranh giành lại độc lập, tự do cho chính mình.

Biết về Bác, thăm quê Bác, thăm ngôi nhà Người đã từng sinh sống khi nhỏ, theo dấu chân bác trên suốt con đường hoạt động cách mạng qua các di tích, được nghe kể về Bác…chúng ta càng thấy kính nể Người hơn, và mới phần nào thấu hiểu tại sao cả dân tộc Việt Nam chúng ta coi Người như Cha, thờ ảnh Người ở những nơi trang trọng nhất và gọi Người bằng cái tên gần gũi nhất. Không ai có thể đếm được hết các vì sao trên bầu trời, bởi mỗi vì sao đó là hiện thân, là hiện hữu cho chính công lao, cho tình cảm mà Bác đã dành cho cả dân tộc Việt Nam chúng ta.

Cái giản dị trong phong cách sống của Bác đã tạo nên hình ảnh về một vị lãnh tụ rất đỗi gần gũi với dân. Giản dị thôi, nhưng không hề giản đơn, bởi bên trong chính một con người giản dị đó là một trí tuệ vĩ đại, một thiên tài về nghệ thuật quân sự, một nhà văn hoá có tầm nhìn rộng. Đó cũng là hiện thân của một dân tộc có sức mạnh tiềm tàng, bền bỉ và tự lực. Một vị lãnh tụ đáng kính với căn nhà ba gian (Nhà 58 – Khu Di tích Phủ Chủ tịch), hay sau đó là một ngôi nhà sàn đơn sơ. Nếu có ai đó được biết đến các giai thoại về mấy lần chuyển nhà của Bác trong Khu Di tích Phủ Chủ tịch thì còn có thể hiểu sâu sắc hơn nữa cái chất giản dị nơi Bác. Chính sự giản dị đó đã làm kinh ngạc bao vị khách cao cấp quốc tế, các nhà báo nước ngoài khi đến thăm nơi ở và làm việc của Bác. Ai đã từng vào thăm Phủ Chủ tịch và được thăm nơi Bác làm việc, tiếp khách, nghe giới thiệu về những ngày Bác làm việc nơi đây, thì còn kinh ngạc hơn về tấm lòng một lòng vì dân, vì nước của Bác. Thăm căn nhà 67, không ai không thấy bùi ngùi thương Bác. Thương Bác bởi Bác không còn với chúng ta nữa, thương Bác bởi Bác không thể được hưởng trọn niềm vui toàn thắng của dân tộc. Càng thương Bác ta càng thấy tôn trọng Bác hơn, yêu Bác hơn, tự hào về Bác hơn, tự hào về dân tộc Việt Nam của chúng ta hơn.

Cuộc đời hoạt động cách mạng, hiến dâng đời mình cho lý tưởng cách mạng đã phác hoạ cả một giai đoạn lịch sử của một dân tộc từ bùn đen nô lệ vùng lên giành lại tự do, làm gương sáng cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Người là kết tinh của dân tộc, là đại diện tiêu biểu nhất cho một dân tộc, là người con, người cha của một dân tộc anh hùng, kiên trung.

Một con người – Muôn vàn tình yêu thương

Cả cuộc đời, Bác đã dành trọn tình yêu thương của mình cho đồng loại, cho dân tộc. Đó là một thứ tình cảm được thể hiện bằng chính những cử chỉ nhỏ nhất đến những hi sinh cao cả nhất: Bác sẵn sàng nhường miếng cơm ít ỏi của mình cho người khác, bớt lại từng hạt gạo giúp đồng bào qua cơn hoạn nạn, hi sinh cả tình cảm riêng tư của mình cho cách mạng, cho dân tộc. Đó là những tính cách đã đi vào bản chất của mỗi con người Việt Nam, được tôi luyên qua lửa đạn chiến tranh, qua gian nan đời thường. Nhưng ở Bác cái thứ tình cảm đó dường như có gì đó thiêng liêng hơn, trân trọng hơn, không bởi một lẽ Bác là lãnh tụ của chúng ta.

