- Vị ngữ: Là một trong hai nòng cốt câu (C-V), nó thường đứng sau chủ
ngữ và giữ nhiệm vụ làm rõ tính chất, hoạt động của chủ ngữ. Nó có thể
là một từ, một ngữ hay là một cụm chủ vị và nó trả lời cho câu hỏi "Ra
sao?", "Như thế nào?","Làm gì?"...
Ví dụ:
Câu "Tôi ăn cơm." thì Chủ ngữ là "tôi" và Vị ngữ là "ăn cơm".
Ta đặt câu hỏi để tìm vị ngữ là: Tôi làm gì? Trả lời "Tôi ăn cơm" thì "ăn cơm" là vị ngữ.
- Định ngữ: Là thành phần phụ trong câu tiếng Việt nó giữ nhiệm vụ bổ
nghĩa cho danh từ (cụm danh từ). Nó có thể là một từ, một ngữ hoặc một
cụm C-V.
Ví dụ:
Câu"Quyển sách anh tặng rất hay" thì "Quyển sách" là chủ ngữ, "rất hay"
là vị ngữ (có thể nói kỹ "hay" là vị ngữ và "rất" là bổ ngữ). "anh tặng"
là cụm C-V làm định ngữ bổ nghĩa cho danh từ "quyển sách" ("anh" là CN
và "tặng" là VN).