Người dành tình yêu thương, sự quan tâm đặc biệt của mình cho các em nhỏ, các cụ già, những người tàn tật. Đúng vậy, có ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh, và cũng chẳng có ai yêu Bác Hồ Chí Minh bằng các em nhi đồng. Sự quan tâm, chăm sóc của Bác không phải bột phát, nó cứ thường xuyên, tự nhiên như chính một thành tố cố hữu tạo nên tính cách một con người. Ở Bác có cả một biển cả tình yêu bao la không bao giờ cạn.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ dành tình yêu vô bờ bến của mình cho nhân loại, cho nhân dân, Người còn là một nhà thơ. Thơ của Bác có tình yêu thiên nhiên, nhưng phảng phất trong từng vần thơ đó là một tấm lòng luôn hướng về Tổ Quốc (khi xa), là một tinh thần thép, lạc quan vào thành công tất yếu của sự nghiệp cách mạng. Có ai ngắm một bông hoa nở cũng một dạ nghĩ về sự nghiệp giải phóng dân tộc? Có ai bị gông cổ, xích chân, lê bước trên đường dài mệt mỏi mà vẫn có thể hát ra được những câu thơ lạc quan, yêu đời? Phải có một tinh thần, phải có một ý chí, môt nghị lực và trên hết là phải có một tình yêu. Tình yêu đó dành cho ai, tất cả chúng ta đều biết.

Một con người – Một tư tưởng lớn

Chất giản dị trong bộ quần áo nâu, đôi dép cao su đã làm nên một anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới, một nhà tư tưởng lớn. Cả thế giới biết đến điều đó, và chúng ta thấy tự hào về điều đó. Sự vận dụng các lý luận cách mạng của Chủ nghĩa Mác-Lênin một cách linh hoạt, sáng tạo và thực tiễn cách mạng Việt Nam; sự khéo léo trong kết hợp sức mạnh các bộ phận dân tộc, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; sự khéo léo, có tầm nhìn xa trong giải quyết các mối quan hệ quốc tế, mối quan hệ với các nước láng giềng, hay với các nước XHCN anh em….tất cả những cái đó được hội tụ trong con người Hồ Chí Minh. Thực tế tuyên truyền, vận dụng và đúc kết các vấn đề về tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng ta lại lần nữa chứng minh chất vĩ đại trong con người Bác.

Bác Hồ – cái tên gọi thật đỗi thân thương, gần gũi. Bác Hồ – một tư tưởng lớn trong một con người giản dị. Bác Hồ – vị lãnh tụ của chúng ta, là kết tinh văn hoá của cả dận tộc Việt Nam. Bác Hồ – Người mãi mãi cùng chúng ta trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

Với chiến thắng Điện Biên Phủ và thắng lợi trên bàn đàm phán của Hiệp định Geneva, tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cái tên ghép Việt Nam – Hồ Chí Minh trở nên thân quen, được biết đến rộng rãi và quý trọng trên khắp thế giới…

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, ngày 8/5/1954, Hội nghị Geneva bắt đầu thảo luận vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương. Phái đoàn Chính phủ ta do Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn, bước vào bàn Hội nghị với tư thế của một dân tộc chiến thắng.

Khẳng định lập trường hòa bình

Ngay từ tháng 11/1953, trả lời phỏng vấn của báo Expressen (Thụy Điển) về tình hình chiến tranh Đông Dương và cuộc thảo luận Quốc hội Pháp muốn dàn xếp hòa bình với Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói rõ lập trường của Chính phủ ta: “Nếu Chính phủ Pháp đã rút được bài học trong cuộc chiến tranh mấy năm nay, muốn đi đến đình chiến ở Việt Nam bằng cách thương lượng và giải quyết vấn đề Việt Nam theo lối hòa bình thì nhân dân và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa sẵn sàng tiếp ý muốn đó… Cơ sở của đình chiến ở Việt Nam là Chính phủ Pháp thật thà tôn trọng nền độc lập thật sự của nước Việt Nam”.

Trả lời Thông tấn xã Việt Nam ngày 6/7/1954 về diễn biến của Hội nghị Geneva, Bác khẳng định: “Với những vấn đề được thảo luận, Hội nghị đã mở đường cho việc lập lại hoà bình ở Đông Dương. Trên cơ sở đó, nếu đối phương cũng thành thật muốn đàm phán như chúng ta mà cũng cố gắng để lập lại hoà bình ở Đông Dương, thì hoà bình Đông Dương có thể thực hiện. Theo đúng lập trường của ta từ trước đến nay, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ tiếp tục cố gắng đấu tranh cho hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ của Tổ quốc…”.

Sau 75 ngày đấu tranh ngoại giao kiên quyết và mềm dẻo, ngày 20/7/1954, Hiệp định Geneva về lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết. Các nước tham gia Hội nghị cam kết tôn trọng chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Văn bản của Hội nghị có đoạn ghi: Thừa nhận rằng mục đích căn bản của Hiệp định về Việt Nam là giải quyết vấn đề quân sự để đình chiến và giới tuyến quân sự chỉ có tính chất tạm thời. Việc thống nhất hai miền Nam – Bắc Việt Nam sẽ được thực hiện thông qua tổng tuyển cử toàn quốc vào tháng 7/1956.

“Không thể chia cắt Việt Nam”

Hai ngày sau khi Hội nghị Geneva được ký kết, ngày 22/7, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi: “Hội nghị Geneva đã kết thúc. Ngoại giao ta đã thắng to… Tôi kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các chiến sĩ và đồng bào đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc và gửi lời an ủi anh em thương binh bệnh binh…”.

Lời kêu gọi cam kết sẽ thực hiện những điều khoản của Hiệp định nhưng cũng nhấn mạnh “Trung Nam Bắc đều là bờ cõi của ta, nước ta nhất định sẽ thống nhất, đồng bào cả nước nhất định được giải phóng. Đồng bào miền Nam kháng chiến trước hết, giác ngộ rất cao. Tôi tin rằng đồng bào sẽ đặt lợi ích của cả nước trên lợi ích địa phương, lợi ích lâu dài trên lợi ích trước mắt…”.

Tinh thần ấy vẫn tiếp tục được Người khẳng định trong những lần trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài sau này. Ngày 13/7/1956, trả lời các câu hỏi của phóng viên Hãng AP (Mỹ) về cuộc tổng tuyển cử toàn quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định đanh thép: “Nhân dân cả nước Việt Nam sẽ đấu tranh mạnh hơn để cho có tổng tuyển cử tự do trong khắp cả nước. Đó là nguyện vọng tha thiết của toàn dân Việt Nam đã được Hiệp định Geneva1954 thừa nhận… Đất nước Việt Nam từ Bắc đến Nam là một khối, cần được thống nhất. Không thể chia cắt Việt Nam làm hai nước riêng biệt, cũng như không thể chia cắt Hoa Kỳ thành hai nước riêng biệt…”.

Ngày 23/7/1961, Bác tham dự cuộc mít tinh của 25 vạn nhân dân Thủ đô Hà Nội tại Quảng trường Ba Đình, nhân kỷ niệm 7 năm ký kết Hiệp định Geneva lập lại hoà bình ở Đông Dương. Phát biểu tại đây, Bác căn dặn: “Đoàn kết là sức mạnh, đồng bào cả nước đoàn kết, chúng ta đoàn kết với nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa, với nhân dân châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh và nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới, nhất định chúng ta sẽ thắng đế quốc Mỹ và bọn tay sai”. Sau đó, Bác bắt nhịp để mọi người hát bài ca “Kết đoàn”.

Ngày 20/7/1965, trong Lời kêu gọi nhân kỷ niệm 11 năm ký kết Hiệp định Geneva, Bác viết: “Dù phải chiến đấu 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn”.

Bài học “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”

Theo nhà ngoại giao lão thành Võ Văn Sung, chiến thắng của Hiệp định Geneva và Hiệp định Paris sau này là bài học về trường phái ngoại giao Hồ Chí Minh. Phân tích về bài học “dĩ bất biến, ứng vạn biến” được vận dụng trong Hiệp định Geneva, ông Sung cho rằng: “Trong Hiệp định Geneva, cái “bất biến” là Việt Nam độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đến Hiệp định Paris sau này. Còn “vạn biến” là trong lúc chưa thực hiện được mục tiêu đầy đủ, có thể nghĩ ra hàng vạn cách, kể cả để một nửa nước tạm thời chưa được giải phóng, rồi từng bước, từng bước tiến tới đạt được mục tiêu bất biến. Đó là một phương pháp ngoại giao, trong trường phái ngoại giao Hồ Chí Minh.”

“Tôi nghiên cứu nhiều tài liệu, nhưng không thấy có nước nào vừa đánh – vừa đàm như ở nước ta. Kết hợp quân sự – ngoại giao, lấy quả đấm quân sự đi đôi với đàm phán ngoại giao, vận động chính trường quốc tế, động viên nhân dân bạn bè trên thế giới, tất sẽ dẫn đến thắng lợi. Đó là nghệ thuật ngoại giao của Bác Hồ. Thành quả lịch sử trong cuộc đấu tranh lâu dài của nhân dân ta là một trận Điện Biên Phủ trên mặt đất đưa đến Hiệp định Geneva tại bàn đàm phán và một trận Điện Biên Phủ trên không đưa đến Hiệp định Paris. Tôi gọi đó là sự trùng hợp kỳ tác lịch sử, có một không hai trên thế giới, là thể hiện chói lọi của trường phái ngoại giao Hồ Chí Minh.”, ông Sung nhận định.

Với chiến thắng Điện Biên Phủ và thắng lợi trên bàn đàm phán của Hiệp định Geneva, tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cái tên ghép Việt Nam – Hồ Chí Minh trở nên thân quen, được biết đến rộng rãi và quý trọng trên khắp thế giới. Đúng như lời Giáo sư Mighen Đêtêphanô của Cuba đánh giá: “Với vũ khí của mình, Hồ Chí Minh đã là tác giả của thắng lợi đó… Và tên tuổi của Người đã được ghi vào những trang sử vẻ vang nhất”.

Cần trả +20,000vỏ sò để xem nội dung lời giải này

Chat chit và chém gió
  • theoofman1093: q 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: u 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: s 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: v 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: ư 5/8/2020 9:25:27 PM
  • theoofman1093: y 5/8/2020 9:25:27 PM
  • theoofman1093: z 5/8/2020 9:25:29 PM
  • theoofman1093: tui bây ngu như pò 5/8/2020 9:25:38 PM
  • theoofman1093: è 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: sd 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: f 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: sd 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: f 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: sg 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: s 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: h 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: s 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: sdg 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: gd 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: gd 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:56 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:56 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:56 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:59 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:59 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:59 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:02 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:02 PM
  • theoofman1093: ggg 5/8/2020 9:48:02 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:48:05 PM
  • theoofman1093: gd 5/8/2020 9:48:06 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:07 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: đ 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: đ 5/8/2020 9:48:10 PM
  • theoofman1093: dfgfg 5/8/2020 9:48:11 PM
  • vingoc: hi mn 11/13/2020 9:28:11 PM
  • vingoc: em mới vào ạ 11/13/2020 9:28:24 PM
  • vingoc: ở đây có ai lớp 7 ko ạ? 11/13/2020 9:29:13 PM
  • duolingo: 9 3/28/2021 11:19:10 AM
  • huongmaixm01: văn lớp 9 7/2/2021 11:26:56 AM
  • minhmama357: hi 8/13/2021 4:22:39 PM
  • minhmama357: 3 8/13/2021 4:22:50 PM
  • minhmama357: 3 8/13/2021 4:22:50 PM
  • minhmama357: 3 8/13/2021 4:22:50 PM
  • vipof95962: me may beo vai 11/20/2022 11:53:17 AM
  • vipof95962: wanna watch hentai 11/20/2022 11:53:47 AM
  • vipof95962: laughing 11/20/2022 11:53:49 AM
  • vipof95962: sex is good for you 11/20/2022 11:53:56 AM
  • kkkkkkkk: free fire 11/27/2022 3:22:24 PM
Đăng nhập để chém gió cùng mọi người
  • Đỗ Quang Chính
  • nguyenphuc423
  • Xusint
  • babylove_yourfriend_1996
  • watashitipho
  • thienthan_forever123
  • dangkhuong83
  • matanh_31121994
  • hatxihoiolala2000
  • thienhaxanh9898
  • quangtung237
  • vi_meo_2000
  • quybalamcam
  • milk_cake98
  • Phạm Anh Tuấn
  • ductoan933
  • nhile123456
  • tieuanngan
  • hoathuytien287_yt
  • hoanghuy321974
  • heocon97_cute
  • woodknight22
  • phmtho68
  • tuanhieu1997
  • trinhminhduc1998
  • nguyenducthien0197
  • babyhe0vip
  • nguyentranganh26
  • Dân Nguyễn
  • giapvancanhlls
  • Love_Chishikitori
  • sweetmilk1412
  • truongtram841
  • buiphuongok
  • judy
  • parkji99999
  • tranthiquyngoc96
  • thanhhai.dh.91
  • ckipcoi25
  • pupupun96
  • chjpchjp_xink_kut3
  • taolan96
  • sanghd099
  • phuongthanh320
  • trunghieu767
  • traitimbagza
  • lamtranghi
  • huongduong2603
  • ngondoisank
  • phuongsmile319
  • pelinh_ngocnghech_kute
  • thuylinhldb.1997
  • janiafwfg
  • huyhieu10.11.1999
  • quynhpro12351
  • pethanh01101999
  • mikako303
  • Thiên Trần
  • thuydung27689
  • oanhkaly.a9.
  • phuonganhuh
  • Vũ Lệ Quyên
  • kudo_ran19
  • phamnhung0007
  • Confusion
  • vuhoainam1412
  • Yêu Tatoo
  • oanhsu
  • Thanhtuyen
  • Duy
  • Lê Giang
  • nhan7385
  • Trần Lan Trang
  • kwonleaderkid1412
  • Đức Vỹ
  • Mình rất yêu Toán
  • Linh Lê Thùy
  • tuanhuong
  • trantrinh8a1
  • nthuthao1010
  • ngaandely
  • nguyennhung9904
  • duolingo
  • duolingo